Trang chủ  /  SỐNG ĐẠO TRUYỆN GIÁO DỤC

Ban hành Giáo họ Nâm N' Dir chúc tết quí cha và thầy giúp xứ

 
Ảnh của Phi Hung Nguyen.
Ảnh của Phi Hung Nguyen.
Ảnh của Phi Hung Nguyen.
 

Năm Mới - Tâm niệm mới


Trầm Thiên Thu

 

Năm mới đã khởi đầu. Những cái khởi sự mới cũng đang bắt đầu: Canh tân, chấn chỉnh, quyết tâm,... Đây là 10 sứ điệp của các danh nhân nhắn nhủ với chúng ta trong năm mới này... Hãy hành động ngay, bạn nhé!

ĐAM MÊ. Anthony Robbins nói: “Không có sự vĩ đại nếu không có niềm đam mê lớn, niềm đam mê đó tạo nên tên tuổi các nghệ sĩ, vận động viên, khoa học gia, người cha, người mẹ, doanh nhân,...”. Thật vậy, muốn đạt tới sự vĩ đại, bạn phải yêu thích chính những gì bạn làm. Ngay cả thập giá cũng vậy, không đam mê không vác nổi đâu!

MƠ ƯỚC. Johann Wolfgang von Goethe nói: “Bất cứ điều gì bạn có thể làm hoặc muốn làm, hãy bắt đầu ngay. Can đảm có tố chất thiên tài, sự kỳ diệu và sức mạnh”. Cứ ngại, cứ sợ, chẳng bao giờ làm được gì. Dám làm là tự tin, dám làm là yếu tố dẫn tới thành công, hãy dám làm những gì bạn mơ ước và phải khéo léo vận dụng.

HÀNH TRÌNH. Henry Boyle nói: “Hành trình quan trọng nhất trong đời bạn là gặp gỡ người khác tên đường đi”. Gặp gỡ thân mật với nụ cười chứ không chỉ nhìn nhau rồi thôi. Yêu thương khởi đầu từ nụ cười, ánh mắt, rồi mới có thể hành động cụ thể. Cảm thông và hiểu người khác có thể tạo nên sự khác biệt.

TÌM QUÊN. Og Mandino nói: “Khi bạn sai lầm hoặc thất vọng, đừng quay lại nhìn nó quá lâu. Lỗi lầm là cách cuộc đời dạy chúng ta. Việc phạm sai lầm khác với việc đạt mục đích. Không ai hoàn toàn chiến thắng, thất bại là mẹ thành công, thất bại chỉ là một phần trong quá trình phát triển. Hãy quên đi các lỗi lầm. Làm sao bạn biết mình hữu hạn? Hãy đứng dậy và bước tới!”. Nhân vô thập toàn, không ai không sai lầm, chỉ có Thiên Chúa mới là Đấng chí thiện. Biết vậy không phải để ỷ lại mà để cố gắng sống tốt. Sai thì sửa, té ngã thì đứng dậy, đừng nằm lì ra đó!

TÔI LÀ TÔI. Steve Jobs nói: “Thời giờ có hạn, đừng lãng phí thời gian mà sống bằng cuộc đời của người khác. Đừng sập bẫy giáo điều – tức là sống theo suy nghĩ của người khác mà không dám là chính mình. Đừng lệ thuộc ý kiến của người khác mà đánh mất chính mình. Quan trọng nhất là hãy can đảm theo con tim mình và trực giác của mình. Đó là cách bạn thực sự muốn cho mình, mọi thứ khác là thứ cấp”. Dĩ nhiên chúng ta không bảo thủ hoặc coi thường ý kiến của người khác, nhưng đừng lệ thuộc người khác. Ý kiến của người khác cũng đa dạng, cần biết minh định rạch ròi, nếu yếu bóng vía thì bạn sẽ “qụy ngã” vì các tin đồn của các “bà tám” hoặc “ông tám”.

TIN TƯỞNG. Marie Curie nói: “Cuộc sống không dễ dàng đối với bất cứ ai. Vậy là sao? Chúng ta phải kiên trì và tự tin. Chúng ta phải tin rằng mình có tài về lĩnh vực nào đó, và chúng ta sẽ đạt được như lòng mong ước”. Cuộc đời không như tấm thảm êm đềm, mà luôn gập gềnh, khúc khuỷu. Đôi khi chúng ta cảm thấy mệt mỏi vì số kiếp lận đận. Nhưg không phải vậy, vì cụ Phan Bội Châu đã nói: “Ví phỏng đường đời bằng phẳng cả, anh hùng hào kiệt có hơn ai”. Những người có tên tuổi đều là những người đã chịu nhiều thất bại, đau khổ, họ hơn chúng ta vì họ có ý chí sắt thép. Thánh Phaolô đã chịu nhiều thử thách nhưng vẫn không đầu hàng trước số phận, lại còn “tự hào về những yếu đuối của mình” (2 Cr 11:1-33). Lòng tự tin của Thánh Phaolô là niềm tín thác vào Đức Giêsu Kitô.

CƠ HỘI. Oprah Winfrey nói: “Cuối năm không là kết thúc cũng không là khởi đầu, mà là tiếp tục với sự khôn ngoan từ kinh nghiệm thấm nhuần trong chúng ta. Chào đón năm mới, đó là cơ hội mới để chúng ta phấn đấu”. Hãy rút lấy các bài học quý giá từ kinh nghiệm, và hãy áp dụng các bài học “xương máu” đó trong năm mới này. Rút ra rồi đừng để đó hoặc than thân trách phận, hãy quyết tâm cố gắng làm tốt hơn năm cũ.

KHỞI ĐẦU. Mẹ Teresa Calcutta nói: “Hôm qua đã qua. Ngày mai chưa tới. Chúng ta chỉ có hôm nay. Hãy bắt đầu từ hôm nay”. Thời gian là của Chúa. Chúng ta không làm chủ thời gian nhưng được quyền quản lý thời gian. Thời gian hiện tại rất quý. Hãy tập trung vào hôm nay, đừng ủ rũ vì quá khứ và mơ mộng với tương lai. Có hôm qua mới có hôm nay, có hôm nay mới có ngày mai. Trong ca khúc “Hát Về Cây Lúa Hôm Nay”, NS Hoàng Vân thật chí lý khi xác định: “Ngày mai đang bắt đầu từ ngày hôm nay…”.

NÊN MỚI. Lão Tử nói: “Khi tôi cởi bỏ chính tôi, tôi trở nên cái tôi phải là”. Hãy tập trung vào con người mà bạn muốn trở nên, cứ trở nên dần dần, cứ từ từ, từng chút một. Đường gần hoặc xa không thành vấn đề, mà vấn đề là bạn có bước từng bước hay không. Chẳng ai có thể nhảy một cái là tới ngay nơi mình muốn đến. Chính những bước nhỏ lại có thể tạo nên hành trình dài. Kỳ lạ thật!

THỰC HIỆN. Mae Jemison nói: “Vị trí của bạn trong thế giới này là chính cuộc đời bạn. Hãy bước đi và làm những gì bạn có thể, hãy làm cho cuộc đời mình như bạn muốn”. Mỗi người phải chịu trách nhiệm về cuộc đời mình, chính cha mẹ hoặc người thân cũng không ai có thể giúp gì hơn. Dám làm thì dám chịu. Vả lại, Thánh Phêrô đã nói rõ: “Thiên Chúa là Đấng không vị nể ai, nhưng cứ theo công việc mỗi người mà xét xử” (1 Pr 1:17).

Theo ngũ hành, năm 2015 là năm Ất Mùi, thuộc mệnh Kim hoặc Sa Trung Kim, tức là “vàng trong cát”. Đấy là nói theo quan niệm phàm nhân cho biết, cho vui thôi, đừng “nặng lòng” vì những điều vớ vẩn. Khởi đầu năm mới, hãy ghi nhớ: “Đức Giêsu Kitô vẫn là một, hôm qua cũng như hôm nay, và như vậy mãi đến muôn đời” (Dt 13:8).

Tết Dương Lịch 2015.

 

 

Tướng Cướp


Một Linh mục thông thái Dòng Tên, người Napoli, cha Julio Recupito năm 1664 đã xuất bản một cuốn sách rất giá trị về những dấu hiệu ơn tiền định, cuốn sách Ngài viết câu chuyện sau đây để chấm hết cho tác phẩm của Ngài.

Tôi không thể im lặng, không thể làm ngơ mà không kể ra đây một câu chuyện mới xảy ra, mà vị Giám Mục thận trọng, đáng tin cậy đã kể lại và chính Ngài đã xác nhận sự đúng đắn của nó:

Mấy năm nay có một tướng cướp quen làm nghề trong vùng phụ cận một thành phố danh tiếng ở nước Ý, thuộc trong quyền cai quản của Ngài. Một hôm bọn đồng đảng dẫn về cho hắn một thiếu nữ rất nhan sắc. Thiếu nữ nài xin hắn tha thiết rằng vì lòng yêu mến Đức Mẹ Maria xin đừng làm nhục danh tiết mình.

Một làn lửa vô hình của lòng tôn sùng Đức Mẹ còn sót lại trong đáy hồn tên cướp đã chiến thắng dục vọng đê hèn của hắn. Không những hắn ưng nhận lời thiếu nữ nài xin mà còn muốn tránh cho nàng khỏi bị đồng đảng làm đê nhục, hắn đã dẫn nàng an toàn ra khỏi khu vực ấy, lại xin nàng cầu nguyện với Đức Mẹ Maria mà nàng thiết tha yêu mến ấy cho mình nữa.

Đêm hôm ấy tướng cướp đang ngủ, hắn thấy một vị Nữ Hoàng vẻ mặt uy nghi hiện đến nhìn hắn một cách hiền từ và nói:

Hôm qua, con đã làm một việc gì yêu mến Ta, việc ấy đẹp lòng Ta lắm, Ta sẽ nhớ đến con.

Hắn thức dậy, coi việc đó là một giấc mơ không đáng để ý, bèn quên bẵng.

Ít lâu sau hắn bị bắt giam. Đêm trước ngày hắn bị hành hình, vị Nữ Hoàng uy linh lần trước lại hiện ra khi hắn ngủ và nói:

Con có biết Ta không?

Hắn trả lời rằng đã có lần trông thấy một người giống hệt như thế. Nữ Hoàng nhắc lại câu đã nói với hắn lần trước và thêm rằng:

Ta là Maria Nữ Vương Trời Đất, vì lòng yêu mến Ta mà con đã tôn trọng người thiếu nữ đã tận hiến cho Ta. Ta đến thưởng con vì hành động đó; sau khi con bị hành quyết. Ta sẽ đem con vào nơi vĩnh phúc.

Việc lạ lùng ấy làm tên cướp tỉnh dậy, ơn thánh đang hoạt động trong mình hắn, hắn lấy làm vững tin rằng Đức Nữ Vương trên trời đã hiện ra với hắn và hứa cho hắn được cứu rỗi linh hồn.

Thế là người ta thấy hắn run lên vì được sung sướng, hắn xin được cấp tốc đem ra xử vì hắn biết đó chính là con đường lên nơi hằng sống. Cùng một lúc hắn có hai bản tính khác nhau; một đau đớn thống thiết và một vui mừng khôn tả; vì một đàng hắn tỏ ra đau đớn chua xót vì các tội đã phạm, một đàng phần thưởng sắp được làm hắn say sưa một niềm vui khôn sánh. Người ta nói đó 1 đấng tử đạo bay đến pháp trường, chứ không phải là một tên tướng cướp bị điệu đi xử tử.

Hắn tỏ với cha giải tội duyên cớ đau đớn và vui mừng khác lạ ấy, bằng lòng cho Cha tỏ ra với mọi người. Ngay trên bậc giảo hình đài, Cha đã kể lại truyện đó. Toàn dân cảm tạ đón nhận tin vui này, họ sung sướng tràn nước mắt, đua nhau tung hô tình thương siêu vời của Mẹ Maria.

