Trang chủ  /  TIN TỨC TIN ĐOÀN THỂ

 

NHƯ MỘT ĐẶC ÂN TRONG DỊP SINH HOẠT HÈ THIẾU NHI TẠI GX QUẢNG ĐÀ

         

     

         Hôm qua Chúa nhật ngày 28/7/2013 là ngày cuối khóa học cắm hoa sau gần 1 tháng thi đua nhau học. Lớp học đàn vẫn tranh thủ học trong suốt mùa hè.

 

 Suốt máy tuần nay, trên gian Cung Thánh Nhà thờ Giáo xứ Quảng Đà và  nhà nguyện  các Giáo Họ Antôn, Quảng Phú, Nâm nung, và Giáo họ Thánh Giuse  Giáo hạt Quảng Đức, Giáo phận Ban Mê Thuột luôn có những bình hoa, gỏi hoa rực rỡ đủ sắc màu, sắc thái và những tiếng đàn chập chững từ nhà sinh hoạt do các em học viên sinh hoạt hè thực tập.

Lớp cắm hoa trong phụng vụ có 30 em được thầy JB. Lê Văn Sĩ - cựu chủng sinh đại chủng viện  phụ trách. Thầy rất khiêm tốn khát khao phục vụ, muốn chia sẻ những hiểu biết trong khả năng của mình.

Thầy Sĩ nói: “Ở đây các em rất thích thú trong cắm hoa và rất nhiều em có năng khiếu. Nhưng hoàn cảnh Giáo xứ còn khó khăn nên những phong cách cắm và bó hoa để tặng chưa thể hiện được hết những trình độ nâng cao. Nhìn chung các Giáo họ đều cắm đạt, Tôi cũng vui mừng và hy vọng một ngày nào đó sẽ trở lại để thấy những thành quả tốt đẹp” .

Lớp học đàn trong phụng vụ có 26 em do các cô: Maria Nguyễn Thị Nhất Mai - cựu sinh viên. Mattha Nguyễn Thị Hương Quỳnh - sinh viên. Anna Nguyễn Thị Phụng Linh - sinh viên phụ trách. Đây là những học viên cũ của Giáo xứ  được Cha Quản xứ và Phó xứ khích lệ mở lớp học giúp cho Giáo xứ. Có nơi ăn chổ nghỉ cho các em để dễ bề học tập một ngày 3 buổi.

Cô Mai cho biết: “ Thời gian rảnh rỗi trong dịp hè này được sự khích lệ và sự lo lắng của các Cha nên cũng muốn phục vụ cho Giáo xứ và tạo điều kiện để trao đổi học hỏi lẫn nhau giữa cũ và mới. Vì nay mai các em cũ sẽ lên đại học nên phải đào tạo thêm”.

Giáo xứ Quảng Đà luôn tha thiết khiêm tốn đón nhận những tấm thịnh tình của những ân nhân và thiện nguyện viên  như một đặc ân Chúa đã ban cho Giáo xứ.  

 

 

                                                               GX Quảng Đà, ngày 29 tháng 7 năm 2013.

                                                                             JB. Nguyễn Chánh 

 

CHƯƠNG TRÌNH SINH HOẠT HỘI TÔNG ĐỒ

Tên gọi : HỘI TÔNG ĐỒ GIÁO DÂN

Bổn mạng : Thánh Phêrô ­ Phao lô, Ngày kính : 29-6

Thành phần: quý chức tân cựu + hội đoàn

ý lực sống ; " NGHỈ CHỨC KHÔNG NGHỈ VIỆC" Lm Ant NPH


A/ Tôn chỉ

I/ Ơn gọi tông đồ giáo dân:

  1. 1.Giáo dân tham dự vào sứ mạng của Giáo hội:

Giáo hội được khai sinh để làm cho nước Chúa Ki-tô rộng mở trên khắp hoàn cầu, hầu làm vinh danh Thiên Chúa Cha: tức là làm cho mọi người tham dự vào việc chuộc tội và cứu rỗi, để rồi nhờ họ, toàn thể vũ trụ thực sự được quy hướng về Chúa Ki-tô.

Trong giáo hội có nhiều tác vụ khác nhau nhưng đều chung một sứ mệnh…

Còn phần giáo dân, vì họ tham dự thực sự vào nhiệm vụ tư tế, tiên tri, vương đế của Chúa Ki-tô nên họ chu toàn phần việc của mình trong sứ mệnh của toàn dân.

Giáo dân thực sự thi hành việc tông đồ bằng công việc của mình để rao giảng phúc âm và thánh hóa nhân loại. Vì bản chất riêng biệt của người giáo dân là sống giữa đời và làm việc đời nên chính họ được Thiên Chúa mời gọi để một khi tràn đầy tinh thần Ki-tô giáo, họ làm việc tông đồ giữa đời như men trong bột.

  1. 2.Nền tảng của việc tông đồ giáo dân:

Giáo dân có bổn phận và quyền làm tông đồ do chính việc kết hợp với Chúa Ki-tô là đầu.

Việc tông đồ được thực thi nhờ đức tin, đức cậy, đức ái.

Để thể hiện việc tông đồ này, Chúa Thánh Thần thánh hóa qua tác và các bí tích. Ngài cũng ban cho các tín hữu những ơn được biết, phân phát những ơn đó cho  mọi người tùy ý Ngài.

Mỗi tín hữu có quyền lợi và bổn phận sử dụng những ơn đó trong Giáo Hội cũng như giữa trần gian để mưu ích cho mọi người và xây dựng Giáo Hội trong tự do của Chúa Thánh Thần.

  1. 3.Đường lối tu đức của người giáo dân hướng đến việc tông đồ:

Vì Chúa Ki-tô_ Đấng được Cha sai đến là nguồn mạch nguyên thủy của mọi việc tông đồ trong Giáo hội- đường lối kết hiệp mật thiết với Chúa Ki-tô trong Giáo hội được nuôi dưỡng bằng sự phù giúp thiêng liêng chung cho mọi tín hữu, nhất là bằng việc tích cực vào phụng vụ. Những việc trong gia đình cũng như việc ngoài xã hội không được tách rời khỏi động lực siêu nhiên của cuộc sống theo lời thánh Tông Đồ: “hết thảy công việc anh em làm trong lời nói hay việc làm, hãy nhân danh Chúa Giê-su Ki-tô mà thực hành, nhờ Người để cảm tạ Chúa Cha là Thiên Chúa”.

Chỉ nhờ ánh sáng đức tin và nhờ suy niệm lời Chúa mỗi người mới có thể nhận ra Chúa trong mọi nơi mọi lúc.

Vì yêu thương phát xuất từ Thiên Chúa thúc đẩy họ làm việc thiện cho hết mọi người,

Bắt chước Chúa Ki-tô khiêm hạ,….không hào danh nhưng chuyên lo làm đẹp lòng Thiên Chúa hơn là đẹp lòng người ta.

Nguyên lý đời sống thiêng liêng của mỗi người giáo dân phải mang sắc thái đặc biệt tùy theo bậc sống. Phải phát triển không ngừng những đức tính và tài năng ban cho mình, thích ứng với hoàn cảnh của mỗi đời sống, và biết lợi dụng những ơn huệ Chúa Thánh Thần ban riêng.

Ngoài ra, giáo dân theo ơn gọi của mình, gia nhập vào một trong những hiệp hội hay tu hội được Giáo hội nhìn nhận, họ cũng cố gắng trung thành thể hiện những đặc tính của đời sống thiêng liêng đó. Họ cũng nên kính trọng nghề nghiệp chuyên môn, ý nghĩa gia đình và ý nghĩa công dân cũng như những đức tính liên quan tới đời sống xã hội, chẳng hạn sự liêm khiết, tinh thần công bình, lòng thành thực, lòng nhân hậu, lòng quả cảm. Không có những đức tính đó, không thể có đời sống Ki-tô hữu đích thực.

Gương mẫu hoàn hảo của đời sống thiêng liêng và đời sống tông đồ ấy chính là Đức trinh nữ Maria, nữ vương các tông đồ. Mọi người hãy tôn sùng Mẹ và phó thác đời sống và cả việc tông đồ của mình cho Mẹ coi sóc.

B/ MỤC ĐÍCH

  1. I.Mục tiêu phải đạt tới:

Công trình cứu chuộc của Chúa Ki-tô cốt yếu nhằm việc cứu rỗi nhân loại cũng như bao hàm việc canh tân tất cả trật tự trần thế.

Trong cả hai phạm vi, người giáo dân, vừa là tín hữu vừa là công dân, phải được hướng dẫn liên tục bằng một lương tâm Ki-tô giáo chung nhất.

  1. 1.Việc tông đồ nhằm rao giảng phúc âm và thánh hóa:

Người giáo dân có rất nhiều cơ hội làm việc tông đồ: rao giảng phúc âm và thánh hóa.

Việc tông đồ này không chỉ ở tại việc làm chứng bằng đời sống. Người tông đồ đích thực còn tìm dịp loan truyền Chúa Ki-tô bằng lời nói hoặc cho người chưa tin để đưa họ đến đức tin, hoặc cho tín hữu để giáo huấn họ, củng cố và thúc đẩy họ sống sốt sắng hơn.

  1. 2.Canh tân trật tự trần thế theo tinh thần Ki-tô giáo:

Tất cả những gì tạo nên trật tự trần thế như giá trị cuộc sống và gia đình…tất cả những thực tại đó, xét chúng như thành phần của toàn thể trật tự trần thế, chẳng những chúng là phương thế giúp con người đạt tới mục địc tối hậu, mà chúng còn có giá trị riêng do Thiên Chúa phú bẩm “vì Thiên Chúa nhìn thấy vạn vật Ngài đã tạo thành thảy đều rất tốt đẹp” (stk 1,31)

Giáo dân phải đảm nhiệm việc canh tân trật tự trần thế như nhiệm vụ riêng, và trong nhiệm vụ đó, nhờ được ánh sáng phúc âm soi chiếu tinh thần của giáo hội hướng dẫn và bác ái Ki-tô giáo, thúc đẩy họ phải trực tiếp cương quyết hành động.

  1. 3.Công cuộc bác ái-dấu hiệu của tông đồ:

Mọi hoạt động tông đồ phải bắt nguồn và lấy sức mạnh từ đức ái.

Giới răn quan trọng nhất trong lề luật là yêu mến Thiên Chúa hết tâm hồn và yêu tha nhân như chính mình.

Để thực thi bác ái mà không bị chỉ trích và để tỏ ra bác ái đích thực, cần phải nhìn nhận nơi tha nhân hình ảnh Thiên Chúa.

Người giáo dân phải quý trọng và tùy sức giúp vào các việc từ thiện.

  1. II.Phương thức hoạt động tông đồ:
  2. 1.Nhiều hình thức tông đồ, dù mang một danh hiệu nào khác vẫn đang thực hiện một việc tông đồ quý giá ở thời đại chúng ta. Những tổ chức ấy phải hội đủ những yếu tố sau đây:
    1. a.Mục đích trực tiếp của tổ chức này là mục đích tông đồ của giáo hội, nghĩa là rao truyền phúc âm và thánh hóa nhân loại, và đào tạo cho con người một lương tâm Ki-tô giáo đích thực có thể đem tinh thần phúc âm thấm nhập vào mọi cộng đoàn cũng như mọi lãnh vực của đời sống.
    2. b.Trong khi cộng tác với hàng giáo phẩm theo thể thức riêng của mình, người giáo dân đảm nhận trách nhiệm và đem kinh nghiệm riêng để điều hành các tổ chức này, tìm những điều kiện thích hợp cho hoạt động mục vụ của giáo hội cũng như để soạn thảo và theo đuổi một chương trình hành động.
    3. c.Người giáo dân hoạt động lien kết với nhau như các cơ quan trong than thể, điều đó dễ nói lên ý nghĩa cộng đoàn của giáo hội và làm cho việc tông đồ được hữu hiệu hơn.
    4. d.Người giáo dân hoạt động dưới sự điều khiển của chính hàng giáo phẩm, dù họ tự nguyện dấn than, hoặc được mời hoạt động và cộng tác trực tiếp vào việc tông đồ của hàng giáo phẩm. Hàng giáo phẩm có thể thừa nhận sự cộng tác này bằng sự “ủy nhiệm”nhiên.

Những đoàn thể nào mà giáo quyền xét thấy hội đủ những yếu tố vừa kể đều được coi là công giáo tiến hành, mặc dù những tổ chức đó mang những hình thức và danh hiệu khác nhau tùy theo đòi hỏi của từng địa phương và của mỗi dân tộc.