Trong lúc xác tướng cướp treo cao trên giáo đài, nhưng tỏ ra một nét đẹp rất bình tĩnh đến cảm động.

Mẹ Maria thường ưu đãi như vậy với những tội nhân có một vài tâm tình yêu mến Mẹ đặc biệt, giống như Thánh Anselmô, Cha Thomas Cotipre và Cha Pelbart đã làm chứng.

Source: Catholic World


 

 

Truyện ngắn Công Giáo : Giao Thừa


Hôm nay đã là 29 tháng Chạp, nhà chị Tâm vẫn chưa có hương vị ngày tết. Một nách 3 đứa con, chị phải tảo tần từng ngày. Hương, đứa con lớn của chị, muốn có chiếc áo mới mặc tết mà cũng chưa mua được. Ngọc phải dùng lại áo của Hương. Chị Tâm mới mua cho Thuận một bộ, chỉ là hàng may sẵn, rẻ tiền. Chồng chị Tâm mất, một tháng qua gia đình lâm vào cảnh khó khăn hơn. Hằng ngày mấy mẹ con sống nhờ vào gánh cháo, rau cháo qua ngày.

Thi thoảng, tiếng nhạc xuân vang lên từ xa vọng lại. Chợ búa, phố xá nhộn nhịp hẳn lên. Xe cộ như nêm. Xuân rộn ràng khắp chốn. Hương ngồi buồn so, lứa tuổi khoe áo quần mà chẳng có được manh áo mới. Có mấy cái, mới lắm cũng đã cả nửa năm nay. Nhà chưa một miếng mứt hay chút hạt dưa để gọi là tết. Thậm chí nhà cửa vẫn bám đầy bụi bặm. Mọi vật còn nằm nguyên vị trí. Nhìn lên di ảnh ba, Hương thấy ánh mắt ba thật tha thiết. Hương vội đứng dậy cầm chổi quét lại căn nhà chật hẹp như để tránh ánh mắt ba. Nhưng Hương đi đâu ba cũng nhìn theo. Ánh mắt ba quyện nỗi buồn nhưng tỏa lan tình thương bao la trời biển. Hương thấy cay cay nơi sống mũi, rồi Hương bỏ chạy xuống bếp. Hương biết ba vẫn nhìn theo mình.

Cơm vừa cạn nước. Lớp bọt trào ra còn đọng lại quanh miệng nồi trắng xóa như những ước mơ rạo rực trong lòng. Hương khuấy nhẹ vài vòng cho đều gạo. Vài chiếc bong bóng cuối cùng phồng to lên rồi vỡ toang. Hương nghĩ đến hoàn cảnh gia đình và sợ rằng ước mơ cũng vỡ òa như bong bóng nước. Ngày ba còn sống, tuy cũng cực khổ nhưng không đến nỗi. Dẫu sao vẫn còn ba chung vai gánh vác với má. Giờ này chỉ mình má chạy bữa, mọi thứ đè nặng đôi vai má. Mới một tháng qua mà trông má tiều tụy nhiều. Hương hiểu hoàn cảnh gia đình nhưng chưa thể làm gì để giúp má. Ngày ngày một buổi đến trường, một buổi về nhà làm việc vặt vãnh trong nhà. Hương thấy mình còn được đi học là còn may mắn hơn nhiều bạn khác.

Bộp. Một thanh củi rớt xuống. Hương cúi người nhặt thanh củi lên cho lại vào lò. Nghĩ đến gia đình nghèo mà vẫn ấm áp tình yêu thương, Hương mỉm cười và thấy vui vui, rồi ngâm nga: “Lạy Chúa từ nhân, xin cho con biết mến yêu và phụng sự Chúa trong mọi người…”. Hương vừa quay ra thì thấy Má.

– Má về trễ vậy?

– Bữa nay bán chậm quá. Nấu cơm xong chưa con?

– Dạ, xong rồi má à.

– Dẹp đồ cho má rồi ăn cơm nghe con.

– Dạ, má để con làm cho. Má nghỉ chút đi.

– Ừ.

Cuộc sống tảo tần nên dù mới 40 tuổi đời mà trông chị già hẳn đi. Những vết nhăn thoáng hiện nơi khóe mắt và mái tóc điểm những sợi mang màu thời gian. Sáng bán cháo, chiều về chị nhận hàng may gia công. Tuy chẳng được bao nhiêu tiền nhưng biết sao hơn, chị vẫn phải cặm cụi từng ngày để kiếm tiền nuôi các con. Năm nay Hương học lớp 12, thành con gái rồi. Gần tết, chị thấy buồn vì con gái chưa có được những gì đơn giản nhất. Một chiếc áo có là bao mà đối với hoàn cảnh gia đình chị lại cần nhiều hy sinh. Được cái Hương cũng ngoan và không đòi hỏi nhiều, chị cũng thấy nhẹ lòng. Dù gia cảnh khó khăn nhưng tối nào chị cũng lần chuỗi Mân Côi và chuỗi Lòng Chúa Thương Xót, và chị muốn tập các con có thói quen cầu nguyện và sống đạo hạnh.

– Con mời má xuống ăn cơm.

Chị Tâm uể oải đứng dậy, nói:

– Gọi các em về ăn cơm đi con.

– Dạ.

Hương thoăn thoắt đi ra cổng. Ngọc và Thuận cũng đang về tới. Hai chị em giành nhau ôm lấy má. Chị Tâm ôn tồn:

– Trưa rồi sao các con không về ăn cơm?

Ngọc nhanh nhảu:

– Con đợi má về mà.

– Chị ba xạo đó má. Con nói về mà chỉ hổng chịu đó má.

Chị Tâm cười, vừa cầm tay con trai vừa nói:

– Sao con trai má không về trước? Thôi, vô ăn cơm đi các con.

Bữa cơm đạm bạc. Lòng chị Tâm se lại khi thấy các con thiếu thốn. Thuận chồm tới:

– Má cho con con cá lớn nha.

– Đồ Bát Giới. – Ngọc vừa nói vừa nhìn Thuận.

Chị Tâm kéo tay Thuận lại:

– Ăn vừa phải thôi. Giành cả cho mình như vậy là ích kỷ, xấu lắm nghe con. Con phải biết nghĩ tới người khác nữa. Cô giáo dạy con thế nào?

Thuận phụng phịu:

– Chị ba nói con là Bát Giới kìa!

– Con đừng giành ăn nhiều thì chị ba sẽ hết nói con là Bát Giới. Má gỡ xương cho con nha. Con làm dấu trước rồi mới được ăn.

Rồi chị nói tiếp:

– Các con đi học giáo lý, Chúa dạy phải yêu thương thì các con phải vâng lời Chúa, không được tranh giành và thù hằn nhau nghe chưa?

– Dạ.

Chị Tâm không dám ăn nhiều đồ ăn, chị muốn dành cả cho các con. Tấm lòng người mẹ bao la đến nỗi đâu ai hiểu thấu. Tình Mẹ là huyền-thoại-có-thật. Hương mới chỉ có thể hiểu một phần nhỏ. Cảnh khổ tôi luyện con người nên khôn. Cái khó ló cái khôn, nhưng đôi khi cái khó lại “bó” cái khôn. Hương nhìn má không chớp mắt. Chị Tâm nhắc:

– Hôm nay má tính mua cho con chiếc áo mà không đủ tiền.

Dù thương má nhưng Hương chưa đủ hiểu sâu, vì dù sao Hương vẫn còn trẻ người non dạ. Nhất là con gái mới lớn khó tránh được những mơ ước về trang sức. Hương thấp giọng:

– Áo con cái nào cũng cũ rồi.

– Má biết con buồn. Đâu phải má không muốn con bằng chúng bạn. Nhưng mỗi bữa bán có lời được bao nhiêu. Thôi được, chiều nay má ra chợ mua cho con. Con thích màu gì? Má nghĩ màu trắng là đẹp và hợp nhất với tuổi học sinh.

– Nhưng… nhưng… tiền đâu má mua?

– Má hỏi bác Thụy rồi.

Hương nghe niềm vui reo trong lòng khi có chiếc áo mới, nhưng lại không khỏi buồn vì biết má phải vay mượn số tiền đó. Mượn thì có khác gì ăn xin? Hương thương má vô cùng. Rồi má lại phải vất vả hơn. Hương cảm thấy hối hận. Mắt Hương nhòa đi. Má ơi!

o0o

Chiều 30 tết. Chị Tâm vừa gói xong ít bánh tét gọi là cho các con có tết. Chị đứng dậy và gọi con gái:

– Hương ơi, dọn dẹp bàn thờ xong chưa con?

– Dạ, sắp xong rồi má.

– Xong rồi con bỏ bánh vào nồi luộc nghe.

– Dạ.

Ngọc vẫn ngồi chăm chú xem ti-vi. Thuận chạy vào đòi mặc quần áo mới. Hương nói với em:

– Để ngày mai mặc chứ em. Hôm nay chưa tết mà.

– Ngày mai dẫn em đi chơi nghe chị hai.

Hương mỉm cười, vừa nựng cằm em vừa nói:

– Ừa.

Thấy má loay hoay dọn dẹp, Hương tới gần:

– Má để đó con dẹp cho. Má nghỉ đi.

– Con bỏ bánh vào nồi luộc cho sớm. Má dọn chút là xong mà.

Chị Tâm thu dọn nhanh để kịp ra chợ. Vừa bỏ bánh vào nồi Hương vừa nói với má:

– Má nè, tối nay cho con lên nhỏ Phượng chơi nghe má.

– Ừ, lên chút rồi về nghe con. Đừng có chơi khuya. Đêm nay giao thừa đó.

– Dạ.

Trời mỗi lúc càng vào xuân. Hương thấy rạo rực trong lòng. Một nữ sinh lớp 12 hẳn là tràn đầy mơ ước tươi hồng. Nhánh mai nở những cánh hoa vàng ươm. Nhưng sao nổi buồn vẫn lan tỏa vì tết này thiếu vắng ba. Nghĩ mà thương ba biết bao! Vì thương má mà ba bị bên nội làm ngơ. Nhà ngoại nghèo nên cũng không giúp gì được. Ba má phải tự lực cánh sinh từ bàn tay trắng. Đạp xích lô hoài, đi sớm về khuya nên ba ngã bệnh. Không đủ tiền chạy chữa, ba đã phải đầu hàng số phận. Còn lại mấy má con quấn quýt hủ hỉ bên nhau. Ngoại đã nghèo lại ở xa, tuổi cao sức yếu thì làm gì được cho con cháu. Thi thoảng ngoại vẫn gởi cho ít mắm, ít gạo. Mỗi lần nhắc đến ngoại, má thường rươm rướm nước mắt. Ngoại sống với dì Năm ở quê, dì cũng không khá gì cho lắm. Số nghèo đeo đẳng mãi như bóng ma ám ảnh con người, không chịu buông tha. Chỉ vì đồng tiền mà người ta đánh mất tình người, thậm chí cả tình thâm gia đình. Nó vô tri mà có sức mạnh và sức quyến rũ kỳ lạ. Hương cố gắng học mong mai sau làm được điều gì đó hữu ích cho gia đình, cho xã hội, và vượt lên khỏi số phận nghiệt ngã của cuộc đời hôm nay. Ít ra ngoại và má sẽ hài lòng. Ước mơ của Hương là trở thành nhà văn để viết về ngoại, về má, và những số phận bất hạnh.

o0o

Đã 9 giờ tối. Tối như đêm 30. Từ nhà Phượng về, Hương phải đi qua chợ. Vài người còn lại đang thu dọn hàng để về nhà đón giao thừa. Ở một góc tối, một cô bé nhỏ con hơn Hương chừng vài tuổi ngồi bâng quơ nhìn người qua lại. Ai cũng có vẻ vội vã. Ngày xưa ba thường gọi đêm nay là đêm trừ tịch. Nghe cũng hay hay và có vẻ văn chương nên Hương thích vậy thôi chứ Hương chưa hiểu gì. Ba nói Hương có khiếu văn chương nên luôn quan tâm những điều có liên quan lĩnh vực này. Tuy nhà nghèo nhưng Hương còn có má là nguồn vui vô tận. Cô bé kia chắc là không có nơi nương tựa nên giờ này mới còn ở đây. Hương lại gần:

– Sao em ngồi đây?