2.  Tôn trọng các đoàn thể tông đồ.

3. Giáo dân dấn thân phục vụ giáo hội với tước hiệu đặc biệt.

IV. Thông phái theo:

  1. 1.Việc tông đồ của giáo dân, cá nhân hay tập thể phải được đặt vào đúng chỗ trong côcuộc tông đồ của toàn thể giáo hội.
  2. 2.Liên lạc với hàng giáo phẩm.
  3. 3.Hàng giáo sĩ phải giúp đỡ việc tông đồ giáo dân.
  4. 4.Cùng nhau cộng tác.
    1. V.Nhân bản:
    2. 1.Nhân bản là những đức tính chuyên yếu của con người.
    3. 2.Mọi tín hữu nên kính trọng nghề nghiệp chuyên môn ý nghĩa gia đình và ý nghĩa công dân cũng như các đúc tính liên quan đến đời sống và xã hội như lương thiện, tinh thần công bình, lòng thành thực, lòng nhân hậu, lòng quả cảm. Không có những đức tính đó, không có đời sống Ki-tô hữu đích thực.
    4. 3.Trước khi là thành viên tông đồ, họ phải là người Ki-tô hữu, họ phải sống đúng theo nhân phẩm Chúa dựng nên.
    5. 4.Để trưởng thành đời sống nhân bản là quá trình phát triển bản thân hoàn chỉnh về ba cấp: bản năng, trí năng và tâm linh.
    6. 5.Để xây dựng một con người nhân bản, chúng ta cần rèn luyện 13 chuẩn mực sau đây:

-       Điều độ: Không ăn đến chán, uống đến say.

-       Thận trọng: Không nói những lời vô ích cho người khác và tránh những điều ba hoa.

-       Trật tự: Xếp đặt mọi vật vào chỗ của nó và mọi việc làm vào thời gian của nó.

-       Quyết tâm: Việc gì thấy cần phải quyết chí làm và làm cho kỳ được.

-       Tiết kiệm: Chi tiêu những việc có ích cho mình hoặc cho người khác.

-       Chuyên cần: Chăm chỉ nhẫn nại trong mỗi công việc.

-       Thành thật: Nói điều gì phải nói cho đúng sự thật.

-       Công bằng: Không làm hại của cải người khác chỉ hưởng những gì mình được hưởng.

-       Phục thiện: Không cố chấp và sẵn sàng chịu đựng những trách mắng nếu thấy mình có lỗi.

-       Vệ sinh: Gọn gang sạch sẽ về quần áo, nhà cửa, thân thể.

-       Bình tĩnh: Tránh giận dỗi, nóng nảy về những việc trái ý thường xảy ra hoặc không tránh được.

-       Trong sạch: Không sống trác táng. Không để mình buông thả theo bản năng.

-       Khiêm tốn: Không khoe khoang hay tự đề cao mình.

  1. 6.Mời khách dự tiệc: Phải sắp xép chổ ngồi cho đúng vị trí trang trọng của từng người nên xếp những người quen biết nhau hoặc có chung một sở thích nghề nghiệp được ngồi gần nhau. Nếu khách không quen nhau phải giới thiệu. Nếu tiệc được sắp trên bàn vuông thì chổ ngồi trinh trọng nhất là ở giữa bàn chứ không phải đầu bàn.
  2. 7.Nên tập thoái quen trong những ngày đáng ghi nhớ trong gia đình: Có những cột mốc đáng ghi nhớ của chính mình và người thân: Như sinh nhật, bổn mạng, cưới hỏi, tang chế… Ta nên nhắc nhở đến những ngày đó để cùng ôn lại những nỗi buồn vui nhất là của cha mẹ, vợ chồng, anh em. Kèm theo đó có thể tặng những món quà kỷ niệm.
  3. 8.Những công việc thông thường:

-       Viết thư cần ngắn gọn.

-       Phong thư: Ghi địa chỉ người viết ở trên bên trái tem gián phía phải đúng với cước thư địa chỉ người nhận phảo viết rõ ràng dễ đọc và tránh thất lạc.

-       Danh thiếp: Phải biết sử dụng cho đúng lúc. Danh thiếp nên đề đơn giản: tên, chức vụ hiện tại, địa chỉ, điện thoại.

-       Thiệp mời: là một dạng thư mời chung về một công việc nào đó, đã in sẵn chỉ việc điền vào những chổ cần thiết. Phải điền rõ ràng nhất là ngày giờ địa điểm.

-       Điện thoại nên nên nói rõ – ngắn gọn – lịch sự. Nếu gọi đi sau tiếng alô thì tự giới thiệu.    Nếu nghe, sau tiếng alô cũng tự giới thiệu.

-       Quà tặng “cách cho hơn của đem cho”. Khi tặng quà phải tủy theo tục lệ, sự việc, thời điểm, tuổi tác. Trên hết phải có lòng quý mến và tỏ ra có một cảm tình với người được tặng quà.

-       Khi được tặng quà nên trân trọng đón nhận đẻ tỏ ra quý mến ham chuộng và cám ơn người tặng.

-       Thăm viếng: Khi thăm viếng nên báo trước để người được ta đến thăm chuẩn bị thu xếp giờ giấc.

-       Ăn uống có hai nghĩa: Ăn để sống và nghệ thuật ăn uống. Vì thế ta phải trau dồi cac đức tính căn bản về ăn uống sao là một con người nhân bản.

-       Cách ăn mặc “y phục xứng kỳ đức”, “nhìn y phục biết tư cách”. Ta phải ăn mặc sao cho xứng hợp đạo đức, nhu mì hòa đòng với môi trường mình đang sống với thời điểm mình đang chịu trách nhiệm. Đừng cẩu thả quá cũng đừng diêm dúa khoe khoang quá.





 

 

 

 

HUẤN LUYỆN TÔNG ĐỒ GIÁO DÂN

 

Wednesday, 07 October 2009 15:59 +GM Giuse Trần Xuân Tiếu ~ Read 1264 times.

 

 

 

Kính gửi quý Cha, quý tu sĩ, và toàn thể anh chị em giáo dân,
 
Anh chị em thân mến,
 
Nhân dịp tháng Mân Côi kính Đức Mẹ, cũng là tháng cầu nguyện cho
việc truyền giáo cách đặc biệt, tôi xin gửi đến gia đình giáo phận lời chào thân ái trong tình yêu bao la của Mẹ Maria. Tôi cũng xin gửi tâm tình quí mến và sự tin tưởng của tôi đến các thành phần giáo dân tông đồ của giáo phận, đang sát cánh với hàng giáo sĩ trong các sinh hoạt mục vụ và truyền giáo.
 
Anh chị em đều biết Đức Maria, dù là Mẹ Chúa Giêsu, nhưng không có chức thánh linh mục, mà chỉ là một giáo dân bình thường. Mẹ là người giáo dân tuyệt hảo đáng nêu gương cho chúng ta. Vì thế, đang khi chiêm ngắm Mẹ Maria, tôi xin gửi đến gia đình giáo phận Thư mục vụ tháng Mười với nội dung về Huấn Luyện Tông Đồ Giáo Dân. Đây là đối tượng ưu tiên thứ hai (sau linh mục) của việc huấn luyện đức tin trong giáo phận để chuẩn bị năm Kim Khánh giáo phận.
 
Anh chị em thân mến,
 
Ngoài những ảnh hưởng tiêu cực của xã hội hôm nay đối với các giá trị tinh thần và thiêng liêng, các tông đồ giáo dân của giáo phận Long Xuyên cũng đang phải đương đầu với những thách đố và những thiệt thòi của vùng nông thôn trong thời đô thị hoá và toàn cầu hoá. Cách riêng, cộng đoàn Kitô hữu tại Long Xuyên đang phải đối diện với tình trạng di dân kinh tế, nghề nghiệp, làm ảnh hưởng cả tích cực lẫn tiêu cực đến đời sống và hoạt động của các tông đồ giáo dân. Tuy nhiên, ảnh hưởng lớn lao nhất đến đời sống và hoạt động tông đồ của người giáo dân trong giáo phận là ảnh hưởng của sự tục hoá ngày càng mạnh và sâu trong đời sống tâm linh. Trong bối cảnh này, việc huấn luyện và thường huấn dành cho các tông đồ giáo dân trở nên cấp bách với nhiều thách đố. Sau đây là một vài nét chính yếu mà giáo phận cần quan tâm trong trách nhiệm huấn luyện tông đồ giáo dân:
 
+ Trước hết, việc huấn luyện các tông đồ giáo dân phải được đặt nền tảng trên phẩm giá đích thực của người giáo dân. Theo tông huấn Kitô Hữu Giáo Dân – Christifideles Laici của Đức Giáo Hoàng Gioan PhaoLô II, phẩm giá người giáo dân được gắn liền với Giáo hội Chúa Kitô nhờ Bí tích Rửa Tội và Thêm sức. Theo đó, trong Hội Thánh là mầu nhiệm, giáo dân là con của Thiên Chúa Cha trong Người Con duy nhất là Đức Kitô, để trở thành chi thể trong nhiệm thể Chúa Kitô, và là đền thờ sống động của Chúa Thánh Thần với những ân sủng cho cộng đoàn. Trong Hội Thánh là hiệp thông, giáo dân được tham dự vào chức linh mục của Chúa Kitô, là ngôn sứ, là tư tế, và là vương đế với tác vụ, trách vụ, và nhiệm vụ để cùng xây dựng Nhiệm Thể Chúa Kitô. Và trong Hội Thánh là sứ mạng, giáo dân còn có ơn gọi và sứ mạng loan báo Tin Mừng để xây dựng mầu nhiệm Nước Thiên Chúa giữa lòng thế giới, qua việc phục vụ con người thời đại, cổ võ phẩm giá con người, loan truyền nền văn minh tình thương và sự thật.
 
+ Kế đến, được rút ra từ Tuyên ngôn do Liên Hiệp Hội Đồng Giám Mục Á Châu về Ơn Gọi Và Sứ Mạng Của Người Giáo Dân Trong Giáo Hội Và Trong Thế Giới Á Châu (Tokyo-Nhật Bản, 1986), việc huấn luyện tông đồ giáo dân của giáo phận Long Xuyên nên được tổ chức theo 3 cấp độ:
 
(1) Cấp độ nền tảng nhằm huấn luyện các tông đồ giáo dân có một lương tâm ngay thẳng, thấm nhuần những giá trị nhân bản cùng với những giá trị trong truyền thống văn hóa Việt Nam.
 
(2) Cấp độ Kitô hữu, nhằm huấn luyện cho các tông đồ giáo dân một nền tảng của đời sống Kitô Hữu với những giá trị thiêng liêng của Tin Mừng theo huấn giáo của giáo hội, cùng với những giá trị truyền thống trong lịch sử của giáo hội Việt Nam, đặc biệt là của lịch sử 50 năm của Hội Thánh Long Xuyên.
 
Và (3) Cấp độ tông đồ do đoàn sủng và ơn gọi từ hàng ngũ giáo dân, nhằm huấn luyện người giáo dân tông đồ về tác vụ, nhiệm vụ, và trách vụ của người tông đồ trong Hội Thánh và trong thế giới.
 
Trong bối cảnh cụ thể của giáo phận Long Xuyên, việc huấn luyện tông đồ giáo dân nên được tổ chức với những lưu ý sau:
 
Thứ nhất, trong việc huấn luyện tông đồ giáo dân của giáo phận Long Xuyên, cần nhấn mạnh đến cách sống tu đức của người tông đồ giáo dân. Đặc biệt là cần làm nổi bật gương mẫu của Thánh Emmanuel Lê Văn Phụng, trong gia đình, trong giáo xứ, trong xã hội, nhất là về sự cộng tác quảng đại và hy sinh của người tông đồ giáo dân với hàng giáo sĩ trong mọi hoàn cảnh (thư mục vụ tháng 7).
 
Thứ hai, trong các đối tượng tông đồ giáo dân, cần đặc biệt ưu tiên cho ba tập thể tông đồ giáo dân sau đây: Thứ nhất tập thể giáo lý viên nhằm phục vụ tác vụ rao giảng. Thứ hai tập thể ca đoàn phục vụ tác vụ thánh hoá. Và thứ ba tập thể hội đồng mục vụ giáo xứ phục vụ tác vụ lãnh đạo. Trong các tập thể này, giáo phận cần ưu ái thành phần giới trẻ.
 
Thứ ba, trách nhiệm của việc đào tạo tông đồ giáo dân chủ yếu là do các linh mục phụ trách các cộng đoàn dân Chúa trực tiếp đảm nhận và tổ chức tại các cộng đoàn giáo xứ-giáo họ. Tuy nhiên, các Uỷ Ban giáo phận, như UB Giáo Dân, UB Gia Đình, UB Giáo Lý Đức Tin, UB Phượng Tự, UB Truyền Giáo, Ban Mục Vụ Giới Trẻ, Ban Mục Vụ Thiếu Nhi, là những uỷ ban có trách nhiệm trực tiếp vào việc huấn luyện tông đồ giáo dân cấp giáo hạt và giáo phận. Điều cũng cần lưu ý là không thể không có sự cộng tác của chính giáo dân, cách này hay cách khác, trong các khoá huấn luyện tông đồ giáo dân.
 
Anh chị em thân mến,
 
Với đường hướng “Tái Rao Giảng Tin Mừng Để Đến Với Muôn Dân – Ad Gentes” của năm thánh 2010, tôi thiết tha kêu gọi tất cả mọi thành phần dân Chúa hãy để Chúa Thánh Thần huấn luyện chính bản thân để trở thành dụng cụ hữu hiệu của Ngài trong cánh đồng truyền giáo Long Xuyên.
 
Trong tháng này, vào dịp lễ Khánh Nhật Truyền Giáo (18.10.09), hai giáo hạt Long Xuyên và Chợ Mới tiếp nối chương trình “Kể Chuyện Chúa Giêsu tại giáo phận Long Xuyên”. Tôi xin phó thác chương trình này, cùng với chương trình Năm thánh của giáo phận, đặc biệt là chương trình huấn luyện tông đồ giáo dân cho Đức Mẹ La Vang và cho hai thánh tử đạo Emmanuel Lê Văn Phụng và Phêrô Đoàn Công Quí.
 
Hiệp thông với Đức cha Gioan Baotixita, tôi xin Chúa chúc lành cho anh chị em và ban dồi dào ơn thánh cho anh chị em trong tháng Mân Côi này.
 
Thân ái trong Chúa Kitô,
 
+ Giuse Trần Xuân Tiếu
Giám mục Giáo phận Long Xuyên















 

 

HỘI LEGIO GX QUẢNG ĐÀ

 

 

BÀI TĨNH HUẤN CHO CURIA TẠI GIÁO XỨ QUẢNG ĐÀ NGÀY 09-09-2013

 

 

 

 

 

GIÁO PHẬN BAN MÊ THUỘT

GIÁO  XỨ QUẢNG ĐÀ 9-9-2013

 

PHONG TRÀO LEGIO MARIAE - ĐẠO BINH ĐỨC MẸ.

 

1. Nguồn gốc Phong Trào Legio Mariae - Đạo Binh Đức Mẹ. 

 

Cách đây 91 năm, lúc ấy là 8 giờ tối ngày 7.9.1921, vọng lễ Sinh Nhật Đức Mẹ, một nhóm người tụ họp tại Myra House nơi đường Francis ở Dublin, thủ đô nước Ái-Nhĩ-Lan. Họ ngồi quanh chiếc bàn có đặt tượng Đức Mẹ giang đôi tay, trong cử chỉ tiếp đón trìu mến. Chung quanh tượng có hoa tươi và nến sáng. Mọi người khiêm tốn quì gối bắt đầu đọc Kinh Chúa Thánh Thần rồi sốt sắng lần hạt Mân Côi. Hiện diện có cha Toher, anh Frank Duff (một nhân viên Bộ Tài Chánh), và  khoảng 15 phụ nữ, tất cả đều thuộc giai cấp xã hội khiêm tốn, làm công trong các bàn giấy hoặc nơi các tiệm hàng. Họ họp nhau sau một ngày làm việc vất vả, với chủ ý tìm ra một đường lối tông đồ mang tính chất hoàn toàn thiêng liêng, bổ túc cho sinh hoạt bác ái của các ông bà thuộc Hội Thánh Vinh Sơn Phaolo. Là những phụ nữ nghèo, họ không có gì để trao tặng, ngoài hai bảo vật: đức tin và lòng yêu mến các linh hồn.

 

Anh Frank Duff, 32 tuổi, nói với các bà các cô về cuốn "Luận về lòng sùng kính chân thật đối với Đức Mẹ" của thánh Louis Marie Grignon de Montfort : "Lòng sùng kính chân thật đối với Đức Maria không thể là một tâm tình thụ động, co cụm vào chính mình, dửng dưng đối với tha nhân. Trái lại, yêu mến tức là hành động. Vì thế, lòng sùng kính chân thành thôi thúc ta hoạt động vì Mẹ, tận tâm hoàn toàn và quảng đại đến mức độ anh hùng. Nếu chúng ta thật tình yêu mến Mẹ, chúng ta phải san sẻ với Mẹ về ưu tư phần rỗi các linh hồn và quyết chí ra đi tìm kiếm các linh hồn".

 

Cha Toher giải thích về Giáo Hội, huyền thể Chúa Kitô. Đây là một đạo lý chẳng những buộc tin nhưng còn phải đem ra thực hành.

 

Cuối phiên họp, toàn nhóm quyết định phân chia công tác. Họ sẽ đi từng hai người một, đến bệnh viện "Thống Nhất" trong thủ đô Dublin, để viếng thăm và nâng đỡ tinh thần cho các bệnh nhân. "Legio Mariae - Đạo Binh Đức Mẹ" chào đời từ buổi chiều hôm ấy. Đâu ai ngờ được rằng, tiểu nhóm đầu tiên đã nhanh chóng trở thành một "Đạo Binh hùng hậu" lan rộng khắp nơi trên thế giới.

 

Lạ thay! Nếu chỉ nhìn vào những người tầm thường này, với những phương tiện rất giản dị của họ, thì ai có thể dự đoán được cái vận mạng đang chờ đón ngày mai? Chính trong nhóm họ có ai có thể tưởng rằng mình đang thiết lập một tổ chức sau này là lực lượng mới trên thế giới. Tổ chức này nhờ Đức Mẹ, Người có khả năng thông truyền sức sống, sự an bình và hy vọng cho các dân tộc. Thế mà sự việc đã có đúng như vậy. (FRANK DUFF, The Official Handbook of the Legio of Mary).

 

Ngay từ ban đầu, các hoạt động của Legio Mariae, với những công tác mới mẻ và đầy gian truân, đã có thể thực hiện được nhờ các hội viên không mong ước gì hơn là làm những hành động dũng cảm, nhằm đem việc cứu rỗi các linh hồn ở những nơi mà cả đàn ông lẫn đàn bà buông mình trong trụy lạc, họ đều đến viếng thăm và họ đã gặt hái được một mùa thu hoạch dồi dào. Chiến tranh thế giới bùng nổ đưa đến việc thành lập các “Praesidia” (Tiểu Đội) trong quân đội, trong các trại tù binh và giữa đám dân bị quân đội chiếm đóng..

 

Tiểu sử: Ông Frank Duff, Sinh ngày 7/6/1889 tại Dublin –thánh lập Hội Legio ngày 7/9/1921. Vào năm 1914, ông gia nhập Hội Bác Ái của Thánh  Vinh sơn đệ Phaolô. Sự kiện này đánh dấu một khúc ngoặc trong đời ông. Tất cả thời gian rảnh rỗi, ông dành hết cho các hoạt động tông đồ. Ông tin rằng chúng ta có thể hoán cải thế giới, nếu mỗi tín hữu Công Giáo bình thường phải trở thành một vị tông đồ, Họ là những kẻ bé mọn và khiêm tốn lại là những người có đầy sinh lực và trung tín. Họ kiên trì và không sợ gian khổ. Họ thực tế và làm việc hữu hiệu. Nhưng cần phải họp thành nhóm và hoạt động có tổ chức. Sau cùng, cần phải hoạt động với Đức Maria và trong niềm hiệp thông sâu xa với Mẹ Maria. Đó là chìa khóa cho mọi thành công. Chính qua Đức Maria mà Chúa Kitô sinh ra và cũng chính qua Mẹ Maria mà Chúa Kitô còn tiếp tục sinh ra.

 

Ông qua đời ngày 7/11/1980 Án xin phong chân phước đã khởi sự và hiện tại ông được gọi là vị tôi tớ Chúa

 

2. Danh hiệu, nguồn gốc và tổ chức: Legio Mariae là một Đoàn thể Giáo dân, được Giáo hội phê chuẩn và đặt dưới quyền chỉ huy hùng mạnh của Đức Maria Vô Nhiễm Nguyên Tội, trung gian các ơn. Họ họp thành đạo quân để phục vụ trong chiến cuộc mà Giáo hội không ngừng giao phong với thế gian và quyền lực tội ác, để chống lại những gì là tội lỗi, xấu xa. Legio Mariae cótrên 3 triệu Hội viên Hoạt động và gần 20 triệu Hội viên Tán trợ, (Legio Mariae có: HV trưởng thành (Senior), và HV thiếu niên (Junior), dưới 18 tuổi.Ngoài HV hoạt động, còn có HV danh dự, HV tán trợ và HV hoạt động cấp cao)

 

LEGIO MARIAE NGÀNH VIỆT NAMPraesidium đầu tiên lấy danh hiệu “ĐỨC BÀ LÊN TRỜI” được thành lập ngày 12/08/1948 tại xứ Hàm Long, Hà Nội do Đức cố Hồng Y Giuse Maria Trịnh Như Khuê lúc bấy giờ là Cha Sở xứ Hàm Long và là Cha Linh Giám cho Legio.Vào những năm đầu thập niên 1950 Legio Mariae đã hình thành lan rộng khắp cả nước Việt Nam

 

3. Hệ thống quản trị của Legio

Legio Mariae VN đã có mặt 26/26 Giáo phận

1. Hội Đồng trung ương (Concilium Legionis), trụ sở đặt tại nước Ái Nhĩ Lan.

2. Hội Đồng miền (Senatus), tại các quốc gia.

- 01 Senatus VN trụ sở 22B XVNT, P.19, Q.Bình Thạnh (NT Thị Nghè).

3. Hội Đồng Tỉnh (Regia).

02 Regiae: Huế và Nha Trang.

4. Hội Đồng Địa phận (Comitium).

19 Comitia (các Giáo phận khác)

5. Hội Đồng Hạt (Curia).

328 Curiae (trưởng thành và thiếu niên).

6. Đơn vị (Praesidium): gồm: cha linh giám. anh (chị) trưởng phó, các trưởng, phó, thư ký, thủ quỹ và các hội viên. (đơn vị Praesidium nào được thành lập phải có phép rõ ràng của Curia, hoặc một trong những Hội đồng có thẩm quyền chính thức thu nhận, và phải có sự ưng thuận của Cha Xứ hay Đức Giám Mục Địa phận.)

- 3.487 Praesidia (trưởng thành và thiếu niên).

- 48.383 HV (trưởng thành và thiếu niên).

- 69.417 HV bảo trợ và tán trợ.

* Tại Campuchia đã có 1 Curia tại Phnômpênh và 3 Senior Pr. tại Battambang.

  * Hướng tới Cờ Mẹ sẽ tung bay trên đất Laos .

 

 

4. MỤC ĐÍCH

 

Làm vinh danh Thiên Chúa, rao giảng phúc âm và cứu rỗi các linh hồn, qua việc thánh hóa hội viên bằng sự cầu nguyện, và dưới sự lãnh đạo của Giáo quyền, tích cực cộng tác vào công cuộc hành động của Đức Maria và của Hội Thánh là đạp đầu con rắn, phá vỡ thế lực của tội lỗi để mở rộng nước Chúa Kitô.

 

- Đưa Linh mục đến với dân chúng, hoặc giúp ích cho ảnh hưởng của Người được lan rộng.

- Thực hiện công tác tông đồ giáo dân qua sự hướng dẫn của Linh mục Giáo xứ, xây dựng những quan hệ tốt trong xã hội, nhằm mục tiêu đưa “men Tin Mừng đến với bột nhân loại”.

 

- Sống theo tinh thần của Đức Maria, và đặc biệt là bắt chước Đức Tin, Đức Ái và Đức Khiêm nhượng.

- Truyền bá và cổ động việc sùng kính Đức Mẹ và lần hạt Mân côi, để qua Mẹ Maria đến với Chúa Giêsu.

 

5. ĐIỀU KIỆN GIA NHẬP HỘI: Legio Mariae mở cửa đón nhận mọi người Công giáo, gồm cả hai phái nam và nữ - Sống Đạo thực hành theo Đức tin.- Thực sự muốn làm việc Tông đồ giáo dân theo công tác của Legio.- Sẵn sàng chu toàn mọi việc mà phận vụ Hội viên đòi buộc.

 

6. NHIỆM VỤ VÀ CÔNG TÁC HỘI VIÊN HOẠT ĐỘNG

HỘI VIÊN TÁN TRỢ

1) Tham dự buổi hội hàng tuần của Praesidium thật đều đặn, đúng giờ, Mỗi tuần mỗi Praesidium họp một lần, thời gian một tiếng rưỡi : Cầu nguyện, đọc kinh mân côi, báo cáo và phân chia công tác trong tuần.

2) Ðọc kinh Catena hằng ngày.

3) Làm công tác tích cực và thiết thực, được chỉ định hàng tuần

4) Triệt để giữ kín tất cả những gì đã được bàn cãi trong phiên họp hoặc đã biết được trong khi thi hành nhiệm vụ Legio.

1) Hàng ngày phải đọc trọn kinh "Tessera" và lần hạt Mân côi.

2) Cầu nguyện theo ý của Đức Mẹ.

3) Hàng năm vào tháng 3 Dương Lịch, phải tham dự Đại Hội ACIES, lễ nghi chính của Legio.

Công tác: Thăm các gia đình Công Giáo bình thường hay khô khan, nguội lạnh; khuyên người bỏ xưng tội trở lại; giúp hợp thức hóa hôn nhân rối; giải hòa gia đình bất hòa - Thăm gia đình không Công Giáo- Thăm bệnh nhân tại bệnh viện và tư gia; thăm người bệnh AIDS và nghiện ma túy- Thăm gia đình nhập cư- Dạy giáo lý trẻ em, dự tòng, hôn nhân - Giúp rửa tội người lớn hay trẻ em - Giúp trẻ em xưng tội rước lễ và Thêm sức- An ủi người nghèo khổ, làm việc bác ái…với lòng can đảm và trung thành tuyệt đối.

 

7. QUYỀN LỢI: Legio Mariae đặt dưới sự bảo trợ của Đức Maria và của Giáo Hội. Legio Mariae cống hiến cho người hội viên: - Một lối sống đạo đức ở trong khuôn khổ của một tổ chức có kỷ luật chặt chẽ.