– Em buồn quá.

Hương nắm tay cô bé, nhẹ giọng:

– Sao em buồn? Nói chị nghe nào!

Cô bé cúi thấp và lắc đầu. Hương động viên:

– Nói chị nghe đi, biết đâu chị giúp em được gì chăng?

Như được truyền thêm sinh khí, cô bé tự tin và đều giọng:

– Ba mất, má em lấy chồng khác. Hằng ngày em phải đi bán vé số. Em xin chiếc áo mới mặc tết mà má và dượng không cho, còn nói này nói nọ. Em thấy tủi thân quá!

Hương chợt nghĩ đến chiếc áo mới má vừa mua cho. Cô bé này còn giúp ích cho gia đình mà không được hưởng chút công lao, dù nhỏ thôi. Tuy mấy chiếc áo của Hương không còn mới nhưng vẫn tươm tất, sạch sẽ và tương đối. Ba đã dạy, và má cũng vẫn thường nói: “Giá trị con người không tùy thuộc vào vật chất hoặc bề ngoài, mà chính tâm hồn và nhân cách mới làm nên con người”. Một danh nhân nào đó còn nói: “Trang sức bề ngoài lòe loẹt chứng tỏ một tâm hồn nghèo nàn và bệnh hoạn”. Hương tự thấy mình dù sao cũng còn hạnh phúc hơn cô bé này.

– Em tên gì? Còn đi học không?

– Em tên Giáng Hương. Em phải nghỉ học từ hồi mới học hết lớp Bảy.

Hương tươi cười:

– Chị là Thiên Hương. Vậy là chị em mình trùng tên rồi.

– Chị đi đâu tối vậy?

– Chị mới ở nhà người bạn về. Nhà em ở đâu?

– Ở cuối con đường này. – Giáng Hương vừa nói vừa đưa tay chỉ về phía tay phải.

– Em về nhà chị chơi nhé. Gần đây thôi.

Giáng Hương ngập ngừng:

– Em… em ngại lắm.

– Có gì mà ngại. Nhà chị cũng nghèo lắm. Đi em!

Giáng Hương nhẹ gật đầu và đứng dậy đi theo Thiên Hương. Thế là hai cô bé trở thành đôi bạn, chuyện trò vui vẻ như đã quen lâu rồi. Tiếng nhạc xuân réo rắt vang lên phả ra đầy ắp không gian. Mùi bánh kẹo, mứt và bánh chưng theo gió du xuân khiến khứu giác mọi người thỏa mãn.

Má đang sửa soạn bàn thờ ba. Thiên Hương nói lớn:

– Thưa má, con mới về.

Chị Tâm quay ra. Giáng Hương khẽ thưa:

– Chào bác.

– Chào cháu.

Quay sang con gái, chị Tâm hỏi:

– Ai vậy con?

Thiên Hương kể cho má nghe hoàn cảnh của Giáng Hương và xin phép má tặng bạn chiếc áo. Chị Tâm xúc động đến rơi lệ khi nghe con gái nói. Những giọt nước mắt đầm ấm niềm vui. Đôi khi người ta cũng cần khóc. Khóc cho trôi bớt nỗi buồn. Khóc cho nhẹ bớt tân toan. Khóc cho nồng nàn thương yêu. Chị khóc vì mừng khi thấy con gái mình bắt đầu lớn, biết nghĩ đến người khác, biết yêu thương và chia sẻ với người khác. Chị thầm tạ ơn Chúa luôn đồng hành với chị và các con. Đưa tay lau mắt, chị Tâm ôn tồn:

– Được rồi. Con tự do quyết định. Còn Giáng Hương, con ở lại đây ăn tết với bác, với Thiên Hương và các em nha.

Nghe vậy, Giáng Hương cũng rưng rưng. Mọi người đều xúc động. Họ không muốn ngăn lại những giọt yêu thương đang chảy trào… Năm mới đã khởi đầu, khởi đầu từ tình thương, khởi đầu từ Tình yêu Thiên Chúa và Lòng Chúa Thương Xót.

Không có tiếng pháo trừ tịch như ngày xưa nhưng nhà chị Tâm lại có những tiếng cầu nguyện thánh thiện, và những tiếng cười rộn ràng bên đĩa bánh chưng nóng hổi. Căn nhà nhỏ đơn sơ nhưng ấm áp một mùa xuân mới. Hạnh phúc đâu phải là những gì cao xa, lạ kỳ ở nơi nào khác, mà hạnh phúc luôn hiện diện quanh đây, rất gần, rất bình thường. Hạnh phúc sẽ ùa vào ngay khi cõi lòng mở ra với niềm yêu thương chân thành. Tình yêu thương là một phép mầu giữa đời thường, luôn cần thiết. Thiên Chúa thực sự đang hiện diện giữa họ…

TRẦM THIÊN THU


 

Những tin nhắn chúc mừng năm mới 2014

 

Các tin nhắn chúc mừng năm mới

- Chúc bạn có một bầu trời sức khỏe, một biển cả tình thương, một đại dương tình bạn, một điệp khúc tình yêu, một người yêu chung thủy, một sự nghiệp sáng ngời, một gia đình thịnh vượng.

- Chúc cả gia đình bạn vạn sự như ý, tỉ sự như mơ, triệu triệu bất ngờ, không chờ cũng đến!

- Năm mới Tết đến. Rước hên vào nhà. Quà cáp bao la. Mọi nhà no đủ. Vàng bạc đầy hũ. Gia chủ phát tài. Già trẻ gái trai. Sum vầy hạnh phúc. Cầu tài chúc phúc. Lộc đến quanh năm. An khang thịnh vượng!

- Chúc một năm mới vui vẻ, 12 tháng sức khỏe, 52 tuần thành công, 365 ngày hạnh phúc, 8.760 giờ tốt lành, 525.600 phút may mắn, 31.536.000 giây như ý...

- Đong cho đầy hạnh phúc - Gói cho trọn lộc tài - Giữ cho mãi an khang - Thắt cho chặt phú quý...

- Hoa đào nở, chim én về, mùa Xuân lại đến. Chúc nghìn sự như ý, vạn sự như mơ, triệu sự bất ngờ, tỷ lần hạnh phúc...

- Cung chúc tân niên, Sức khỏe vô biên, thành công liên miên, hạnh phúc triền miên, túi luôn đầy tiền, sung sướng như tiên.

- Today 3 people ask me about you. I gave them your details and contact. They’ll be finding you soon. Their names are Happiness, Wealth and Love. Cheers - Happy New Year". (Hôm nay có 3 người hỏi tôi về bạn và tôi đã giúp để họ tìm đến với bạn ngay. Tên của 3 người ấy là Hạnh phúc, Thịnh vượng và Tình yêu".

Chúc nhau bằng thơ, câu đối:
- Xuân này hơn hẳn mấy xuân qua.
Phúc lộc đưa nhau đến từng nhà.
Vài lời cung chúc tân niên mới.
Vạn sự an khang vạn sự lành
- Năm mới chúc nhau sức khỏe nhiều.
Bạc tiền rủng rỉnh thoải mái tiêu.
Gia đình hạnh phúc bè bạn quý.
Thanh thản vui chơi mọi buổi chiều.
- Đầu xuân năm mới chúc BÌNH AN,
Chúc luôn TUỔI TRẺ chúc AN KHANG.
Chúc sang năm mới nhiều TÀI LỘC,
Công thành danh toại chúc VINH QUANG..
- CUNG kính mời nhau chén rượu nồng
CHÚC mừng năm đến, tiễn năm xong
TÂN niên phúc lộc khơi vừa dạ
XUÂN mới tài danh khởi thỏa lòng
VẠN chuyện lo toan thay đổi hết
SỰ gì bế tắc thảy hanh thông
NHƯ anh, như chị, bằng bè bạn
Ý nguyện, duyên lành, đẹp ước mong
- Cung chúc tân niên một chữ nhàn
Chúc mừng gia quyến đặng bình an
Tân niên đem lại niềm Hạnh Phúc.
Xuân đến rồi hưởng trọn niềm vui.

HAPPY NEW YEAR! CHÚC MỪNG NĂM MỚI !

Nguồn : Sưu tầm

 


Không khí giáng sinh rộn ràng khắp thế giới


01

Những vị khách du lịch người Nhật thích thú trước một gian hàng tại chợ giáng sinh lâu đời nhất nước Đức Christkindlmarkt. Cứ mỗi năm, đến khoảng thời gian cuối tháng 11, đầu tháng 12 khu chợ Christkindlmarkt được tổ chức tại Nuremberg lại thu hút hàng triệu du khách trong và ngoài nước đến mua sắm và tham quan.

02

Quả cầu khổng lồ được trang trí đèn rực rỡ tại Nice, nước Pháp.

03

Đường Krakowskie Przedmiescie nằm trong khu thành cổ ở Warszawa (Ba Lan).

04

Hội chợ Giáng sinh Budapest được tổ chức tại Quảng trườngVorosmarty, trung tâm Budapest, Hungary.

05

Đệ nhất phu nhân Mỹ Michelle Obama cùng con của các sĩ quan quân đội Mỹ trang trí Nhà Trắng ngày 4/12.

06

Cây thông 22 năm tuổi, 11 mét cao ở Burgundy, Pháp này sẽ góp phần tô điểm cho đêm giáng sinh tại điện Elysee.

07

Quảng trường Syntagma, trung tâm Athens. Năm nay những con thuyền chiếu sáng sẽ là chủ đề chính trong đêm giáng sinh thay vì những cây thông truyền thống.

08

Trung tâm thành phố San Salvador, Mexico.

09

San Joaquin de Flores, phía bắc San Jose, Costa Rica.

10

Một sân băng được xây dựng chào mừng giáng sinh tại khu Hạ Manhattan, New York.

11

Thủ đô Viên, nước Áo.

12

Khu vực trung tâm Budapest.

13

Ông Eric Marshall ngồi trước ngôi nhà trang trí rực rỡ ánh đèn của mình tại Bagby, miền bắc nước Anh.

14

Nhà thờ St. Stephen tại Viên, nước Áo.

15

Những món đồ trang trí xinh xắn được bày bán tại trung tâm thành phố San Salvador, Mexico.

16

Khu trung tâm thành phố London.

Nguồn :Sưu tầm




 

TIẾNG CHUÔNG ÐỒNG

Tác giả: Nguyễn Tầm Thường


“Chúa ơi! sao Cha xứ mình keo thế!” “Cha keo thì bà bếp cũng khổ, chả bao giờ được ăn miếng thịt!” Chuyện Cha xứ hà tiện lại được đem ra làm đề tài. “Chả bao giờ mua sắm cái gì cả. Chắc Cha phải có hàng trăm ngàn!” Một bà khác: “Có một thân một mình, chả mấy ngày không có lễ mồ bậc nhất! Lại còn mấy sào ruộng nhà xứ nữa!” Có giọng thêm vào: “Còn mấy cây xoài chung quanh nhà thờ để làm gì! Cứ tiền bán xoài năm nay thì Cha cũng đủ tiêu cả năm!” Dựa lưng vào tường, bà quản giáo góp lời: “Mà lạy Chúa tôi! Bà bếp cũng chịu khó quá, cả rau cỏ cũng chẳng phải mua!” Chạy ra gốc cau nhổ miếng nước trầu, bà phó hội buông một câu sắc như dao: “Gớm! ở với Cha xứ keo như thế thì không chịu khó cũng chả được!” Mùa lúa gặt xong, không còn chuyện đầu làng cuối xóm, các bà quay về chuyện Cha xứ.