 

-   Một lý tưởng Công Giáo để phục vụ Thiên Chúa và tha nhân qua sự kết hợp mật thiết với Đức Mẹ, để cùng với Đức Maria, trong Maria, nhờ Maria và qua Mẹ Maria, dẫn đưa mọi người về với Chúa và Giáo Hội.

 

-   Một nền Triết lý, Thần học sâu xa về hoạt động Công giáo tiến hành, một phương pháp thực tiễn để làm việc Tông đồ có kế hoạch và chương trình cụ thể, kết quả rất rõ ràng.

 

-    

8. ĐẶC ÂN THIÊNG LIÊNG được:Thông công trong lời cầu nguyện và các việc đạo đức hàng triệu Hội viên trên khắp thế giới- Được hưởng nhiều Ân xá khi đọc kinh "Tessera" và lần hạt Mân côi- Được hưởng ơn ĐẠI XÁ khi tuyên hứa và khi đọc lại lời tuyên hứa vào các dịp lễ Chúa Thánh Thần hiện xuống, lễ Truyền Tin, lễ Đức Mẹ Vô Nhiễm, lễ Đức Mẹ Hồn xác lên trời, lễ Sinh nhật Đức Mẹ và lễ hai thánh Phêrô Phaolô Tông đồ.(Xưng tội, Rước lễ và cầu nguyện theo ý ĐGH)- Được đào luyện nhờ các Linh giám và được học hỏi thêm khoa học thánh về Chúa Kitô, về Đức Maria và Giáo hội hoàn vũ- Hội viên Hoạt động vừa mới qua đời, Praesidium xin một lễ Hối Tử. Hằng năm vào tháng 11 Dương lịch, mỗi Praesidium phải xin một lễ cầu cho linh hồn Hội viên đã qua đời ở khắp nơi trên thế giới.

 

(Trích: Bản tin Legio Mariae - Senatus Việt Nam Tháng 08-2007 và Thủ Bản Leggio, Linh mục đồng hành: Phêrô Nguyễn Công Danh . Phụ trách:  Đa Minh Đỗ Ngọc Phác )

 

 

ƠN GI VÀ S V CA GIÁO DÂN TRONG GIÁO HI VÀ TH GII

http://giaolyductin.net

 

Giáo huấn của Công đồng (và các Giáo hoàng kế tiếp) về ơn gọi và sứ vụ của giáo dân trong Giáo hội và thế giới[1].

 

1. Vài dòng về lịch sử người giáo dân[2]

 

Người giáo dân đã có mặt ngay từ buổi đầu của lịch sử Giáo hội và chắc chắn sẽ còn luôn có mặt trong suốt những chặng đường lịch sử của Giáo hội trên đường hướng về ngày Cánh Chung. Tuy nhiên, vị thế của người giáo dân trong dòng lịch sử đó không phải lúc nào cũng được công nhận như một thành phần thiết yếu và chủ động, và cũng không phải lúc nào cũng xếp vào hạng "những con chiên ngoan ngoãn, thụ động, chỉ có nghĩa vụ để người khác hướng dẫn mình và theo các chủ chăn mình như đàn cừu dễ bảo".

Chúng ta cũng nhìn lại những bước "thăng trầm" đó.

 

1.1.  Giáo dân trong Kinh Thánh và trong Giáo hội sơ khai

 

Trong Kinh Thánh không có từ ngữ "giáo dân". Nhưng Kinh Thánh dùng nhiều từ khác để chỉ chung một cộng đoàn thuộc về Thiên Chúa như: Giáo hội Chúa (Chúa Kitô), Dân Thiên Chúa, Thân Mình Chúa Kitô. Các phần tử các dân tộc trong cộng đoàn đó thì được gọi là: "những người được chọn", "các thánh", "các môn đệ", nhất là từ ngữ "anh em".

Qua tất cả những từ ngữ Thánh kinh đó, người ta đọc được những ý nghĩa chung :

- Đây là một dân cánh chung, được Thiên Chúa kêu gọi để tiến vào vương quốc của Ngài, thừa hưởng đời sống vĩnh cửu của Chúa trong Đức Kitô.

- Họ là những người đáp lại lời Chúa gọi, gia nhập vào hàng ngũ dân Chúa, được hiệp thông với Đức Kitô và nhờ Đức Kitô được thông hiệp đời sống thần linh của Chúa. Từ đó, họ cũng thông hiệp với nhau nữa.

Như thế, một cộng đoàn Kitô hữu trước tiên và căn bản mang ý nghĩa là một cộng đoàn được thánh hiến cho Thiên Chúa, khác biệt với thế giới chứ không diễn tả một sự phân biệt bên trong giữa giáo sĩ và giáo dân. Tất cả mọi người được Thiên Chúa kêu gọi, được lãnh bí tích Thánh Tẩy đều là những người được thừa kế gia sản Thiên Chúa ban trong Đức Kitô, có sự bình đẳng về phẩm giá và đều lãnh trách nhiệm chung về sứ vụ Chúa giao cho, bởi vì họ được chọn để làm ích cho "nhiều người".

Điều đó không có nghĩa là không có khác biệt nào về vai trò của các thành phần : "Thần khí tỏ mình ra nơi mỗi người mỗi cách là vì ích chung" (1 Cr 12,7 tt).

 

1.2. Từ ngữ “giáo dân” xuất hiện

Dần dần các công đoàn Kitô hữu phát triển rộng lớn hơn, người ta cảm thấy cần phải củng cố tổ chức để điều hành sinh hoạt của cộng đoàn, cần phải xác định vai trò đặt tên cho mỗi thành phần riêng biệt cũng như cần chỉ định rõ công tác của mỗi thành phần trong các buổi cử hành phụng vụ. Thế là từ ngữ "giáo dân" xuất hiện, trước tiên, trong thư của thánh Clement (năm 95), để chỉ một người tín hữu bình thường, phân biệt với phó tế và linh mục; sau đó, trong thư thánh Justin, để chỉ những người đối đáp với vị chủ tế trong phụng vụ Thánh Thể.

 

1.2.  Giáo dân trong Giáo hội thời tử đạo

 

Trong thời kỳ Giáo hội bị bách hại, có hai luồng tư tưởng chính vẫn tồn tại song song hoặc nhiều khi đối nghịch nhau:

- Một đàng khi phải chịu bách hại khổ đau, Giáo hội ý thức mãnh liệt mình là dân Cánh chung tha thiết mong chờ Chúa đến để giải thoát và hoàn tất công trình cứu độ của Ngài. Tất cả mọi thành phần trong Giáo hội, giáo sĩ cũng như giáo dân, đều có một nỗi mong chờ chung và đều gấp rút thi hành sứ vụ Chúa trao cho, nỗ lực rao giảng Tin Mừng để chuẩn bị đón Ngày Chúa Quang Lâm mà họ tưởng chừng như đã sắp tới. Trong tình hình như thế, Giáo hội ý thức mạnh mẽ về một sự khác biệt, một sự đối kháng giữa mình với thế giới.

- Đàng khác, vì Giáo hội vẫn phải tồn tại, vẫn phát triển và vẫn phải tổ chức đời sống của những cộng đoàn, nên không thể không chú tâm tới việc sắp xếp, tổ chức một phẩm trật để điều hành, để quyết định nhiều vấn đề trong cộng đoàn. Hơn nữa, thời đó, ảnh hưởng của tư tưởng Platon đang lan rộng, nhiều giáo phụ coi phẩm trật trong Giáo hội như là phản ảnh của trật tự của thiên quốc, các chức vụ trong Giáo hội không chỉ là sự khác biệt cần phải có trong cách tổ chức một cộng đoàn, nhưng còn là những trách vụ đại diện đặc biệt của Thiên Chúa, của Đức Kitô.

Từ đó, dần dần hình thành một cơ cấu phẩm trật trong Giáo hội, cơ cấu này vì chưa có được một nền tảng thần học vững chắc nên thường nặng về tính cách pháp lý nhiều hơn.

 

1.3.  Giáo dân trong Giáo hội thời Trung Cổ

 

Với chiếu chỉ Milan 313, vua Constantinô đã mở màn cho một giai đoạn mới trong lịch sử Giáo hội. Giáo hội được sống tự do, an bình, được công khai sống đạo và truyền đạo. Đó quả thật là một hạnh phúc lớn lao của cả Giáo hội cũng như của mọi Kitô hữu sau bao năm bị cấm cách. Tuy nhiên điều đó không phải là không kéo theo những hậu quả làm thay đổi sâu xa bộ mặt của Giáo hội.

 

Cuộc sống an bình làm cho ý thức về một Giáo hội Cánh Chung càng ngày càng giảm bớt, đồng thời củng cố thêm nhu cầu cần phải tăng cường cơ cấu tổ chức. Ngay sau khi hết thời bách hại, khuynh hướng quyền bính đã phát triển mạnh mẽ và người giáo dân càng ngày càng trở thành những người cấp dưới trong Giáo hội. Cuối thế kỷ IV cuốn sách mang tên "Giáo huấn các Tông Đồ" đã viết : "Người giáo dân chỉ là những đứa con nít phải canh chừng".

 

Hơn thế nữa, trong lòng đế quốc Roma, Giáo hội càng ngày càng phát triển có thêm nhiều đặc quyền và trở thành một thế lực bao trùm hầu hết thế giới tây phương. Giáo hội và trần thế ban đầu thì nương tựa, hỗ trợ mật thiết cho nhau, sau đó gần như đồng nhất thành một. Sự khác biệt, đối lập giữa Giáo hội và thế giới biến mất và thay thế vào đó là sự phân biệt, đôi khi sự đối kháng ngay trong lòng Giáo hội. Người ta bắt đầu sắp xếp các thứ bậc, phân biệt các cách sống đạo, đặt ra mỗi ngày mỗi nhiều thêm chức tước...

 

Theo dòng thời gian và cùng nhịp độ với hoàn cảnh xã hội, chính trị thuận lợi cho cho Giáo hội, khoảng cách giữa hàng giáo sĩ, tu sĩ và người giáo dân càng ngày càng rộng thêm hơn :

- Khoảng đầu thế kỷ V, các linh mục có y phục riêng.

- Khoảng cuối thế kỷ V, chức "cắt tóc" được thiết lập để đánh dấu những người của Giáo hội.

- Từ thế kỷ thứ VII, với phụng vụ bằng tiếng La tinh, giáo dân  càng ngày càng thụ động hơn và càng có thêm những khoảng cách trong cộng đoàn phụng vụ: phần lễ quy được đọc thầm, các lời nguyện linh mục đọc ở ngôi thứ nhất số ít (con, tôi) thay vì là chúng con (chúng tôi).

 

Những sự phân biệt về phương diện tổ chức như thế đương nhiên kéo theo những hậu quả về phương diện phẩm giá và quan niệm tu đức. Trong một thế giới (Tây phương) hầu như toàn tòng, sứ mệnh truyền giáo mất dần ý nghĩa, thay vào đó là nỗ lực sống đời sống luân lý. Mức độ của đời sống trọn lành cũng được đánh giá ăn khớp theo tổ chức phẩm trật: trước hết là giáo sĩ đến tu sĩ rồi giáo dân.

 

Ban đầu người ta gọi các tu sĩ là những "con người thiêng liêng" sau cũng áp dụng cho cả các giáo sĩ triều, đối ngược lại với những "con người xác thịt", tức là người giáo dân. Giáo sĩ và tu sĩ được ví như bên phải và giáo dân như bên trái trong một thân thể. Nền tảng của phẩm giá người Kitô hữu không còn là bí tích Thánh Tẩy nhưng là bí tích Truyền Chức, lời khấn dòng, bí tích Hôn nhân. Trọng tâm của đời sống Kitô hữu không còn là trung thành và phát triển gia sản chung mà mọi người được thừa hưởng khi được Thánh Tẩy, mà là nỗ lực từ bỏ ma quỷ, thế gian và xác thịt....

 

Tóm lại, Giáo hội dần dần biến từ một Giáo hội Cánh chung, nghĩa là một Giáo hội lữ hành qua trần gian để tiến về vương quốc Thiên Chúa trong ngày cánh chung, để trở thành Giáo hội luân lý, đóng chốt trong trần gian và nỗ lực thiêng liêng hóa trần gian.

 

Tuy nhiên, trong thời kỳ này, dù bị đánh giá thấp so với các "bậc" khác trong Giáo hội, người giáo dân khá hăng say nhiệt thành; họ cố gắng nên thánh trong cuộc sống hằng ngày. Nhiều hội đoàn được thành lập để liên kết với nhau, giúp đỡ nhau sống đời sống Kitô giáo tốt đẹp, thánh hóa đời sống hôn nhân, nghề nghiệp, của cải và đời sống binh nghiệp. Những hội đoàn này hoạt động khá sầm uất, họ có thánh quan thày riêng, cờ hiệu và đồng phục riêng. Trong đó đặc biệt phải kể đến các tổ chức dòng ba. Những tổ chức này đã phát triển rộng rãi và vẫn còn tồn tại mãi đến ngày nay.

 

Cũng vào thời kỳ này, Giáo hội ý thức được một khía cạnh chưa hề có trong thời Giáo hội chịu bách hại: đó là sứ vụ trần thế của người giáo dân. Giáo hội muốn hướng đời sống trần thế trực tiếp quy hướng vào việc phụng thờ Thiên Chúa, hướng tới ơn cứu độ, tới đời sống luân lý theo tinh thần Kitô giáo. Tất cả đời sống trần thế được đóng khung trong khuôn khổ tôn giáo và theo những luật lệ của Giáo hội. Tuy nhiên, sứ vụ này mới chỉ được hiểu về phương diện chính trị mà thôi, và cũng chỉ mới được áp dụng cho các ông hoàng, là những người giáo dân ưu tuyển. Giáo hội chăm chút đến đời sống đạo đức của các ông hoàng, nêu lên ý nghĩa đạo đức trong trách vụ cai quản quốc gia, chức tước của các ông cũng được thánh hóa với nhiều nghi thức gần như là chức thánh. Sở dĩ như vậy, là vì khi đó Giáo hội tin tưởng rằng một ông hoàng đạo đức, biết xử dụng tốt luật pháp và quyền hành chính trị thì có thể bảo đảm cho một dân chúng tốt.

 

1.4.  Giáo dân trong thời cận đại

 

Từ thế kỷ XVI đánh dấu một giai đoạn mới trong lịch sử thế giới. Những biến chuyển trong giai đoạn này của thế giới tây phương không chỉ liên đến tây phương, nhưng có nhiều liên lụy với toàn thế giới. Những yếu tố chính trong khúc ngoặt lịch sử này là :

- Trào lưu nhân bản thuyết nhấn mạnh tính cách tự lập và cao qúi của con người.

- Những khám phá mới về khoa học, kỹ thuật có ảnh hưởng sâu rộng: máy in, máy hơi nước, la bàn....

- Những cuộc khám phá và những mối liên lạc giao thương với các lục địa khác với châu Âu, có những nền văn hóa và tôn giáo không phải là Kitô giáo.

- Cuộc cách mạng Pháp 1789 khởi đầu một phong trào cách mạng khắp nơi, muốn tách rời Giáo hội và nhà nước.

- Trào lưu vô thần phát triển ngay trong lòng châu Âu Kitô giáo.

- Cuộc cải cách Tin lành và các trào lưu cải cách  trong Giáo hội Công giáo (các dòng tu mới, công đồng Trente....). Nhiều yếu tố lớn trong Giáo hội và xã hội như vậy đưa đến một tiến trình tước đoạt, giảm thiểu ảnh hưởng của Giáo hội mỗi ngày mỗi mạnh hơn. Nhiều lãnh vực trước kia nằm trong tay Giáo hội nay tìm cách giữ sự độc lập riêng, trước tiên là về phương diện chính trị sau đó là văn hóa, khoa học, kỹ thuật, giáo dục cho đến cả lãnh vực bác ái và luân lý nữa.

 

Thế là sau hơn 10 thế kỷ, Giáo hội một lần nữa lại cảm thấy mình chỉ là một nhóm nhỏ giữa dòng một thế giới "trần tục" bao la. Sự phân biệt, đối kháng giữa Giáo hội và thế giới lại xuất hiện như trước kia và như một thách thức nghiêm trọng. Cũng từ đó mối hiệp nhất trong lòng Giáo hội lại bắt đầu hình thành, địa vị của người giáo dân được khôi phục lại dần dần.

 

Trước hết phải kể đến cuộc cải cách Tin Lành. Trào lưu này đưa tới một sự phân ly đau đớn cho Giáo hội, nhưng không phải là không có một số nét góp phần thúc bách cải tổ Giáo hội và đánh giá lại vị thế, vai trò của người giáo dân trong Giáo hội. Một số nét tích cực của phong trào cải cách Tin Lành là :

- Ý thức được tình trạng "chưa được Phúc Âm Hóa" ở nhiều miền, đặc biệt các vùng nông thôn, phong trào tin lành đã phát khởi một trào lưu rao giảng Tin mừng, làm rõ bản chất của Giáo hội trước hết là để phục vụ Tin Mừng.

- Đề cao việc đọc trực tiếp Kinh Thánh, dịch Kinh Thánh ra tiếng địa phương để người giáo dân không biết tiếng La tinh có thể đọc được.

- Khôi phục lại giá trị chức tư tế cộng đồng. Luther viết : "Chính phép Thánh Tẩy, việc loan báo Tin mừng và đức tin là những yếu tố duy nhất tạo nên tình trạng Giáo hội và thiết lập dân Kitô giáo".

 

Đáng tiếc là Luther đã đi quá xa khi đề cao chức tư tế cộng đồng để chống lại chức tư tế thừa tác và hàng giáo phẩm. Phản ứng chống lại những quá đáng của Tin lành, công đồng Trentô nhấn mạnh đến tính cách đặc biệt của chức linh mục thừa tác và không nói đến chức tư tế cộng đồng của người giáo dân. Tuy nhiên, trong đời sống, các nhà cải cách Công giáo không hề quên rằng bất cứ ai đã chịu phép rửa tội đều có trách nhiệm đối với sức sống của Giáo hội. Chẳng hạn vào cuối thế kỷ XVI, Philippê Nêri khi bắt đầu công cuộc tông đồ ở Roma cũng mới chỉ là một người đã chịu Thánh Tẩy. Tại Pháp, bà Acarie, đã biến nhà mình thành một trong những trung tâm tích cực nhất của cuộc cải cách Công giáo. Cả những nhà cải cách thuộc hàng giáo sĩ cũng nhắm đến mục tiêu "canh tân đời sống Kitô giáo" dựa trên việc khám phá lại ơn gọi do bí tích Thánh Tẩy (Jean Jacques Olier).

 

1.6. Giáo dân trong thế kỷ XIX và đầu thế kỷ XX

 

Cuộc Cách mạng Pháp năm 1789 đã đưa đến một trào lưu không thể nào cưỡng lại được nữa: các quốc gia dần dần tách khỏi bàn tay của Giáo hội để biến thành những xã hội hoàn toàn tục hóa. Ban đầu nỗ lực của các vị Giáo hoàng là tìm cách khôi phục lại một xã hội Kitô giáo như xưa, và không có cách nào khác lại phải cậy nhờ đến sự đóng góp của người giáo dân. Thế là hàng rào giới hạn sức lực của người giáo dân được mở ra, nhiều giáo dân nhiệt thành hăng hái lao vào cuộc, rồi các hiệp hội được thành lập nhằm tới các mục tiêu bác ái (chẳng hạn: Hội Thánh Vinh Sơn Phaolô) hoặc mục tiêu tông đồ (chẳng hạn: Hiệp hội Thanh Niên Công giáo Pháp ra đời năm 1886).

 

Thế nhưng, trào lưu thế tục hóa không vì thế mà suy giảm; các vị Giáo hoàng nhận ra là không thể quay ngược lại dòng lịch sử. Từ đó, ý thức tông đồ của Giáo hội cũng dần dần biến chuyển đến chỗ: phải làm chứng cho Chúa Kitô ở giữa lòng đời, làm chứng cho những gì căn bản và thuần khiết nhất của Kitô giáo, làm chứng bằng chứng tá của chính đời sống tràn đầy tình bác ái, đầy lòng tin, cậy, mến, chứ không phải bằng cách thiết lập một thế giới Kitô giáo như xưa. Ý thức mới này, may mắn thay lại mở màn cho một cuộc canh tân sâu xa hơn nhiều: canh tân ý thức đức tin, canh tân ý thức về đòi hỏi của Tin Mừng, canh tân phụng vụ, canh tân ý thức sứ vụ về những phương pháp tông đồ trong lòng xã hội trần tục.

 

Kết quả là một số phong trào Công giáo tiến hành được hình thành và hoạt động tích cực. Khởi đầu là phong trào Thanh Lao Công do linh mục Cardjin lập năm 1924 và được Đức Thánh Cha Piô XI hỗ trợ.

 

Về phần mình, Giáo hội tìm lại được sự thống nhất các thành phần, ý thức được tầm quan trọng của một chi thể mà lâu nay không được nhìn nhận đúng mức; nhất là Giáo hội sống lại tinh thần Cánh chung, là tính cách cốt yếu của Giáo hội.

 

Các người giáo dân trong thời đại này cũng tìm lại được phẩm giá của mình trong Giáo hội, ý thức mạnh mẽ sứ vụ được Chúa trao cho giữa trần gian. Trong lãnh vực tông đồ rõ ràng người giáo dân có nhiều điều kiện thuận lợi hơn tu sĩ và giáo sĩ. Nhất là sứ vụ trần thế được làm cho sáng tỏ hơn lúc nào hết. Khi thi hành công việc "làm đẹp bộ mặt thế giới" người giáo dân không chỉ mang tinh thần "để sống cho qua ngày", nhưng ý thức được ý nghĩa công việc đó là tiếp tục công trình sáng tạo của Chúa, là sắp xếp các sự vật cho thích hợp và hướng tất cả theo ý định ngàn đời của Thiên Chúa.

 

2. Tiến đến một nền thần học về giáo dân

 

Lần đầu tiên trong lịch sử Giáo hội, một công đồng chung đã dành hẳn một chương trong một hiến chế quan trọng để trực tiếp bàn về người giáo dân. Những khẳng định thần học về phẩm giá và ơn gọi của người giáo dân trong Công Đồng Vatican II, ngày nay, như lời Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II, "vẫn có tính hiện đại đáng ngạc nhiên đôi khi còn có tầm mức tiên tri"[3]. Những suy tư đó vẫn là nền tảng cho những triển khai thần học sau Công đồng, cũng như việc áp dụng những suy tư ấy vào đời sống thực tế của Giáo hội, để người giáo dân thực sự là một ơn huệ Chúa ban, góp phần giúp Giáo hội chu toàn sứ mạng của mình. Chúng ta cũng nhìn lại giáo huấn của Công đồng.

 

2.1. Những bước chuẩn bị

 

Chẳng phải ngẫu nhiên mà Công đồng đã có được một sáng kiến độc đáo và hình thành được một công trình như thế. Thánh Thần đã chuẩn bị, hướng dẫn và cũng chính Ngài đã thúc đẩy những bước tiến quyết định trong Giáo hội. Thánh Thần không chỉ làm việc nơi Công đồng, qua các nghị phụ, nhưng còn làm việc trong toàn thể đời sống của Giáo hội. Học thuyết của Công đồng không phải chỉ là một sáng kiến độc đáo mà còn là một sự tổng hợp, đúc kết, quảng diễn những gì đang sinh động trong đời sống Giáo hội, và sau cùng chính thức trình bày với toàn thể Dân Chúa. Ở đây, chúng ta có thể kể ra một vài dữ kiện tiêu biểu trên quãng đường đó trước khi đi vào giáo huấn căn bản của Vatican II về người giáo dân.

 

* Đóng góp của các thần học gia: Trong khoảng thập niên 30 của thế kỷ này, người ta thấy xuất hiện một số công trình nghiên cứu của các thần học gia bàn về phẩm trật trong Giáo hội và người giáo dân. Trong số đó đặc biệt phải kể đến đóng góp của cha Yves Congar OP.

 

* Đức Piô XII : trong bài nói chuyện với các tân hồng y ngày 20-2-1946, đức thánh cha Piô XII đã nói :

"Những người giáo dân đứng hàng ngũ những người tiên phong của đời sống Giáo hội. Nhờ họ mà Giáo hội trở thành nguyên lý sống động của xã hội nhân loại. Vì thế họ phải ý thức rõ rệt hơn rằng mình chẳng những thuộc về Giáo hội mà chính là Giáo hội".

 

Khẳng định đó của Đức Thánh Cha chắc chắn đã có một tiếng vang lớn. Thượng Hội Đồng Giám Mục 1987 và tông huấn "Kitô hữu giáo dân" của đức Gioan Phaolô II cũng đã nhắc lại ý tưởng đó[4].

 

* Những đại hội thế giới về tông đồ giáo dân: trong khi đó, từ sau thế chiến thứ nhất, đã có một số phong trào công giáo tiến hành nảy sinh ở các nước Tây phương và đã góp phần làm cho ý thức của Giáo hội về vai trò làm tông đồ của người giáo dân thêm mạnh mẽ. Cao điểm là những đại hội thế giới về tông đồ giáo dân năm 1951 và 1957.

 

- Tại đại  hội 1957, Đức Thánh Cha Piô XII một lần nữa lại đưa ra một ý niệm quan trọng, góp phần hình thành rõ nét hơn về vai trò của người giáo dân cũng như tính cách đặc thù trong ơn gọi giáo dân.

"Mối tương quan giữa Giáo hội và thế giới đòi phải có sự can thiệp của các tông đồ giáo dân. Việc "thánh hiến trần gian", trong cốt yếu, chính là công việc của người giáo dân, là những người hòa nhập một cách chặt chẽ vào đời sống kinh tế xã hội".