Gian phòng không gì đáng giá vài trăm bạc. Chiếc bàn gỗ cạnh cửa sổ không sơn phết. Cánh tủ bị nứt một đường lớn, dán có thể chui qua. Tủ không bao giờ khóa nhưng cũng treo lủng lẳng một chiếc khóa sắt sét rỉ. Ðôi giầy cất trên nóc tủ, chỉ đi vào những ngày lễ trọng. Cái giường gỗ mốc, chiếc gối đầu đan bằng tre mây cạnh chiếc mền có dấu hiệu hai bàn tay bắt nhau của Mỹ viện trợ cho dân di cư năm 1954. Chiếc mũ loại chủ đồn điền cao su người Pháp ngày xưa, móc vào cây đinh trên cột mùng. Chiếc đồng hồ quả quýt tróc sơn với những con số la mã, để ở cạnh chỗ mấy cuốn sách latin. Ðáng giá nhất: Cái xe đạp.

Ngoài phòng khách: Chiếc bàn dài, mỗi bên ngồi được mươi người, trải tấm nhựa có in hình trái dứa với ô vuông màu xanh đậm. Một chai nước lọc không đậy nút, che bằng chiếc phễu làm bằng giấy. Dăm ba chiếc ly trên chiếc khay nhôm. Hình đức Cha địa phận trên tường đã bạc màu. Vào ngày Tết có thêm bình nước trà và bình thủy đựng nước nóng. Ngoài ngày Tết, bà bếp lại cất đi.

Cái hà tiện mà mấy bà hay mở đầu câu chuyện là những bữa cơm của Cha. Miệt quê chỉ họp chợ vào ban sáng. Chợ họp từ tờ mờ cho đến khi rõ mặt trời thì tan. Cứ xem người đi chợ mà biết ngày hôm đó họ ăn gì, kinh tế gia đình ấy ra sao. Ở ngôi làng nhỏ này, người ta chẳng những biết tính tình, gia thế của nhau mà còn biết nhiều thứ khác nữa. Cha già cũng không thoát khỏi những thứ biết ấy. Chẳng phải là việc của các bà, nhưng có vậy thì mới có chuyện mà nói chứ. Các bà cứ bực mình là tại sao Cha xứ có tiền mà chẳng bao giờ dám ăn ngon. Nào là bà bếp chỉ mua tép để kho mặn, họa huần mới mua thịt thì chỉ mua một miếng bằng ngón tay để bằm nhỏ nấu canh hoa thiên lý! Nói thì nói vậy, chứ các bà cũng thương ngài lắm. Chẳng ai chê trách Cha già được điều gì cả. Cha hiền từ, nhân đức, không hề làm mất lòng ai. Chỉ có điều làm các bà cứ bực mình là tiền Cha để làm gì, có một thân già tội gì mà phải ăn uống như thế cho nó khổ!

Không hôm nào cửa sổ trên gian cung thánh không mở từ một giờ trưa đến ba giờ chiều. Giờ Cha cầu nguyện. Nó như cái đồng hồ chạy gần hai mươi năm nay, không bao giờ sai. Không ai biết quê quán Cha ở đâu. Từ ngày di cư năm 1954 đến ngày Cha về hưu là mười chín năm mà không có người bà con nào đến thăm. Cha cũng không hề bỏ xứ đi vắng trừ những dịp cấm phòng. Có lần ông trùm hỏi:

- Sao Cha không bao giờ đi đâu cả?

- Ði thì mình cũng tốn mà chủ nhà đón khách cũng tốn!

Không biết nói thật hay chơi, câu trả lời bất hủ ấy càng làm cho các bà thêm chuyện về tính hà tiện của một Cha già.

* * *


Bắt đầu bàn chuyện xây nhà thờ cũng là thời điểm Cha già có thể về hưu. Ðức Cha đã cho phép ngài nghỉ. Sau hai mươi năm di cư, nhà thờ xây tạm từ ngày định cư đầu tiên trên khu đất hoang, bắt đầu sụp đổ. Mái tôn viện trợ hai mươi năm trước đã mục, mưa dột. Cửa sổ long bản lề, nhiều cái đã đóng chằng bằng những khúc ván thông. Những năm đó là thời gian quân đội Mỹ còn ở Việt Nam. Vào khoảng thời gian này, nhiều nhà thờ cũng đã được xây lại nhờ sự trợ giúp do thiện chí của quân đội đồng minh.

Hơn một năm quyên góp mà chẳng đi đến đâu. Làng nghèo. Hết đóng tự ý lại bổ nhân danh, cứ đầu người mà đóng, nhiều đóng nhiều, ít đóng ít. Ðông con, nhà nghèo lại phải đóng nhiều nên sinh lắm chuyện chẳng hay. Kẻ đóng tiền, người nộp thóc. Ðóng góp mãi dân chúng xót ruột. Không đóng sợ bị trục xuất, chết không có người đưa. Kêu ca, nhưng biết làm sao, nhà thờ bắt đầu đổ, giá nào cũng phải làm lại. Nhiều linh mục xin Mỹ giúp mà làm được nhà thờ. Thấy các xứ chung quanh có nhà thờ, dân lại càng bực bội. “Sao Cha không xin lính Mỹ ít gỗ, ít xi măng”. Ðối với Cha già, hình như quân đội đồng minh không hề có mặt ở đây: “Nhà thờ của các con thì các con phải xây lấy.”

Tiền thu không đủ, nhưng đợi đến bao giờ. Chạy từng thùng thóc. Vật giá leo thang vùn vụt. Nhà thờ hư quá rồi không chần chừ được nữa. Vào một ngày nọ, Cha già quyết định khởi công. Có ai là người phấn khởi vì biết ngày nào hoàn thành! “Rõ thật là chuyện các Cha già!” “Cứ tay mà cuốc thì đến bao giờ, chỉ nhờ xe Mỹ ủi cho vài nhát là xong!”. Cằn nhằn. Nhưng sau một tháng thì nền nhà thờ cũng thành hình. Hàng trăm nhát cuốc góp lại, kiến tha lâu có ngày đầy tổ. Cả xứ làm nhân công, người lớn gánh đất, con nít khuân gạch. Tường bắt đầu xây. Có lòng góp sức, nhưng vật liệu rồi cũng cạn. Ôi! lực bất tòng tâm. Nhà nhờ dang dở. Hy vọng mong manh và niềm vui thành cằn nhằn.

* * *


Thế rồi bất chợt một ngày, có tiếng loan tin: “Các bà ơi, Mỹ nó giúp xứ mình rồi!” Buông miếng trầu trên tay: “Chuyện gì thế?” Vừa phe phẩy cái nón vừa hối hả: “Ra mà xem, xe chở bao nhiêu tôn đến.” Ngẩng đầu lên, một bà: “Ðã bảo mà, cứ nhờ Mỹ ngay từ đầu thì có phải xong nhà thờ rồi không.” “Cha già thật lẩm cẩm, nó cho thì cứ xin chứ làm gì mà phải tự ái.” Những buổi chiều nhàn rỗi, đề tài lính Mỹ cũng thường được chiếu cố tận tình. Chỗ nào có Mỹ thì con gái hư hỏng. Chỗ nào có Mỹ thì có xì ke. Mỹ ở đâu thì tội ở đó. Nhưng từ ngày có những chuyến xe tiếp tế đến thì cái nhìn của các bà về lính Mỹ bớt hằn học. Cái nhìn của kẻ thọ ơn đã xoay chiều.

Vật liệu tiếp tục chở về. Bàn tay với bàn tay. Sân nhà thờ vang tiếng cười. Ước mơ được ngôi giáo đường đang thành sự thật. Ðối với xóm giáo di cư này thì không có gì bằng nhà thờ. Mất nhà thờ thì niềm tin ở vào đâu. Nhìn nhà thờ cao dần bắt đầu nghiêng thành bóng lúc ngả chiều, lòng người ai cũng rộng mênh mông chờ tiếng chuông khánh thành. Ngày ấy chắc phải vui lắm. Cứ mơ một khung trời mà ai cũng hân hoan.

Cha già lâm bệnh phải vào nhà thương lúc nhà thờ gần xong. Dấu hiệu cuối đời, tiếng điểm của thời gian cho một con người đã đến. Hai mươi năm trời không bao giờ Cha xa làng. Sáng dâng lễ, tối cầu kinh. Bỗng dưng hôm nay thiếu bóng Cha. Hình ảnh ấy lạ quá. Như chiếc kim đồng hồ đang đều đặn bỗng dưng rơi xuống. Tự nhiên xứ đạo vắng hẳn đi. Một thứ trống trải mà từ trước tới nay không ai cảm thấy. Buổi chiều bên giàn trầu. Chuyện của các bà: “Mới vắng Cha mấy hôm mà xứ vắng quá!” “Ừ, tôi cũng thấy thế, cứ như nhà có đám ma.”

Cha già xa xứ cả tuần lễ rồi. Khi có đau đớn và chia lìa thường làm con người quý xót thương và yêu mến bao dung. Buổi kinh trưa của các bà không còn thấy cửa sổ trên gian cung thánh mở nữa. “Tội nghiệp cho Cha, già cả rồi bây giờ lại đau yếu thì lấy ai mà chăm sóc lúc về hưu.” Không biết bao giờ Cha già mới khỏe. Mà bệnh gì vậy. Lại già cả rồi. Tình cảm này nuối tiếc tình cảm kia. “Chúa ơi, Cha già mà chịu khó quá. Cứ lụ khụ khuân gạch một mình.” Một bà khác: “Chẳng ngày nào mà không đội cái nón trắng đi trộn cát với phu hồ, mà trời thì cứ nắng quá sức.” Phẩy chiếc quạt, có giọng tiếp: “Ừ, tôi nói thật đấy, khó có Cha xứ nào mà bì lại được với Cha xứ mình. Các Cha trẻ thì tài ngoại giao, chứ chả đạo đức như Cha già mình được đâu!” “Cha đã già rồi mà không nghỉ ngơi, làm làm gì cho thêm khổ vào thân!” Hôm nay chẳng bà nào nói đến cái tính hà tiện của Cha nữa. Bà nào cũng tỏ vẻ thương hại Cha. Sau cái hôm bị té ở cuối sân nhà thờ, Cha đau rồi lâm bệnh luôn. Trượt chân, không kịp buông tay chống, Cha ngã vào đống gạch.

* * *


Rồi chuyện ly biệt cũng đến. Ðời như dòng nước cũng phải buông bờ mà xuôi về biển. Tình cảm nào, yêu thương hay ghét bỏ thì cũng có ngày tan theo hạt nắng, để mỗi linh hồn bay theo gió ngàn về bến bờ riêng của mỗi người. Sau khi khánh thành nhà thờ có một tuần lễ, Cha già giã từ con chiên về hưu. Ngày từ biệt Cha ở sân nhà thờ, xứ đạo u buồn lắm. Rưng rưng lệ thương một Cha già đã gần hai mươi năm chung sống. Cha ra đi như một cái tang. Như một tàu cau sau những ngày che chở cho buồng cau kết trái, bây giờ nó xơ xác rụng xuống về với đất bụi. Giã từ trời cao. Hình ảnh đơn sơ của Cha làm cho người ta bây giờ mủi lòng. Ðồ đạc của Cha có chiếc vali, mấy thùng giấy đựng đồ. Chiếc xe đạp buộc trên nóc xe lam. Lòng xe còn rộng. Xe chuyển bánh. Một cánh lá bay về cuối đời, im lặng ở một chốn không còn tiếng chuông.

Người ta thường không quý những gì mình có, khi mất rồi mới mến thương. Hai mươi năm Cha con sống bên nhau. Có những gia đình từ đời cha đến đời con, xuống cháu đều đo tay Cha già ban phép cưới, rửa tội, làm lễ an táng. Cái nghĩa ấy chẳng dễ gì một sớm mà phai nhạt. Ngày Cha lên đường bỏ xứ đi mới là lúc họ thấy mình đã không phụng dưỡng Cha già cho đủ. Cái cảm tình của kẻ thấy mình không tròn ân nghĩa làm nhiều người hối hận. Trên sân nhà thờ hôm ấy, nhiều dòng nước mắt đã rơi. Cha đi rồi, giáo xứ vắng lạ lùng. Một im lặng bàn bạc mà phủ kín lòng người.

* * *


Cha ra đi để lại cho xóm đạo ngôi nhà thờ khang trang. Chuyện xây nhà thờ không đơn giản như tôi viết ở trên. Về sau này, khi Cha đi rồi người ta mới biết rõ. Chuyện là có lần ông trùm tò mò hỏi Cha: “Bẩm Cha, nhà thờ là do công lao của Cha. Chúng con chẳng biết nói sao để cám ơn Cha.” Nói tới đó ông ngập ngừng, ông muốn hỏi xem ai là người đã trợ giúp vật liệu vì mọi người đều biết số tiền quyên góp không thể đủ mua tất cả. Nhưng ông không biết mở đầu làm sao cho gọn. Ông chỉ sợ hỏi Cha như thế là tò mò tọc mạch, nên đã mãi mà ông không tìm được câu vào đề cho đúng. Sau cùng ông đành ngập ngừng:

- Bẩm Cha, chúng con chỉ đóng góp được có phân nửa mà nhà thờ thì tới những bốn triệu, vậy ai giúp mình số tiền lớn đó hả Cha?

Cha già lắng nghe. Mắt trái của Cha vẫn còn bầm tím vì vết thương ngã ở đống gạch chưa lành. Ngài ôn tồn nói như một điều rất bình thường:

- Chẳng có ai giúp mình cả. Các con phải cám ơn vì sự quan phòng của Chúa. Ðây là tiền mà các con biếu Cha, tiền các con xin Cha làm lễ. Hai mươi năm qua, những ngày sống với các con, Cha coi tiền ấy là tiền Cha giữ giùm các con. Số tiền Cha để dành vừa đủ để bù vào chỗ thiếu mà xây xong nhà thờ!

Hôm ấy ông trùm rớt nước mắt. Im lặng. Khi ta im lặng nhìn xuống dòng đời, bấy giờ mới thấy có nhiều thứ xót thương nó thấm vào lòng. Trời ơi! một số tiền lớn như thế. Hai mươi năm cần cù làm việc cho Chúa. Hai mươi năm dâng lễ, gìn giữ đồng tiền cho con chiên của mình để rồi về già ra đi với chiếc vali bạc màu, mấy thùng giấy đựng đồ và chiếc xe đạp cũ. Những chiếc xe chở vật liệu kia là tiền của Cha. Tất cả những bữa ăn khem khổ của Cha già là ở đấy. Bằng ấy ngày xây nhà thờ mà có ông Mỹ nào đến chụp hình, quay phim đâu, sao không ai tinh ý mà nhìn ra điều đó.

Cha già vĩnh viễn xa mất rồi. Cha ra đi không bao giờ trở lại nữa. Không còn dịp nào để xem bà bếp của Cha sáng nay mua mấy con cá khô, mấy lạng đỗ đen. “Sao Cha không cho chúng con biết bằng ấy năm Cha đã chắt chiu từng đồng cho chúng con. Nếu Cha không sống cực như thế thì làm sao chúng con có nhà thờ. Không cách nào chúng con xây được nhà thờ vì xóm giáo nghèo quá. Có phải Cha đã nhìn thấy từ hai mươi năm xa xưa về trước. Có phải qua những giờ Cha quỳ trước Mình Thánh Chúa hàng ngày mà Chúa đã mặc khải cho Cha hoàn cảnh xóm giáo chúng con hai mươi về sau. Cho đến bây giờ chúng con vẫn không hiểu nổi. Ðời Cha là một nhiệm lạ với chúng con. Khi chúng con biết thì đã quá muộn cho một lời biết ơn. Hai mươi năm bên Cha, chúng con khâm phục mọi nhân đức của Cha. Cha nhân từ, Cha chịu khó, chúng con không trách Cha được một điều nào. Chúng con chỉ ao ước rằng giá Cha không hà tiện quá như thế, giá Cha không tham tiền như thế thì Cha nhân đức vẹn toàn. Hôm nay, chúng con mới biết những đồng tiền kia Cha cất ở đâu, để làm gì. Quá muộn rồi Cha ạ, cho một lời tạ lỗi, biết ơn của chúng con.”

Vĩnh biệt Cha.

* * *


Mùa hè đầu tiên được mặc áo dòng về quê. Tôi vui lắm. Chả mấy lúc không nhìn mình trong gương. Tôi thích làm sao cái cổ côn trắng áo dòng. Hè ấy, tôi về nhà hưu thăm Cha già thủa xưa, người đã viết giấy giới thiệu cho tôi đi tu. Từ những ngày là cậu giúp lễ, hôm nay tôi trở về báo tin vui cho Cha cậu bé ngày xưa đã lớn, đã chững chạc trong chiếc áo dòng có cổ côn trắng đạo mạo. Cha đã dìu tôi đi một đoạn đường, tôi nghĩ là Cha sẽ mừng lắm khi thấy tôi đang hăm hở lên đường như cậu bé vui mùa xuân.

Trên chuyến xe lam về nhà hưu, nhìn trời cao xanh, tôi thấy hồn mình cũng thênh thang theo. Ôn lại những kỷ niệm năm xưa. Tôi nhớ buổi chiều nọ, hôm ấy thấy dấp dáng áo dòng của Cha ở ngõ, tôi không sợ, không chạy trốn Cha như hồi bé nữa mà ra đón Cha vào nhà chơi. Năm ấy vừa xong tiểu học, năm tôi đi tu. Buổi chiều đó, Cha đến nhắc cho tôi là còn hai ngày nữa hết hè tôi phải chuẩn bị về nhà trường. Mùa hè nào cũng thế, cứ còn vài ngày hết hè, Cha đến tận nhà nhắc cho mẹ tôi nhớ đến ngày tôi phải đi, cho đến ngày tôi đủ “tuổi khôn” Cha mới thôi. Cha biết rõ tất cả con chiên của Cha. Biết từng gia đình, trình trạng đạo đức, tình trạng con cái trong nhà. Ngay cả nhà nào có con đến tuổi xưng tội là Cha đến tận nhà mà nhắc. Hình ảnh này in đậm trong tâm trí tôi, nhắc nhở tôi về hình bóng của một chủ chăn biết rõ chiên của mình.

Những năm còn bé ấy, chiều thứ sáu đầu tháng nào chúng tôi cũng phải đi xưng tội. Chính Cha đánh trống báo hiệu, mở cửa nhà thờ, kê tòa giải tội. Ban tối Cha dạy giáo lý. Cha bắt chúng tôi vào Legio Mariae, cũng phải phúc trình công tác hàng tuần, quét nhà mấy lần, vâng lời ba má mấy lần. Cha là linh mục lo cho con chiên và lo hết mình vì phần rỗi của họ. Về sau này làm linh mục, tôi mới thấy ngồi giải tội cho con nít là một phiền toái. Nhưng ngày xưa, Cha già biết rằng tuổi thơ là trang giấy trắng cần viết vào đấy những hương nhân đức thật sớm. Cha đã không nhàm chán giải tội cho chúng tôi. Cha tập cho chúng tôi ngay còn bé đã biết quý trọng bí tích rồi. Kỷ niệm này ảnh hưởng rất nhiều đến đời sống linh mục của tôi sau này với tòa giải tội.

Khu nhà hưu thật vắng lặng. Hàng cây huynh diệp cao ngất giữa trời nắng hanh mùa hạ. Tiếng ve rỉ rả gợi sầu, nó chẳng phá được cái vắng lặng mà càng làm cho nỗi vắng có vẻ mênh mông. Lá huynh diệp rơi đầy lối vào, không ai quét cả. Mấy chú gà con chạy xào xạc bên bụi tre vàng ươm. Khu nhà giống như một tu viện cổ kính không có ai ra vào. Tôi hỏi cụ già đang rẫy cỏ trên mấy vồng khoai, cụ bảo Cha đang đọc kinh ở nhà nguyện.

Tôi ngồi ở hành lang đợi. Hơn một tiếng, Cha già chậm rãi đi ra. Cha bước từng bước chậm, khuờ khoạng với chiếc gậy gỗ. Cả hai mắt của Cha đã bị lòa. Tôi đến gần trước mặt mà Cha cũng chẳng nhìn thấy. Nghe tiếng tôi chào, Cha nhận ra tiếng ngay, khuôn mặt Cha mừng vui rạng rỡ. Cha giơ tay tìm tôi:

- Có phải con đấy không?

- Dạ, con đây ạ.

Cha giơ tay tìm rồi nắm vai tôi. Buổi trưa ấy cũng là lần sau cùng, tôi không bao giờ gặp lại Cha già nữa. Lời Cha nói trước khi chia tay cũng là lời trăn trối sau cùng. Tay run run, khuôn mặt tỏ rõ nỗi vui khi biết tôi đã đi được một quãng đường trên lý tưởng đời tu:

- Cha già rồi, Cha chẳng làm gì được cho Chúa nữa. Cha gởi lại Giáo Hội trong tay con, trong tay các thầy trẻ.

Từ biệt Cha ra về, rưng lệ, tôi bùi ngùi thương cảnh già của Cha. Trong nỗi bùi ngùi, tôi cũng hạnh phúc vì bóng hình của Cha là sức mạnh nâng đỡ tôi bước tới. Cha bước can trường trong thánh thiện, có thể đời Cha cũng có lúc lẻ loi chăng? Nhưng Cha đã đi trọn đời bằng những bước chân vô cùng anh hùng. Và tôi biết, Cha hạnh phúc vì thế giới bình an của Cha là Cha luôn có Chúa.

* * *


Rồi tôi bỏ nước ra đi. Tôi không bao giờ gặp lại Cha già nữa. Vào một buổi chiều tháng Năm ở trong một chủng viện miền trung nước Mỹ, tôi nhận được lá thư của đứa em gái gởi từ quê hương sang. Cuối đoạn thư đứa em viết :

“...Em đã về sống với thầy mẹ rồi, không còn ở nhà dòng nữa. Nhà dòng đã bị người ta lấy. Các đệ tử nhỏ như tụi em đều phải về hết. Buồn quá anh nhỉ. Nhưng mà thôi, phải chấp nhận chứ biết sao hả anh. Mẹ vẫn thường nhắc về anh luôn. Mẹ bảo không hiểu sao cứ nghe tiếng chuông nhà thờ là mẹ lại nhớ đến anh. Mà kỳ lạ, em cũng vậy anh ạ. Ban chiều khi em cắt cỏ cho trâu ở ngoài đồng mà nghe tiếng chuông em thấy tâm hồn mình như chùng xuống. Nó buồn nao nao làm sao ấy anh ạ. Tiếng chuông như có an ủi, vỗ về mà cũng như lời buồn nhắc nhở về một thủa bình yên, một thủa an vui đã mất.

Anh biết không, trước ngày giải phóng thì các xứ đạo chung quanh chẳng xứ nào mua chuông, họ đều xài chuông đĩa. Bây giờ xăng nhớt hiếm hoi, chẳng xứ nào còn xăng chạy máy điện nữa nên chiều về không còn tiếng chuông. Ðã bao năm sống trong tiếng chuông, lớn lên trong tiếng chuông, tiếng chuông đã là một phần đời của mình rồi. Bây giờ tiếng chuông bỗng vắng bặt, xứ đạo như chết, im lìm lặng lẽ. Ai cũng buồn. Nhưng may cho xứ mình là trước khi về hưu, Cha già đã mua cho quả chuông đồng thật lớn. Bây giờ trong khi các xứ đạo khác thật vắng thì chỉ có tháp chuông nhà thờ mình là còn tiếng chuông kêu. Ban chiều ở ngoài đồng, hễ nghe tiếng chuông là người ta sửa soạn về. Những xứ chung quanh đều hướng về xứ mình vì chỉ có một quả chuông duy nhất cho cả vùng. Tiếng chuông chiều nghe an ủi lắm anh ạ, nghe như Chúa vẫn còn ở với mình...”