 

- Đức Gioan XXIII: Sau cuộc chiến tranh thế giới thứ hai, trước một xã hội tan nát nhưng cũng đồng thời manh nha nhiều yếu tố mới, đức thánh cha Gioan XXIII lại nhắc đến vai trò của người giáo dân như là lời đáp lại tiếng kêu khẩn thiết của thế giới :

"Giáo hội hôm nay phải đương đầu với một trách nhiệm lớn lao: đem sắc thái nhân bản và Kitô giáo vào trong nền văn minh hiện đại, sắc thái mà nền văn minh này đòi hỏi và dường như khẩn khoản nài xin, nhằm lợi ích phát triển và sự hiện hữu của nền văn minh ấy. Giáo hội chu toàn các trách nhiệm ấy, đặc biệt nhờ các giáo dân, là những người phải cảm thấy mình dấn thân vào việc thực hiện những hoạt động nghề nghiệp như là việc chu toàn một nghĩa vụ, như là một dịch vụ mà do họ thực hiện trong sự kết hiệp mất thiết với Thiên Chúa, trong đức Kitô, để làm vinh danh Ngài"[5].

 

2.2. Học thuyết Công Đồng

 

Công đồng Vatican II dành hẳn chương IV trong hiến chế tín lý Ánh Sáng Muôn Dân để bàn về phẩm giá vai trò của người giáo dân. Tuy nhiên chương IV này lại liên hệ mật thiết, đúng hơn là đặt nền tảng ở chương II nói về Dân Thiên Chúa. Vì thế trước khi đi vào những suy tư thần học của chương IV, chúng ta phải nhìn đến nền tảng chung của mọi thành phần trong Giáo hội, bởi vì phẩm giá và ơn gọi của các thành phần chỉ thực sự có được và có ý nghĩa đích thực trong nền tảng chung ấy mà thôi.

 

2.2.1. Giáo hội: Dân Thiên Chúa

 

Ý niệm “Dân Thiên Chúa” giữ một vị trí then chốt trong toàn thể tư tưởng của hiến chế Ánh Sáng Muôn Dân[6]. Ý niệm đó trình bày hình ảnh Giáo hội trong chiều kích lịch sử. Giáo hội là dân lữ hành trong trần gian và hướng về ngày cánh chung. Khi diễn tả Giáo hội là Dân Thiên Chúa, Công đồng thực sự đã lấy lại được một cách nhìn đã có từ trước, theo đó, Giáo hội chỉ thực sự là mình và chỉ thực sự đóng đúng vai trò của mình khi đặt mình trong dòng lịch sử cứu độ.

 

Theo cha Yves Congar OP, nguyên việc sắp xếp thứ tự các chương trình trong Hiến chế đã cho thấy một ý nghĩa quan trọng. Thứ tự các chương như sau :

1/ Mầu nhiệm Giáo hội.

2/ Dân Thiên Chúa.

3/ Phẩm trật trong Giáo hội.

4/ Người giáo dân.

 

Theo thứ tự này, Công đồng muốn nói lên rằng chính Giáo hội như Dân Thiên Chúa mới đích thực là nền tảng chung, là thực tại căn bản quy tụ và hiệp nhất mọi thành phần, chứ không phải như não trạng của một số người vẫn coi hàng giáo phẩm là nền tảng của Giáo hội.

 

Về nội dung của ý niệm Dân Thiên Chúa, chúng ta thấy có những điểm chính như sau :

 

* Sự liên tục trong kế hoạch cứu độ của Thiên Chúa

Giáo hội được Thiên Chúa kêu gọi làm dân của Ngài, một dân mới, kế tục và thay thế cho dân cũ là Israel. Dân mới này được triệu tập từ khắp muôn dân, đón nhận mọi người, hợp thành một dân duy nhất "trong Thánh Thần chứ không theo xác thịt"[7]. Trong chương trình cứu độ của Thiên Chúa, Dân Mới có một vai trò đặc biệt, không thể thay thế, không thể hoán đổi. Giáo hội thực sự là Dân cánh chung trong quãng thời gian mong chờ ngày cánh chung này.

 

* Gia nhập Dân Thiên Chúa

Mỗi người Kitô hữu được Chúa gọi không phải là đơn độc, một mình theo Chúa và một mình có trách nhiệm với Ngài, nhưng được mời gọi để gia nhập vào Dân Thiên Chúa, vào trong một cộng đồng đức tin, tham dự vào Thân mình mầu nhiệm của Đức Kitô là Giáo hội. Thuộc về Đức Kitô, đồng thời cũng có nghĩa là thuộc về Giáo hội. Công đồng nói :

"Thực vậy, chính Người đã lấy máu mình mà chuộc lấy Giáo hội (Cv 20,28). Người đổ tràn Thánh Thần và ban các phương thế thích hợp để kết hiệp thành một xã hội hữu hình. Thiên Chúa triệu tập tất cả những người tin và mong đợi Chúa Kitô, Đấng ban ơn cứu độ và hiệp nhất, nguyên lý của sự hòa bình, Ngài thiết lập họ thành Giáo hội để Giáo hội trở nên bí tích hữu hình của sự hiệp nhất cứu độ ấy cho toàn thể và cho mỗi người"[8].

 

Ý niệm giáo dân chỉ thực sự có ý nghĩa trong ý nghĩa chung của Giáo hội, vì Giáo hội là một thực tại nền tảng, không phải do các thành phần góp thành, nhưng chính Giáo hội thể hiện tính cách chung của mình nơi mỗi thành phần. Thần học về người giáo dân chỉ là một trắc diện trong toàn thể thần học về Giáo hội. Vì vậy, những khẳng định về giáo dân bao giờ cũng phải gắn liền với những xác quyết rộng lớn hơn, bao trùm hơn, trọn vẹn hơn đó là những khẳng định về mầu nhiệm Giáo hội.

 

Như thế, là Kitô hữu, trước tiên có nghĩa là được sát nhập vào dân của Chúa. Mọi ân huệ, phẩm giá và sứ vụ của người Kitô hữu đều phát xuất từ cộng đoàn dân Chúa mà họ được hiệp thông. Ơn gọi Kitô hữu, giáo dân hay các ơn gọi khác, chỉ có ý nghĩa trong cộng đoàn dân Chúa.

 

* Sống đức tin như một lịch sử ơn cứu độ

Phải công nhận rằng, từ lâu trong Giáo hội, vẫn có một não trạng “siêu lịch sử” chi phối suy tư thần học và cung cách sống đạo. Khuynh hướng ấy giả thuyết rằng việc gặp gỡ Thiên Chúa và đạt được ơn cứu độ của Ngài diễn ra hoàn toàn trong một nơi huyền nhiệm nào đó của tâm hồn, một tâm hồn không bị nhiễm bẩn do những thực tại của không gian và thời gian. Do đó, người ta nỗ lực thoát khỏi những biến động của thời cuộc, nhìn những biến cố lịch sử xung quanh mình như một thế giới đi song song hoặc bên ngoài đời sống thiêng liêng.

 

Khởi từ Vatican II, có một nỗ lực triển khai trong chiều hướng thần học lịch sử và cụ thể, để đưa Giáo hội thoát khỏi một lối nhìn siêu lịch sử và mở ra cho Giáo hội sự hiểu biết đa dạng, xuyên qua không gian và thời gian, qua những nền văn hoá và văn minh. Cuộc gặp gỡ lịch sử giữa con người và Thiên Chúa, dưới ánh sáng đức tin, là ý nghĩa đích thực của tất cả lịch sử và do đó, trở nên “lịch sử cứu độ” hay “nhiệm cục cứu độ”. Chân lý cứu độ không còn là một hệ thống các ý tưởng soi sáng từ trên cao, nhưng là một lịch sử hướng tới tương lai đầy tràn ý nghĩa mà con người không ngừng khám phá, xây dựng, thông hiểu và tác tạo nên.

 

Suy tư thần học trong những thập niên cuối thế kỷ XX, nhờ vào các nhà thần học như Newmann, Teilhard de Chardin, Congar, Chenu, Danielou, Rahner, de Lubac, Schillebeeckx ..., luôn ý thức rằng chiều kích thời gian thấm sâu vào đời sống tinh thần của con người và tạo nên tính chất thiết yếu của mọi kinh nghiệm nhân sinh cũng như kinh nghiệm đức tin. Kinh nghiệm đức tin chính là nhận ra “nơi chốn” thực hiện nhiệm cục cứu độ, kinh nghiệm ấy được thực hiện trong chính lịch sử. Theo nghĩa này, không có đức tin, không có ơn cứu độ, không có thần học nào ở ngoài lịch sử; bởi vì đức tin là sự trả lời đối với một biến cố, ơn cứu độ cũng chính là một biến cố và thần học chỉ có thể hiện hữu khi dựa vào những sự kiện, từ Abraham cho đến đức Giêsu Kitô, và đến Giáo hội, một Giáo hội vốn sống trong không gian và thời gian.

 

Kitô giáo không phải là một hệ thống các tư tưởng, nhưng là “nhiệm cục cứu độ”. Chúng ta không thể hiểu được thế giới nếu loại bỏ thời gian và những đặc tính riêng biệt, cụ thể của thế giới. Chính đường nét ấy thể hiện tính mới mẻ riêng biệt của mặc khải Do Thái – Kitô giáo, so với những quan niệm Đông phương cũng như Hy Lạp.

 

2.2.2. Bí tích Thánh Tẩy

 

Chính bí tích Thánh Tẩy hay nói rộng hơn các bí tích khai tâm Kitô giáo, là nguyên lý tháp nhập mỗi người vào trong Dân Chúa. Qua bí tích Thánh Tẩy, người Kitô hữu được cùng chết, cùng phục sinh với Đức Kitô. Người Kitô hữu chết đi cho con người cũ và sống lại thành nên một thụ tạo mới; được biến đổi hoàn toàn; có một phẩm giá, một địa vị mới và bước vào một lãnh vực mở ra một chân trời mới huyền nhiệm. Qua bí tích Thánh Tẩy, người Kitô hữu trở nên con Thiên Chúa, nên "những người con trong Người Con" - được hội nhập vào thân thể duy nhất của Đức Kitô là Giáo hội và được trở nên đền thờ sống động của Chúa Thánh Thần.

 

Cũng như Dân Thiên Chúa là thực tại nền tảng cho các thành phần trong Giáo hội, thì bí tích Thánh Tẩy là bí tích tháp nhập mỗi người vào Dân Thiên Chúa cũng thực sự là nền tảng của mọi bí tích khác và làm nên nền tảng chung của mọi Kitô hữu, giám mục, linh mục, tu sĩ cũng như giáo dân. Nền tảng chung này là: phẩm giá và ơn gọi làm con Chúa. Nền tảng chung đó thực sự đã bao hàm tất cả những gì cao quý nhất của cuộc đời Kitô hữu và xác định một sự bình đẳng thực sự giữa mọi thành phần trong Giáo hội. Chúng ta có thể nói được là: các ơn gọi khác nhau cũng như các bí tích khác nhau chính là những cách thức thể hiện cụ thể và riêng biệt một ơn gọi chung, là ơn gọi làm con Chúa được lãnh nhận trong bí tích Thánh Tẩy.

 

Đức thánh cha Gioan Phaolô II, trong tông huấn "Kitô hữu giáo dân" đã viết: "Thật không quá đáng khi nói rằng toàn bộ đời sống của giáo dân nhằm tới việc thông hiểu tính mới mẻ căn bản của Kitô giáo, phát sinh từ bí tích Thánh Tẩy"[9].

 

Và công đồng Vatican II trong hiến chế Ánh Sáng Muôn Dân viết :

"Thế nên chỉ có một dân Thiên Chúa được Ngài tuyển chọn 'Chỉ có một Thiên Chúa, một đức tin, một Thánh Tẩy' (Ep 4,5), cùng chung một phẩm giá của những chi thể, vì đã được tái sinh trong Chúa Kitô, cùng một ân huệ được là con cái, một ơn gọi trở nên trọn lành, một ơn cứu độ và một niềm hy vọng duy nhất, một đức ái không phân chia (...) giữa tất cả mọi người vẫn có bình đẳng thực sự, bình đẳng về phương diện phẩm giá và hoạt động của mọi tín hữu, để xây dựng thần thế Chúa Kitô"[10].

 

Như thế, hình ảnh Giáo hội không còn là hình ảnh một kim tự tháp, nhưng là một sự hiệp thông của mọi thành phần bình đẳng, hiệp thông vào ơn gọi và sứ vụ chung của Giáo hội.

 

2.3. Ba chức vụ: Tư tế - Ngôn sứ - Vương giả

 

Truyền thống Tân Ước xác nhận nơi Đức Kitô có tất cả những chức vụ liên quan đến vai trò của vị Cứu Tinh được nói trong Cựu Ước, đó là các chức vụ: Tư tế, Ngôn sứ và Vương giả.

 

Đức Kitô không phải là một vị tư tế, tiên tri hay vị vua như các vị khác trong Cựu Ước, nhưng Ngài chính là vị Tư Tế, Ngôn Sứ và Vương Giả đặc biệt và duy nhất, theo nghĩa hoàn hảo nhất.

 

Nhờ bí tích Thánh Tẩy, người Kitô hữu, mọi Kitô hữu, được tháp nhập vào Đức Kitô, thì cũng được thông chia ba chức vụ đó của Ngài. Không phải chỉ là một danh nghĩa bên ngoài, nhưng đó là một sự thông phần thực sự. Như vậy người Kitô hữu cũng phải thực sự đảm nhận trách nhiệm và thi hành tác vụ thích hợp với ba chức vụ đó của Chúa Kitô.

 

a. Chức vụ tư tế

 

Chúa Kitô là vị linh mục duy nhất, bởi vì chỉ có Ngài mới dâng lên Chúa Cha của lễ đích thực có thể xóa được tội lỗi con người. Của lễ đó chính là Mình Máu Ngài chứ không phải chỉ là máu chiên bò như các tư tế khác đã dâng và không cứu độ ai. Để thi hành chức vụ này cách trọn vẹn, Ngài cũng gọi một Dân là Giáo hội và Giáo hội được thánh hóa thành Dân Thánh, Dân Tư Tế.

 

Khi lãnh bí tích Thánh Tẩy, người Kitô hữu được tham dự vào chức tư tế của Đức kitô, người ta gọi là chức Tư tế Cộng đồng. Nhờ chức tư tế cộng đồng này, Kitô hữu có thể thực sự thánh hóa đời sống mình, thánh hóa mọi sinh hoạt, mọi trách vụ và kể cả các thử thách trong cuộc sống nữa. Tất cả những điều đó được thực sự kết hiệp với lễ vật của Đức Kitô mà dâng cho Chúa Cha, khi mà người Kitô hữu sống những hoàn cảnh đó trong đức tin, và trong lúc tham dự các bí tích, nhất là bí tích Thánh Thể. Hiến chế Giáo hội viết :

"Thực vậy những kẻ mà Người đã cho tham dự mật thiết vào sự sống và sứ mạng của Người, Người cũng cho họ dự phần vào chức vụ tư tế để họ thực hành việc phụng thờ thiêng liêng, hầu tôn vinh Thiên Chúa và cứu độ nhân loại (...)

.... Mọi hoạt động,  kinh nguyện và công cuộc tông  đồ, đời sống hôn nhân và gia đình, công ăn việc làm thường ngày, việc nghỉ ngơi thể xác và tinh thần, nếu họ chu toàn trong Thánh Thần và cả đến những thử thách của cuộc sống, nếu họ kiên trì đón nhận, thì tất cả đều trở nên của lễ thiêng liêng đẹp lòng Thiên Chúa nhờ Chúa Giêsu Kitô"[11].

 

b. Chức vụ Ngôn sứ

 

Tiên tri hay ngôn sứ là người thay mặt Thiên Chúa để nói cho nhân loại biết ý muốn của Ngài. Đức Giêsu là vị Ngôn Sứ cao cả mà Thiên Chúa đã hứa ban cho dân, Ngài là vị Ngôn Sứ chỉ nói "những điều đã nghe biết nơi Chúa Cha". Ta thấy chỉ có Đức Kitô mới đích thực là tiên tri theo nghĩa hoàn hảo nhất, vì chỉ nơi Ngài, ý định của Chúa Cha mới được tỏ lộ trọn vẹn. Các tiên tri khác chỉ là chuẩn bị và loan báo về vị Ngôn Sứ Kitô mà thôi.

 

Trong Giáo hội, người giáo dân được tham dự vào chức vụ ngôn sứ của Đức Kitô thì họ cũng góp phần vào sứ vụ loan báo ý định cứu độ của Thiên Chúa cho nhân loại: họ bày tỏ đức tin và đức ái cho những người chung quanh, trong lãnh vực nghề nghiệp và nhất là trong đời sống gia đình.

“Có một bậc sống rất giá trị để thể hiện nhiệm vụ đó, bậc sống được một bí tích đặc biệt thánh hoá, đó là đời sống hôn nhân và gia đình. Gia đình là môi trường hoạt động và trường học tuyệt diệu cho việc tông đồ giáo dân. Từ gia đình, Kitô giáo thấm nhập vào tất cả các tổ chức cuộc sống và dần dần biến đổi các tổ chức ấy; nơi gia đình, vợ chồng tìm thấy ơn gọi riêng của mình là làm chứng cho nhau và cho con cái lòng tin vào tình yêu Chúa Kitô. Gia đình Kitô giáo lớn tiếng loan truyền sức mạnh của Nước Thiên Chúa và niềm cậy trông vào một đời sống hạnh phúc. Như thế, bằng gương lành và chứng tá, gia đình Kitô giáo thuyết phục thế gian đảm nhận tội lỗi mình, đồng thời sáng soi những kẻ đang kiếm tìm chân lý”[12].

 

Ngoài ra, trong cuộc sống đó, người giáo dân cũng phải làm chứng cho một thế giới siêu việt hơn và làm chứng cho một chung cuộc của thế giới: ngày cánh chung. Họ phải vững tin trông đợi vinh quang một ngày kia sẽ đến.

 

c. Chức vụ Vương giả

 

Chúa Kitô một khi đã vâng phục Chúa Cha, lãnh nhận cái chết và đã phục sinh, Ngài bắt muôn vật phải phục vương quyền của Ngài cho đến khi Ngài đặt tất cả mọi sự suy phục Chúa Cha, để Thiên Chúa nên tất cả trong mọi sự (1 Cr 15, 27-28). Đó là vương quyền của Đức Kitô.

 

Khi lãnh nhận tước vị vương giả của Đức Kitô, người giáo dân được hướng một sự tự do đích thực, tự do vương giả, không còn làm nô lệ cho ác thần, nhưng chiến thắng ách thống trị của tội lỗi nơi mình. Đồng thời chức vụ đó cũng thúc đẩy người giáo dân hoạt động để đưa tất cả anh em mình cũng như tất cả vạn vật về với Thiên Chúa Cha.

 

Để thi hành sứ vụ này, Công đồng nhắn nhủ người giáo dân cần phải nhận biết bản tính sâu xa của các tạo vật, biết cùng đích của chúng là nhằm ca tụng Thiên Chúa. Cho nên người giáo dân, trong môi trường sống của mình giữa trần thế, cần phải nỗ lực làm cho trần gian thấm nhuần ơn cứu độ của Đức Kitô và đưa trần gian đạt tới cùng đích một cách hữu hiệu hơn trong công lý, bác ái và hòa bình.

 

Đó cũng là trách vụ chung của Giáo hội, nhưng trong công việc này, người giáo dân giữ một trách vụ chính yếu.

 

2.4. Tính cách trần thế

 

Với Công đồng Vatican II, chúng ta có thể thấy một giá trị mới xuất hiện trong tâm thức của Giáo hội: giá trị trần thế. Cuộc sống trần thế, cuộc sống thật của con người, không còn là một điều gì đi song song và bên ngoài vận hành của niềm tin. Chính thái độ trân trọng cuộc sống trần thế đưa người Kitô hữu trở lại một cuộc sống “hiện sinh” đầy tràn ý nghĩa, đặt người người Kitô hữu vào hành trình tìm kiếm Nước Trời thông qua cuộc sống và bao hàm những thái độ “có ý nghĩa” đối với dòng lịch sử trần thế.

 

Được lãnh nhận ba chức vụ Tư tế, Ngôn sứ, Vương giả của Đức Kitô, giáo dân có cùng phẩm giá với các thành phần khác trong Giáo hội. Nhưng tính cách riêng trong việc thi hành ba chức vụ này của người giáo dân là tính cách trần thế.

 

Chúa Kitô đã kêu gọi những người Kitô hữu làm con Chúa, làm môn đệ của Chúa, không phải để đưa họ tách khỏi thế gian, nhưng để sai đến trong thế gian. Tính cách "không thuộc về thế gian, nhưng được sai đến trong thế gian" một cách nào đó, chính là tiếp tục mầu nhiệm nhập thể của Ngôi Hai Thiên Chúa. Đó cũng chính là sứ mạng chung của Giáo hội, và của mọi thành phần khác trong Giáo hội. Nhưng sứ vụ trần thế này thể hiện rõ rệt nhất nơi ơn gọi riêng của người giáo dân và nó làm nên tính cách riêng biệt đặc thù của người giáo dân.

 

Tính cách trần thế không chỉ có nghĩa là họ phải sống ở giữa trần gian, vì sinh kế hay là vì một nghĩa vụ trần thế nào đó, nhưng thực ra nó chính là một sứ vụ của Giáo hội. Sứ vụ đó bao hàm :

- Trước tiên nhờ những mối giây liên lạc xã hội, gia đình, người giáo dân sống liên đới, đồng cảnh với mọi người.

- Nhờ những mối giây liên lạc đó, người giáo dân làm dậy lên chất men Tin Mừng, nêu cao lòng tin, cậy, mến của một người con Chúa và làm chứng cho người khác về tình yêu Thiên Chúa.

- Ngay khi thi hành những công việc hoàn toàn trần thế, người giáo dân cũng nhằm mục đích là làm cho mọi thực tại trần thế "biết ca tụng Đấng Sáng Tạo, quy hưởng những tạo vật đó về con người để con người lại quy hưởng về Đức Kitô".

 

Như vậy tính cách trần thế, theo Công đồng xác định, không chỉ có nghĩa xã hội (vì phải hiện diện ở đó một trăm phần trăm vì một nghĩa vụ trần thế nào đó), nhưng có một tính cách thần học, nghĩa là mang một sứ vụ đặc biệt và riêng biệt của người giáo dân. Trách vụ đó không có tính cách thụ động, không phải chấp nhận bất đắc dĩ, nhưng là một động lực tích cực giúp người giáo dân mạnh dạn dấn thân. Như thế, người giáo dân không chỉ mong chờ ngày cánh chung, nhưng thực sự góp phần làm cho ngày đó mau chóng được thực hiện. Đó là một nhiệm vụ hết sức quan trọng và cao quý. Ta hãy nghe Đức Gioan Phaolô II nói trong bài giảng bế mạc Thượng hội đồng giám mục 1987 :

"Người tín hữu giáo dân được đặt vào tận biên thùy của lịch sử: gia đình, văn hóa, xã hội, thế giới lao động, kinh tế, chính trị, khoa học, kỹ thuật, truyền thông đại chúng, những vấn đề lớn của sự sống, của liên đới, hòa bình, đạo đức nghiệp vụ, nhân quyền, giáo dục, tự do tôn giáo".

 

2.5. Mọi Kitô hữu đều có ơn gọi nên thánh

 

Trong bài giảng bế mạc Thượng hội đồng Giám mục 1987 về chủ đề "Giáo dân", đức thánh cha Gioan Phaolô II đã nói rằng :

"Người giáo dân mang ơn gọi nên thánh, ao ước mãnh liệt có một linh đạo riêng, xứng hợp và khẩn thiết".

 

Những lời đó là tiếng vang dội lại từ một khẳng định của công đồng Vatican II :

"Vì thế tất cả mọi người trong Giáo hội....đều được kêu gọi lên thánh, như lời thánh Tông Đồ dạy: Vì Thiên Chúa muốn anh em được thánh hóa”. (1 Tx 4,3, Ep 1,4)[13].

 

Đây là vấn đề tương đối mới, vì trước đây người ta thường hiểu, hay ít ra, thường cảm nhận chung chung là nhiệm vụ phải sống thánh thiện chỉ đòi buộc các linh mục, tu sĩ và ai muốn nên trọn lành thì tìm đến một lối sống "giống giống" như lối sống của các người đó. Não trạng này chắc chắn không phù hợp với truyền thống Giáo hội sơ khai, trong đó mọi người đều được kêu gọi nên thánh, và được gọi là "các thánh của Chúa". Công đồng Vatican II khẳng định lại chân lý này, một chân lý vốn có ngay từ đầu và có lẽ đã bị bỏ quên khá lâu.

 

Khi lãnh bí tích Thánh Tẩy, như trong Giáo hội sơ khai, người Kitô hữu được gọi là "các thánh của Chúa". Đó không phải là một danh xưng bên ngoài, nhưng nói lên một thực tại, một sức sống thực sự sâu xa, trong lòng người Kitô hữu. Ơn gọi nên thánh là một khía cạnh của thực tại này nên nó cũng là một điều thiết yếu, nội tại, gắn liền với cuộc đời người Kitô hữu. Như thế, với Công đồng, người ta tìm thấy được một hoa trái mới mẻ đặc biệt, đó là một “linh đạo giáo dân”.

 

Tính cách riêng của người giáo dân, như công đồng Vatican II xác định, là tính cách trần thế. Như vậy, chính trần thế là nơi người giáo dân được gọi, được đặt vào đó thể hiện ơn gọi nên thánh của mình chứ không phải nơi nào khác. Người giáo dân cần phải sống, thể hiện phẩm cách của "các thánh của Chúa" trong cuộc sống hằng ngày của mình ở giữa trần thế: trong gia đình, công việc, trong những mối tương quan xã hội....tất cả những điều gì dệt thành đời sống của người giáo dân.

 

Phẩm giá của người giáo dân gắn liền với sứ vụ tông đồ và với ơn gọi nên thánh. Vì thế chính sứ vụ tông đồ và ơn gọi nên thánh của người giáo dân cũng gắn liền với nhau. Người giáo dân không thể nại cớ phải chu toàn nhiệm vụ trần gian mà lơ là, bỏ qua ơn gọi nên thánh, hoặc là ngược lại. Đây cũng không phải là một đòi hỏi nghịch lý. Chẳng phải là người giáo dân phải khó khăn chu toàn hai trách vụ tách biệt nhau. Trái lại, hai trách vụ đó kết thành một, hay đúng hơn, đó là hai khía cạnh của một cuộc sống, hoặc ngay cả của cùng mỗi một hành vi.