Nghĩ đến Cha già, tôi lại bồi hồi nhung nhớ. Cha đã chết rồi, đã vĩnh viễn ra đi, nhưng đời Cha là tiếng chuông còn sót lại sau những luyện lọc bằng can đảm, nhẫn nại, bao dung. Trong cuộc đời lý tưởng, Cha đã là ngọn nến cháy để linh hồn tôi ấm trong những ngày mệt mỏi, trống vắng. Mỗi lúc muốn xây đắp cho riêng mình, mỗi khi nghĩ đến những công danh mà một người thanh niên có thể với tay vào đời, tôi lại nhớ về Cha. Cuộc đời Cha lại đốt cháy đi những ý nghĩ nhỏ nhoi trong hồn tôi.

“...đấy là tiền của các con. Những ngày Cha sống với các con, Cha đã giữ tiền giùm các con. Ðấy là tiền lễ mà các con xin. Cha đã tích góp trong hai mươi năm qua. Các con phải cám ơn Chúa về sự quan phòng của Ngài..”

Cha chẳng bao giờ nhìn thấy những chân trời rộng rãi. Cha không du học, không có bằng cấp. Cha chỉ là một linh mục nhà quê. Nhưng vào những ngày gian khổ nhất của đất nước, ở miền quê ấy, chỉ còn mỗi tiếng chuông của Cha sót lại.

Gấp lại tờ thư, tôi đã ngồi nhìn qua cửa sổ, mây lững lờ trôi.

Những ngày còn là chủng sinh, đi nghỉ hè, khi lái xe qua những cánh đồng lúa mì mênh mông miền Kansas, mỗi khi nhìn thấy tháp chuông nhà thờ bên xóm đạo ven đường, tôi lại nhớ đến lời trăn trối của bao nhiêu năm về trước: “Cha già rồi, Cha chẳng còn làm gì được cho Chúa nữa. Cha trao lại Giáo Hội trong tay con, trong tay những thầy trẻ.” Hồn tôi ấm cúng lạ thường. Tôi vui với con đường tôi đi, tôi hạnh phúc với ơn gọi tôi chọn. Và tôi đã bước tới. Những lần nghe tiếng chuông giữa trời rất cao và rất rộng, hồn tôi thật thênh thang.

Hôm nay, mỗi khi đi qua đâu, nhìn thấy tháp chuông, tôi lại nhớ về xóm đạo nhỏ ở rất xa. Tôi vẫn nghe tiếng chuông nhẫn nại, an ủi nỗi vất vả của những con chiên miền quê. Mỗi khi nghe tiếng chuông thong thả ngân, tôi lại tin rằng còn rất nhiều những tiếng chuông đẹp như thế trong lòng Giáo Hội, tiếng chuông của những linh hồn bên Chúa rất thiết tha.

Nguồn : Sinhvienconggiao


 

Đêm Thánh Cuối Cùng

Tác Giả: Duyên Anh


Cha sở buồn bã từ mấy hôm nay. Tháng mười hai đã tới bằng những buổi sáng mù sương, bằng những cơn gió lạnh lẽo gợi tưởng những cơn gió lạnh lẽo chốn xưa. Và cha sở càng buồn bã. Ngôi nhà thờ bé nhỏ của cha đã chịu đựng hàng ngàn trái pháo kích tàn nhẫn chung số phận với làng quê hiền lành, vô tội. Thông điệp quái ác thường chuyển đi bằng bom đạn. Nó dục con người bỏ nơi chôn rau cắt rốn ra đi và bắt phải khóc chảy máu mắt. Loạt đại bác ở những khe núi nào đó cách xa ba mươi tám cây số gửi về làng vào đầu mùa hạ. Theo dân làng chạy đạn, đám con chiên của cha sở cũng lưu lạc đó đây như những tội đồ oan uổng. Cha sở nhớ ngôi nhà thờ, nhớ xóm đạo nghèo khổ, nhớ vùng trời êm ả cũ. Đại bác đã làm sụp đổ giáo đường? Tháp chuông đã bị xóa bỏ Và Thánh thể? Cha sở ôm mặt. Chưa bao giờ ngài biết buồn. Nhưng hôm nay ngài buồn khôn tả. Vì sắp đến ngày Chúa giáng sinh. Ngày lại ngày, ngài ngồi phương trời mới nhớ phương trời cũ. Mây baỵ Mây bay hoài và ngài thấy mây bay sang Đất Thánh. Cha sở bồn chồn, lo lắng. Ngài đưa tay làm dấu và cầu nguyện. Một ý nghĩ vụt thức trong tâm tưởng ngài. ý nghĩ đó khiến cho cha sở, gần như trút hết nỗi buồn bã. Ngài họp đám con chiên lạc, nói cho họ nghe ý nghĩ của ngài. 

- Không thể trở về được, thưa cha. 

- Tại sao? 

- Đường sá xa xôi, nguy hiểm đầy rẫy. Chúng nó sẽ giết chạ Thưa cha, dễ gì nhà thờ còn nguyên vẹn. 

- Chúa còn nguyên vẹn, đất còn nguyên vẹn. Ai dám theo cha. 

Chẳng ai dám theo chạ Đám con chiên lưu lạc nín thinh. Cha sở ngó mấy gã chiên ghẻ. Mấy gã này nổi tiếng phá phách, bướng bỉnh cãi lời cha và lười biếng tới nhà thờ. Đã thế, mấy gã còn láo lếu, dám chọc ghẹo gái trước cổng giáo đường và bắt trộm gà, bắt trộm chim bồ câu của cha sở nấu cháo nhậu nhẹt, đàn địch. Cha sở thường nói mấy gã sẽ xuống địa ngục, nếu cứ tiếp tục phạm điều giới răn. Mấy gã cười hềnh hệch, đòi xuống địa ngục để khỏi gặp cha sở trên thiên đàng. Bây giờ, cha sở hỏi mấy gã. 

- Các con dám theo cha trở về không ? 

- Chúng con sợ chết. 

- Ai mà không có lần chết. 

- Những người ngoan đạo chết mới được lên thiên đàng. Chúng con chết về địa ngục khổ lắm. Chúng con nhất định không về. Thưa cha... 

- Gì ? 

- Mình tổ chức Giáng sinh mừng Chúa ở đây đi, cha ạ ! Trở về chỗ hoang tàn, đâu đủ nghi lễ. 

- Cha muốn làm sáng danh Chúa trên đất hoang tàn. Này các con, nơi đất chết là nơi Chúa muốn có mặt tạ Hãy làm đất chết sống dậy. Đó là ý nghĩa của phục sinh. Các con đừng câu nệ nghi lễ. Nghi lễ ở trái tim tạ Lửa trái tim chân thành sáng hơn một trời sao rực rỡ. Chúa đã ra đời trên vùng đất chết, vùng đất của oan khiên, thống khổ. Và rồi, các con ạ, mỗi bước chân Chúa đặt lên đất chết đều nở hoa hạnh phúc, yêu thương. 

- Chúa không ở đây. 

- Các con lầm. Chúa ở niềm tin của ta. 

- Chúa không ở với lũ chiên ghẻ. Chúng con không về đâu. 

Cha sở lắc đầu. Ngài thở dài. "Ngày tháng mười chưa cười đã tối". Thấm thoát đã là 20 tháng 12. Cha sở đăm chiêu. Rồi cha sở tìm quên những nỗi buồn bằng cách đẽo một cây thánh giá gỗ. Ngài quyết định trở về vùng đất chết. 

Cha sở vác cây thánh giá băng đồng, vượt đường. Ngài khởi hành vào nửa đêm 23. Đoạn đường ngài đi, chắc chắn nhiều khó gấp bội đoạn đường của các vì vua tới Bê Lem từ phương Đông. Ngài đi chân đất, không mang theo lương thực. Gió lạnh cuối năm cắt da thịt ngài. Tóc ngài tung baỵ Ngài hụt chân, ngã chúi xuống ruộng nước. Y phục ngài ướt đẫm bùn. Bùn khô dần và quánh trên áo ngài, dính chặt mình mẩy ngài. Như máu của Chúa sau những lần chịu tội cho nhân loại. Không gian bao la ngập chìm trong đen tối. Bóng ngài cơ hồ như con cá nhỏ bơi giữa cái biển đen tối, cái biển mênh mông thù hận, oan khiên. Không một thiên thần nào che chở ngài. ánh sáng soi lối đi của ngài chỉ là ngọn lửa tim mà ngài đã nghĩ. Nhưng trời vỡ sáng. Mặt trời rọi những tia nắng hanh xoáy bỏng khuôn mặt ngài. Dưới một gốc cây, cha sở ôm thánh giá cầu nguyện đêm tới. Và đêm tới, cha sở lại vác thánh giá lên đường. Ngài bước mau, ngài chạy. Ngài không nhìn lên trời nên không hay có một ngôi sao theo ngài từng bước. Đằng trước súng nổ. Đàng sau súng nồ. Bên trái súng nổ. Bên phải súng nổ. Cha sở chẳng nghe rõ. Thân ngài thôi nặng trĩu vì trí ngài lâng lâng. Ngài đã biến thành một thiên thần. Đúng nửa đêm 24, cha sở về tới ngôi nhà thờ. 

Ngài đứng trên đổ nát. Ngài đứng trên đất chết. Giáo đường chỉ còn là đống gạch vụn sặc mùi thuốc đạn. Tháp chuông gục đổ. Thánh thể chìm dưới lớp gạch nát. Cha sở ứa nước mắt. Ngài không còn thì giờ làm gì khác hơn là dựng vội cây thánh giá lên đất chết. Và ngài quỳ xuống cầu nguyện: 

- Lạy Chúa, Chúa chịu khổ cho chúng con hạnh phúc. Chúng con theo Chúa, chịu khổ cho đời sau hạnh phúc. Hạnh phúc chỉ nở hoa tươi đẹp, ngát hương từ đau khổ. Kẻ nào biết đau khổ kẻ ấy sẽ được hưởng hạnh phúc, được hưởng ân sủng của Chúa. 

- A men... 

Cha sở ngạc nhiên. Ngài căng mắt hướng về phía phát ra âm thanh kỳ diệu giữa cô đơn, sơ hãi. Mấy gã chiên nhận mình là chiên ghẻ đang kính cẩn làm dấu. Cha sở ngước nhìn trời. Một vì sao lung linh thả ánh sáng, rơi lọt vào đôi mắt ngài. Và nhớ ánh sáng huyền ảo đó, cha sở thấy quê hương Việt Nam chết chóc quá lâu của cha đang cựa quậy phục sinh trong đêm thánh vô cùng. 