 

Thượng hội đồng giám mục 1987 về giáo dân xác quyết sự thánh thiện của người giáo dân nhất thiết phải gắn liền với nghĩa vụ trần thế :

"Chúa Thánh Thần khiến ta khám phá mỗi ngày một rõ là ngày nay sự thánh thiện chỉ có thể đi liền với dấn thân phục vụ công lý, trong tình liên đới với người nghèo, với kẻ bị áp bức. Sự thánh thiện điển hình của người giáo dân phải kết hợp chiều kích xã hội, dựa theo chương trình của Thiên Chúa mà cải tạo thế giới".

 

Ngược lại, công việc trần thế chỉ có được ý nghĩa đích thực, có được sự phát triển đúng đắn như Thiên Chúa muốn khi mà người giáo dân, nhờ kết hiệp với Chúa, có thể nhìn ra được ý định của Cha đối với trần gian, đồng thời họ có được sức mạnh của Chúa để dấn bước trên đường sứ vụ.

 

2.6 Mọi Kitô hữu đều có sứ vụ làm tông đồ

 

Tông đồ giáo dân, đó không phải là một vấn đề mới mẻ gì trong Giáo hội. Ngay từ khi Giáo hội được thành lập, bên cạnh các tông đồ, vẫn luôn có rất nhiều người giáo dân, nam cũng như nữ, công tác tích cực vào công việc loan truyền Nước Chúa. Sự đóng góp đó vẫn luôn có trong Giáo hội, qua suốt quá trình lịch sử, cho dù có được chính thức công nhận hay không, cho dù có được một nền tảng lý thuyết thần học hay không.

 

Tuy nhiên, phải công nhận rằng, cho đến công đồng Vatican II, sứ vụ tông đồ của người giáo dân vẫn chưa có được một nền tảng lý thuyết rõ ràng. Trong một số thời kỳ, việc tông đồ giáo dân được coi gần như là một ngoại lệ, do ân huệ đặc biệt và riêng tư của một số giáo dân mà thôi.      

 

Nền tảng thâm sâu của sứ vụ tông đồ chính là ý định của Chúa Cha[14]. Ý định đó được thực hiện trong Đức Giêsu Kitô, Ngài là Đấng Thiên Sai, đã đến trong thế gian để thi hành sứ vụ Chúa Cha trao cho, sứ vụ cứu độ nhân loại khỏi tội và giao hòa con người, cũng như toàn thể vũ trụ với Chúa Cha[15]. Sau khi Chúa Kitô hoàn thành sứ mạng ở trần gian, Chúa Thánh Thần được phái đến để tiếp tục làm cho trọn vẹn công trình của Đức Kitô, hướng dẫn nhân loại tiến về ngày cánh chung, ngày hoàn tất ý định cứu độ của Chúa Cha[16]. Giáo hội là nơi thể hiện đặc biệt toàn thể "sứ vụ" của Ba Ngôi Thiên Chúa. Giáo hội vừa đón nhận ơn cứu độ của Thiên Chúa, lại vừa tiếp tục loan báo ơn cứu độ của Chúa cho nhân loại[17].

 

Khi lãnh nhận bí tích Thánh Tẩy, người Kitô hữu nhận lãnh được tất cả phẩm giá cũng như trách nhiệm của người con Chúa. Hơn nữa, nhờ bí tích Thêm sức, họ được đầy ơn Chúa Thánh Thần để có đủ khả năng chu toàn sứ vụ đó. Ơn gọi làm tông đồ không phải là một điều gì thêm vào phẩm giá của người giáo dân, không phải là một đòi hỏi "nhiệm ý", không phải chỉ là một lời khuyên những người thiện chí, cũng không phải là luật trừ dành riêng cho những người đặc biệt, nhưng nằm trong chính bản chất của ơn gọi làm con Chúa. Bởi vì "ơn gọi làm Kitô hữu, tự bản chất, cũng chính là ơn gọi làm tông đồ"[18].

 

Nhưng như thế không có nghĩa là mọi phần tử trong Giáo hội đều hoàn toàn như nhau, không có gì khác biệt. Trong ơn gọi chung và sứ vụ chung của Giáo hội, cũng có ơn gọi riêng và có thể nói, một "sứ vụ riêng" của mỗi thành phần. Để chu toàn được sứ vụ của mình, một sứ vụ duy nhất, Giáo hội cần đến nhiều sứ vụ, những sứ vụ đa dạng. Đó là những cách thế khác nhau để hoàn thành một mục tiêu chung.

 

Như thế, giáo dân có một sứ vụ riêng, khác biệt với sứ vụ của các thành phần khác trong Giáo hội. Sứ vụ này không phải có được do thiếu linh mục thừa tác cũng không phải là phụ thuộc, giúp đỡ các linh mục, tu sĩ, nhưng đó là một sứ vụ đích danh, của Chúa và Giáo hội trao phó, không thể thay thế bằng một loại khác hay bỏ qua được. Linh mục Rey Mermet nói rằng người giáo dân lãnh nhận sứ vụ tông đồ như một sự uỷ nhiệm của đức Kitô một cách trực tiếp,… đó là sự uỷ nhiệm có tính bí tích[19]… Dĩ nhiên, chúng ta hiểu được là sứ mệnh đó được lãnh nhận trong lòng Giáo hội, vì Giáo hội chính là “bí tích phổ quát của ơn cứu độ”.

 

Sứ vụ riêng của người giáo dân là cách thức thể hiện ba chức vụ Tư tế, Ngôn sứ và Vương giả của Đức Kitô theo cách thế phù hợp với tính cách riêng biệt, tức là tính cách trần thế.

"Vì bản chất riêng của người giáo dân là sống giữa đời và làm việc đời, nên chính họ được Thiên Chúa kêu gọi để một khi tràn đầy tinh thần Kitô giáo, họ làm việc tông đồ giữa đời như men trong bột"[20].

 

Một cách cụ thể hơn, ta thấy công cuộc cứu độ của Đức Kitô cốt yếu nhằm cứu độ nhân loại, nhưng cũng bao gồm việc canh tân tất cả trật tự trần thế[21]. Hai khía cạnh đó cũng là hai khía cạnh trong sứ vụ tông đồ của cả Giáo hội[22].

 

Người ta thường gọi hai lãnh vực này là "trật tự tự nhiên" và "trật tự siêu nhiên". Chúng khác biệt nhau nhưng không đối nghịch nhau. Bởi vì chỉ có một Thiên Chúa, Đấng đã sáng tạo thế giới, sắp xếp những quy luật thiên nhiên để vũ trụ vận hành, tồn tại và phát triển; và cũng chính Thiên Chúa ấy đã sai Con Một yêu dấu của Ngài đến, chịu chết và phục sinh, để ban ân sủng cho con người; và cũng chính Ngài, ngày nay, vẫn đang cử Thánh Thần đến, hiện diện bên cạnh Giáo hội, soi sáng, nâng đỡ và trợ giúp con người để họ đón nhận ân sủng cứu độ của Đức Kitô. Hai lãnh vực đó cùng nằm trong ý định duy nhất của Thiên Chúa về thế giới và con người.

 

Sứ vụ tông đồ của giáo dân, thể hiện một phần sứ vụ của Giáo hội, nên cũng thông qua hai lãnh vực đó.

 

* Lãnh vực siêu nhiên

Trong lãnh vực này, sứ vụ chính yếu được ban cho hàng giáo sĩ là những người có nhiệm vụ giảng Lời Chúa và ban các bí tích. Nhưng người giáo dân cũng có rất nhiều cơ hội để đóng góp phần của mình.

"Chính chứng tá đời sống Kitô hữu và những việc làm được làm với tinh thần siêu nhiên có sức lôi kéo người ta đến đức tin và đến với Thiên Chúa" (Mt 5,16).

 

Ngoài ra, giáo dân còn có thể dùng lời nói để loan truyền Tin mừng Chúa Kitô cho người tin cũng như người chưa tin, mạnh dạn nói lên những nguyên tắc đạo lý Kitô giáo mà ngày nay người ta muốn loại bỏ.

* Trong lãnh vực tự nhiên

Lãnh vực tự nhiên chẳng phải là những gì xấu xa, đầy ma quỷ. Giáo lý trong sách Sáng Thế cho thấy mọi sự do Chúa sáng tạo đều tốt đẹp[23]. Công đồng nói :

"Tất cả những gì tạo nên trật tự trần thế như giá trị của cuộc sống và của gia đình, văn hóa, kinh tế, nghệ thuật và nghề nghiệp, tổ chức công đoàn chính trị, bang giao quốc tế và những thực tại tương tự khác, cũng như sự biến chuyển và tiến bộ của chúng, tất cả những thực tại đó, hoặc xét ngay trong bản tính chúng, hoặc xét chúng như thành phần của toàn thể trật tự trần thế, chẳng những chúng là phương thế giúp loài người đạt tới mục đích tối hậu, mà chúng còn có giá trị riêng do Thiên Chúa phú bẩm"[24].

 

Câu cuối trong đoạn văn công đồng đó cho thấy Công đồng xác nhận sự chính đáng của một trào lưu tư tưởng hiện nay, theo đó người ta muốn nhìn các sự vật trần thế hoàn toàn trong quan điểm nhân loại, độc lập với các lãnh vực siêu nhiên, đó là khuynh hướng trần tục hóa.

 

Để thi hành sứ vụ tông đồ cả trong lãnh vực siêu nhiên cũng như tự nhiên, nguyên tắc nền tảng chính là Đức ái. Đó là dấu chỉ đặc biệt của người môn đệ Chúa Kitô: "Nếu các cao yêu thương nhau, thiên hạ cứ dấu này mà nhận biết các con là môn đệ Thầy" (Ga 13,35).

 

Tạm kết

 

Cần ghi nhận thêm là Công đồng luôn nhấn mạnh đến tính cách ưu tiên của “Giáo hội toàn thể”. Mọi tác vụ trong Giáo hội đều là tham dự vào tác vụ của Chúa Giêsu và nhằm để phục vụ cộng đoàn. Tiêu chuẩn để đánh giá các tác vụ là tiêu chuẩn cộng đoàn. Chẳng hạn, nền thần học về chức linh mục trước Vatican II có khuynh hướng “quy Kitô”, linh mục là “Kitô đệ nhị”,.. Trong khi đó, nền thần học tác vụ của Vatican II là diễn tả khuynh hướng “quy Giáo hội”, theo đó, các đoàn sủng và tác vụ đều nằm trong ơn gọi và sứ vụ chung của Giáo hội toàn thể.

 

Cũng nên lưu ý rằng, trong ý hướng ban đầu của sắc lệnh Tông Đồ Giáo Dân, đã có sự phân biệt giữa việc “tông đồ trực tiếp” và “tông đồ gián tiếp”; hoặc phân biệt giữa “tông đồ chuyên biệt” và “tông đồ không chuyên biệt”. Theo đó, việc tông đồ trực tiếp và chuyên biệt là những việc gắn liền với việc truyền bá Tin Mừng và thánh hoá Kitô hữu. Còn những hoạt động tông đồ gián tiếp và không chuyên biệt là những hoạt động làm đẹp bộ mặt trần gian, xây dựng xã hội trần thế theo tinh thần Tin Mừng. Quan niệm trên đã không được chấp nhận trong bản văn chính thức, và như thế, không được coi việc xác định tính trần thế của ơn gọi giáo dân như một sự xếp hạng cao thấp, mà như một sứ vụ riêng biệt, một lãnh vực đặc sắc của ơn gọi giáo dân.

 

Với những xác quyết hết sức rõ ràng của Công đồng Vatican II, phẩm giá, địa vị của người giáo dân đã tìm lại được một nền tảng thần học thật là vững chắc, và chắc hẳn đó là một bước ngoặt mở ra một viễn tượng mới, nhờ đó người giáo dân càng ngày càng thể hiện rõ ràng hơn, mạnh mẽ hơn và phúc lợi hơn vai trò của mình trong Giáo hội cũng như trong xã hội. Từ đây không ai còn có thể từ chối hay cố tình bỏ quên địa vị của người giáo dân nữa.

 

 

( trích bài của Lm Nguyễn Trọng Viễn O.P.)

 

 


Giới thiệu

Thông báo

Đăng nhập



Tổng lượt truy cập

Nha khoa, Rang su Tham my, Cay ghep rangNha khoa, Rang su Tham my, Cay ghep rangNha khoa, Rang su Tham my, Cay ghep rangNha khoa, Rang su Tham my, Cay ghep rangNha khoa, Rang su Tham my, Cay ghep rangNha khoa, Rang su Tham my, Cay ghep rang
mod_vvisit_counterHôm nay109
mod_vvisit_counterHôm qua155
mod_vvisit_counterTuần này109
mod_vvisit_counterTuần trước1389
mod_vvisit_counterTháng này2669
mod_vvisit_counterTháng trước6563
mod_vvisit_counterTất cả545886

Chúng ta có: 6 khách online
IP của bạn: 54.234.228.78
 , 
Hôm nay : Tháng 12 16, 2018