Trích Đêm Thánh Vô Cùng của tủ sách Bạn Ngọc 
1973 

Nguồn : Sinhvienconggiao


 
TÔI TIN KÍNH MỘT THIÊN CHÚA
 
1.                      DƯỚI HỐ BOM
 097
Người có hay, Chúa con ơi,
Từ hôm nao khi con bước vào đời
Lần đầu tiên con dâng lời chào Chúa.
Ngày tháng qua con học tiếng người đời
Chối bỏ Chúa, con trở thành trò chơi.
Chúa ơi, sao lại không có Chúa !
Trong đêm nay, dưới đáy hố chơi vơi,
Nhìn trời cao, con cảm thấy bồi hồi,
Thấy đời mình qua bao năm dối trá.
Trước Chân Lý con là người xa lạ,
Con vô tâm lầm lũi dưới bầu trời,
Không băn khoăn,
không thắc mắc, không tìm tòi.
Nhưng giờ đây, con thành tâm tin Chúa.
Xin lắng tai nghe lời con than thở,
Bóng tử thần đang thấp thoáng đâu đây,
Có thể rằng trận chiến đến đêm nay
Và hồn con sẽ về bên Toà Chúa
Cho tới nay con mang thân hoang tử
Nhưng giờ đây,
không, không ! Chúa con ơi !
Chúa chờ con không giây phút ngưng ngơi.
Xin thương con, nghe hồn con trăn trở,
Trào nước mắt khóc quãng đời dang dở
Ngày ân tình con trót để vương rơi,
Giờ còn lại con xin kính dâng Ngài.
Thần chết ơi, tôi không còn sợ nữa,
Vì này đây, tôi ra đi với Chúa.
(Bài thơ này tìm thấy trong túi của một người lính Mỹ chết tại mặt trận Bắc Phi trong Đại Chiến 1939-1945)
 
2.      KHUNG TRỜI CHỞ - CHE – THỞ
 
Chúng ta đang sống dưới một làn khí dày hơn 100 km. Làn khí này bao quanh trái đất như một chiếc nhẫn khổng lồ. Thiếu nó trên trái đất này không có sự sống. Người, vật, cây cỏ không thể tồn tại. Thiếu nó sẽ không có gió, giông, mây, mưa, lửa và thanh âm. Thiếu nó mặt trời sẽ đốt chúng ta thành tro, chịu sao được sức nóng trên 110 độ. Hoặc sẽ bị chết cứng trong đêm vì giá lạnh 118 dưới 00. Trái đất sẽ thành như mặt trăng, từ không gian xa tít mù từng lớp lưu tinh thi nhau rớt xuống sẽ đập vỡ trái đất này. Làn khí này là một khung mái chở che vĩ đại mà Chúa Tạo Hoá đã lập trên địa cầu.
Bầu khí quanh ta là một hỗn hợp : khoảng 78% là khí đạm,  21% là dưỡng khí (Oxy), 1% là khí hiếm, hơi nước và thán khí (Carbonic). Kết cấu này đựơc quân phân lạ lùng. Cái tỷ lệ không được thay đổi. Giả dụ rút tỷ lệ thán khí đi một chút thôi thì ngành thực vật sẽ bị tiêu diệt. Hay ngược lại tăng tỷ lệ nó lên một chút thì người và vật sẽ chết ngộp hết.
Tại sao mà lại có cái mức độ chính xác như thế từ bao nhiêu trăm ngàn thế kỷ? Có thể là ngẫu nhiên được không?
Rất nhiều lực lượng phối hợp để bảo tồn cái bầu khí này. Người và vật thở ra một khối lượng thán khí lớn lao, mỗi ngày một người thở ra khoảng 1 kg thán khí. Trong 600 năm số lượng thán khí đã tăng gấp đôi trong bầu khí và như vậy là tự kết án tử cho mình. Nhưng kỳ diệu biết bao ! Cây cối lại chen vào để cứu vãn. Qua hàng tỷ lỗ của mặt lá xanh nó hút lấy số thán khí do người và vật thải ra. Bên này là người và vật, bên kia là cây cối phối hợp hành động để giữ vững cái tỷ lệ thán khí trong bầu khí  này. Mỗi bên hành động mà không biết rằng hỗ trợ nhau. Phải có một bàn tay thần thánh chỉ huy hành động đó.
Bây giờ chúng ta quay sang cái khí thứ hai là dưỡng khí (Oxy). Hằng ngày bầu khí phải cung cấp một số lượng Oxy khổng lồ cho người và vật. Kiếm đâu ra ? Đây rồi, những tấm lá xanh của cây cối, những nhà máy vô cùng tinh vi, phân tách thán khí ra hai nguyên tố là than và dưỡng khí. Than thì chúng giữ lấy còn dưỡng khí thì  nhả ra hầu như trọn hết. Thế là bầu khí nhờ sự tương tác đó lúc nào cũng đủ khí cho người, vật và cây cối sinh sống phát triển.
Tại sao các lực lượng khác biệt nhau lại phối hợp hành động để bảo tồn nhau lạ lùng như vậy ? Lý lẽ nào để giải thích cái vòng tiêu hao và hồi phục của bầu khí, cái hoà nhịp kỳ diệu giữa các loài như thế ?
Các loài đó không biết giải đáp đâu. Chúng có bao giờ nghĩ đến việc đó đâu nói chi đến việc điều hành. Phải có một đầu óc, một quyền năng nào vượt trên tất cả đã đặt ra luật và điều hành nó một cách tuyệt hảo, liên lỉ không giây phút nào ngưng nghỉ. Đó là Thiên Chúa, Đấng Tạo Hoá. Chỉ có “con người ngu dại mới nói trong lòng mình rằng : Không có Thiên Chúa.” (Tv 14 :1)
 
3.      UỐNG VÀ ĂN
 
Nước là nhu cầu tất yếu của các vật sống trên mặt đất, không có nước không có sự sống. Vì thế, nước phải có trong mọi trạng thái, đáp ứng mọi trạng huống, mọi khó khăn, mọi thời tiết. Nước biến thành khí và tràn ngầp bầu khí bằng hơi nước; nước đông đặc lại thành tuyết, thành băng. Nước bám vào mọi hữu thể; nước hoá chất lỏng chảy ngầm trong đất, qua đồi núi cao, dưới thung lũng thấp. Nước vọt lên từ lòng đất. Để khỏi gây nạn ứ trào, ngập lụt, nó tụ lại những vùng sâu, rộng mênh mông làm thành sông, biển. Ít nước thì chết khô, nhiều nước thì mù mịt ẩm ướt.
Làm sao giải quyết hàng tỷ xác chết thối nát tuôn đổ xuống biển ? Cứ  sáu tiếng đồng hồ những con nước lại đâng lên hạ xuống, những đợt sóng khổng lồ lưu chuyển và duy trì tính tươi mát. Lại có một số lượng muối mặn đủ ướp các vật cho khỏi thối, một tỷ lệ chính xác 4%. Những đợt thuỷ triều do mặt trăng và gió gây ra luôn chuyển động và thay đổi nước không ngừng.
Nước theo nhau đổ ra biển, nhưng rồi một phần trở lại đất. Mặt trời giại sức nóng trên biển bao trùm 3/4 địa cầu làm nước bốc hơi. Mặt trời cũng làm thế trên các sông ngòi, hồ ao. Nhẹ hơn nước, hơi bốc lên cao kết thành những đám mây trong bầu khí lạnh. Gió vận tải những đám mây đó đi khắp nơi, tới cả những vùng sâu vùng xa, vùng cao nguyên biến thành mưa rơi xuống, tưới những cánh đồng và ruộng vườn. Nhưng mưa không đổ những khối đông đặc vì như vậy thì phá hoại hết mặt đất. Mưa biến thành những hạt nhỏ, và trên đường rơi xuống gió can thiệp giảm tốc độ để mưa khỏi trở thành những cái “cưa trời” cắt đứt hết các mầm non và bông hoa. Biển giữ lại cho mình muối và khí  am-mon. Mây chỉ lấy nước ngọt tưới xuống đất cho người, vật và cây cối uống mà sống.
Thiên nhiên là một trường học tuyệt vời cho con người học hỏi và nhận ra được Đấng Tạo Hoá. Ơn Quan Phòng của Chúa vĩ đại dường bao, đầy tình thương liên lỉ từng giây phút. Con kính thờ ! …
Lương thực là yếu tố cần thiết để bảo tồn sự sống cho vô số tế bào trong thân thể người vật và để phục hồi chúng. Tạo Hoá đã xây dựng hàng tỷ cơ xưởng : cây cối, thảo mộc. Đem so sánh với những cơ xưởng do con người tạo lập nào có ra cái gì ?
Cây cối, có khi khổ lớn mấy người ôm, vươn cao lên  mấy chục mét, mang cả một dàn cành lá lớn khủng khiếp, mà cứ đứng vững không bị gió quật ngã vì nó nhờ một điểm tựa cắm sâu trong lòng đất, đó là bộ rễ. Rễ ăn sâu hay toả rộng vào lòng đất như những cái neo vững chắc. Ngoài công việc neo giữ cây, rễ còn công việc thu nhập chất liệu cần cho cây sống và phát triển, vươn cao. Rễ có hai thứ : rễ cứng, to ăn sâu và neo giữ cây, rễ nhỏ mềm lan toả rộng để thu hút nước và các chất dinh dưỡng, luyện thành chất nhựa lưu thông lên toàn cây, tới từng chiếc lá, có khi lên cao tới 30, 40 mét.
Tấm lá nhỏ bé coi thật vô nghĩa mà thực là một kỳ công. Không một cái nào giống cái nào ! Mỗi tấm được phủ một lớp mô xốp để chống đỡ lại các va chạm mặt trời và các kẻ phá hoại. Mặt dưới chứa hàng tỷ những khổng, từ ba tới bốn trăm trên 1ml mét vuông. Nhờ những khổng này cây cối hút thán khí, nhả dưỡng khí và thu nhập các chất dinh dưỡng. Trong các  mô xốp mặt trên và diệp khổng mặt dưới chứa vô vàn tế bào li ti, trong đó chứa nước, và các dưỡng chất thu được từ không khí.  Các tế bào chế biến các nhiên liệu thành dưỡng chất thực sự, sống động giúp cho cây sống và tăng trưởng, phát sinh mầm, ngành và hoa trái.
Ông Rabindranath Tagore nhìn ra trong thiên nhiên bức tâm thư khó mà diễn tả của Chúa. Nhìn một cành cây nở đầy hoa ông thốt lên : “Tôi ao ước áp nó lên má, lên trán, lên tim tôi; Bông hoa này là Sứ Giả của Tình Yêu Đời Đời. Chúng ta đang sống bên bờ này của cuộc sống, khổ sai giữa trăm cay ngàn đắng. Từ bờ bên kia bông hoa này được sai đến để báo tin vui : “Có Cha đây”. Chính Ngài đã sai tôi đến. Tôi là Sứ Giả của Đấng là Duy Nhất, Toàn Chân, Toàn Mỹ mà linh hồn là Tình Yêu. Ngài không bỏ quên anh, Ngài đã bắc nhịp cầu nối xoá tan nỗi cô độc của cuộc sống luưu đầy của anh. Ngài sẽ giải phóng anh. Ngài ấp ủ anh trong lòng và Ngài chiếm hữu anh”. (Sadhana).
Đó là tư tưởng thâm sâu của một nhà Tư tưởng Ấn Giáo.
 
 
4.                  VÔ CÙNG VĨ ĐẠI TRONG VÔ CÙNG NHỎ BÉ
 
Các nhà côn trùng học còn phải vất vả tốn nhiều công phu lắm. Ngành động vật họ nghiên cứu rộng mênh mông. Người ta mới xếp loại được 750.000 loại côn trùng và còn hàng tỷ loại đang được khảo sát. Rất khác nhau về hình dạng và lối sống, những côn trùng có một điểm chung là cái sinh cơ của chúng.
Côn trùng được cấu tạo thế nào ? Con người chúng ta thì có một bộ xương khoẻ, nâng đỡ toàn thân. Côn trùng không có xương. Cái khung chống của chúng là cái vỏ bao bọc bên ngoài như cái áo giáp. Những cái chân ống mọc ra từ cái mu làm thành một hệ thống chống đỡ sống, khoẻ không thể tưởng được. Con người chúng ta chỉ vác được một khối lượng nặng hơn mình một chút, có một giống bọ hung nhỏ hơn có thể  vác một khối lượng nặng hơn nó tới 850 lần mà không bị đè bẹp. Một giống vờ bay qua các cơn lốc và mưa gió để di chuyển từ Châu Phi sang một đảo ở Bắc Âu  (Island)
Thân thể côn trùng gồm nhiều tế bào cần được đầy máu. Không thấy cách nào để chuyển máu đó, nó không có động mạch, tĩnh mạch, không có huyết mạch, không có hệ tuần hoàn. Làm sao đây ? Chúng có một bơm tự ngực. Khi bơm này không đủ, sẽ có những bơm nhỏ trợ giúp.
Côn trùng thở thế nào ? Côn trùng không có phổi, không cần miệng hay mũi để hít thở. Nó thở qua các lỗ li ti từng hàng hai bên sườn. Khi bay nó tiêu thụ số dưỡng khí gấp 50 lần khi nghỉ, động tác đập của đôi cánh giúp nó. Khi giang cánh ra khí qua những khổng nhập vào, khi cụp cánh xuống ép khí thoát ra.
 
5.      NHỮNG VÕ SĨ QUYỀN ANH (BOXER)
 
Trong sở thú, có một khung chuồng mang bảng chữ : “Năng Thử Xám Khổng Lồ Từ Rừng Úc Châu”. Năng Thử là những con vật thực kỳ lạ. Khi đứng nó cao hơn người, con đực có thể cao tới 2 mét. Thường thì chúng ngồi tựa trên hai chân sau rất cứng cát và cái đuôi uy vũ, lúc đó nó cao khoảng 1m50.
Ở trong chuồng ta thấy nó rất vụng về, ngộ nghĩnh. Thực ra nó không có vụng về đâu. Ở ngoài trời nó có thể chạy trốn thoát mọi cuộc săn đuổi của cả đoàn chó săn. Hai chân sau là hai cái lò so thép, chúng có thể nhảy qua cái hàng rào cao 3 mét rất dễ dàng. Rất ít khi nó đương đầu với kẻ thù. Nó là một loài dã thú hiền, coi mắt nó thì biết. Chạy trốn là vũ khí của chúng. Gặp nguy cơ trầm trọng nó có thể nhảy xa 9 mét, thường thì 5, 6 mét. Có thể chạy liên tục từ sáng tới chiều với tốc độ 80 km/giờ. Khi bị săn đuổi mà cùng đường nó xuống nước gìm mình tới cổ, vô phúc cho chú chó săn liều mình bơi ra gần chúng. Chúng chầm chậm tóm cổ chú chó gìm xuống nước tới chết thôi. Ở trên đất, bất đắc dĩ, phải đương đầu với chó săn, chú sẽ chiến đấu tới chết với 12 chó săn. Chỉ cần một cú đập đuôi là đứt đời một chú chó. Đôi khi ngồi trên cái đuôi, chú ôm chặt kẻ thù, tung cho một cú chưởng với cái vuốt dài sắc như dao cạo của bàn chân sau vào ngực kẻ thù thì nói chi chó mà cả người cũng xong đời. Nếu Chúa không trang bị cho con thú hiền lành này cái khả năng điền kinh tuyệt vời và những vũ khí tự vệ lợi hại như thế thì làm sao mà sống còn trong rừng rậm Uc Châu này, bọn người sẽ tiêu diệt chúng.
Các đặc thù uyên áo của loài năng thử là cái túi da ở dưới bụng. Chú năng thử con đứng trong đó đưa đôi mắt ngây thơ nhìn trời cao biển rộng. Vừa sinh ra chú chỉ to 2 phân rưỡi và trong suốt như một cục thuỷ tinh, nhưng chú có một cơ quan phát triển đầy đủ, hai cái chân trước. Nhờ hai chân đó, chú có thể trèo ra trèo vào cái túi của mẹ, trong cái túi có hai cái vú để chú bú cho đã cái mồm. Lúc nào chú không trèo vào được thì mẹ lấy mõm đưa vào. Không khi nào thợ săn bắt gặp năng thử con khi săn và hạ con mẹ, vì trong khi chạy trốn nó đã dấu con nó vào một hốc nào đó. Thoát hiểm và an toàn rồi chị ta mới trở lại tìm con.
Năng thử là con vật rất tếu, chúng là nhưng võ sĩ quyền anh. Ai ham mộ quyền anh phải ngạc nhiên trước mấy chú năng thử. Chúng sống tập thể từ 20 đến 25 con một bầy. Lúc rạng đông và hoàng hôn chúng gặm cỏ và ăn lá cây, sau bữa trưa là giờ giải trí. Môn thể thao sở trường của chúng là đánh Boxe. Tay chúng có năm ngón như giống tay người, hai chú đứng vào thế đấu. Đặt hai tay lên ngực để hộ thân, ngồi tựa vững trên đuôi, cuộc đấu bắt đầu, từng cú, từng cú trao đi trả lại. Sau mỗi hiệp lại nghỉ. Cuộc đấu kéo dài từng giờ. Hiệp đấu và quãng nghỉ được giữ rất đúng. Chúng đấu quyền không phải để đo ván đối thủ nhưng chỉ để giải trí, tuyệt vời !
Ta phải ngạc nhiên sự quan phòng của Chúa trên loài này. Nếu không thì nòi giống con vật hiền hoà, vui tươi này đâu còn tồn tại để làm chủ rừng rú Úc Châu.
 
 
 
6.                  NHÀ BÁC HỌC EINSTEIN VÀ ĐỨC HỒNG Y
 
Sau đại chiến ít lâu một vị Hồng Y đã gặp nhà bác học Einstein. Nhà thông thái nói :
- “Thưa ngài Hồng Y, tôi rất kính trọng tôn giáo nhưng tôi tin vào toán học. Còn ngài, chắc là ngược lại :
Vị Hồng Y mỉm cười trả lời :
- “Thưa nhà bác học, không hẳn là thế. Đối với tôi. Tôn Giáo và Toán Học chỉ là hai cách phô diễn khác nhau của sự khôn ngoan của Thiên Chúa.
 Ông Einstein nói :
- “Nhưng, thưa ngài Hồng Y, Ngài sẽ nghĩ sao nếu ngày nào đó những khám phá mới của môn toán học chứng minh ngược lại các nguyên tắc của tôn giáo ?”
Vị Hồng Y đáp :
- “Ồ, tôi rất tin tưởng vào các nhà toán học, thưa giáo sư. Và tôi chắc chắn rằng : quý vị sẽ không chịu ngồi yên cho tới khi tìm ra chỗ tính toán lầm lẫn của mình”.
 
7.      NGẪU NHIÊN Ư ?
 
Cơn bão hoành hành trong thung lũng hẹp ở Châu Mỹ như trút cả cuồng nộ của nó xuống ngôi nhà thờ nhỏ, cũ kỹ đứng lẻ loi, nhưng ngôi nhà đương đầu rất giỏi và gió chỉ làm bung một mảng tường nhỏ mới vá ở sau bàn thờ chính. Bất tiện quá, Lễ Giáng Sinh gần kề làm sao bít kịp cái lỗ hổng đó? Không khéo nó lại lôi cuốn chú ý của người dự lễ hơn là cái hang đá.
Cha xứ nảy ra ý kiến là đi ra cửa hàng bán son của một hội đoàn giới trẻ. Người bán hàng đưa ra một bức thảm dệt tay kim tuyến lấp lánh chen với ngà, chung quanh viền ren Bỉ. Chiếc thảm này trước kia nó phải phủ trên một cái bàn trong cung điện cao sang, nhưng ở cái xó vùng sâu vùng xa này có ai thưởng thức được cái nghệ thuật quý giá đó ? Vì thế giá rẻ mạt. Ừ, sao lại không mua bức thảm này che vào cái chỗ hổng đó ? Ngài mua liền.
Ý kiến thế mà hay : bức thảm làm nhà thờ nổi bật lên ! Sáng sớm ngày áp lễ, cha xứ đến nhà thờ, ở chỗ chờ xe buýt Ngài gặp một bà đang đứng đợi xe trong gió lạnh, Ngài bảo :
- “Bà vào nhà thờ ngồi cho đỡ lạnh, còn 45 phút nữa xe mới qua đây.”
   Bà ta vào nhà thờ quỳ gối đọc kinh, mắt bà bỗng mở to ra, bà chạy lên gần ngắm nhìn, sờ sờ tấm thảm và thốt lên :
- “Thưa cha, bức thảm này đúng là của chúng con. Chồng con đã mua ở thủ đô nước Bỉ. Cha coi, đây là ký hiệu của chúng con”.
   Bà kể cho cha nghe tấm thảm kịch của gia đình. Vợ chồng bà sống tại nước Áo, khi đó quốc xã Đức tràn tới họ bỏ chạy. Họ định  trốn sang Thuỵ Sỹ, là phụ nữ, bà quá cảnh dễ dàng, còn chồng chị, chị cho rằng đã chết trong trại tập trung rồi. Cha xứ ngỏ ý muốn trao lại tấm thảm, nhưng bà ta từ chối.
- “Thưa cha, bức thảm để ở đây tốt hơn trong túp lều của con. Con vui lòng chịu đựng cảnh khốn quẫn. Con đi xin việc để coi sóc nhà cửa, người ta từ chối vì lẽ rằng : Con già rồi”.
Thánh lễ đêm Giáng Sinh, mọi người dự lễ đều ngắm nhìn gian Thánh được trang trí lộng lẫy, những ánh nến càng tôn vẻ lấp lánh của bức thảm. Lễ xong một ông đến xin gặp cha xứ : ông là chủ một hiệu kim hoàn. Ông nói :
- “Thưa cha, thực lạ quá ! Bức thảm này đúng là của chúng con trước kia. Khi chúng con sống ở Viên, thủ đô Áo quốc, cứ mỗi lần mời Đức Cha đến dùng bữa, nhà con lại đem tấm thảm này ra trải bàn”.
Cha xứ kể lại cho ông sự việc xảy ra sáng nay. Ông hồi hộp xin cha :
- “Cha có thể tả cho con vóc dáng của bà ấy không ? Có lẽ nào lại chính là nàng ? Không lẽ nàng còn sống ?”
Ông xin cha cùng ông theo dõi vết tích người đàn bà nghèo khổ đó. Đúng là bà vợ của ông ta. Chiều ngày lễ Giáng Sinh hai vợ chồng được đoàn tụ sau bao năm dài xa cách. Một phép lạ của Tình Yêu Con Thiên Chúa.
 
8.      TẤT CẢ LÀ ÂN SỦNG
 
Cha Michel Erloff vừa được chỉ định làm tuyên uý trại tập trung những người bị an trí và biệt xứ. Trước đó ngài có ước vọng sang truyền giáo bên Phi Châu và ngài đã chuẩn bị cho sứ vụ đó. Ngài muốn được hiến thân cho lớp người man rợ trong bưng biền Phi Châu hơn là sống giữa những người Âu Châu, vì từ những năm sau này họ còn dã man hơn người mọi rợ. Bản thân ngài đã trải qua trăm cay ngàn đắng giữa cái Âu Châu văn minh này. Ngài mới 6 tuổi, người ta đã giết cha mẹ ngài vì các ngài là những người Công Giáo đạo đức. Chị của ngài biệt tăm từ đó. May mắn là bà vú Aniuta đã ẵm ngài vượt biên sang nước Pháp. Rồi đại chiến bùng nổ, ngài bị lùa vào trại tập trung và nếm đủ mọi mùi cay cực ở đó.
Đúng hai ngày trước khi lên đường sang Phi Châu, một cha trong Dòng đã xin đích danh ngài trợ tá mục vụ tại trại tập trung vì một mình cha làm không xuể lại vì cha Erloff biết nhiều ngoại ngữ. Cha Bề Trên yên ủi ngài :
- “Tôi nhận thấy đây là một dấu chỉ của Chúa Quan Phòng. Chỗ của cha không phải ở Phi Châu mà là ở trại tập trung người di trú. Không có gì là ngẫu nhiên đâu, tất cả là ân sủng cha ạ ! Chúa Quan Phòng luôn có một ý định, có thể lúc này còn giấu ẩn. Chỉ cần một linh hồn đang chờ đợi cha ở đó cũng xứng đáng với công hy sinh của cha. Cha nên đi đến đó”.
Cha Erloff nhận lệnh mà lòng ái ngại. Nhờ đức tính hiền từ và thân ái, tại trại tập trung, cha chóng nhận được cảm tình và tín nhiệm của mọi người, cả những người không tin tưởng. Suốt ngày cha đi thăm hỏi các dẫy nhà khó nghèo, cha dấn thân không nề quản. Chỉ còn một vài người vẫn có thái độ thù nghịch cha. Trong số đó có một người đàn ông đã mất cả vợ con luôn giữ đôi mắt sôi lửa hận thù. Quá thất vọng, anh ta nhắc cha :
- “Tôi chỉ còn một chút tự do đó là hận thù. Tôi nhất định không để mất nó”.
Còn  một chị  phụ nữ luôn lẩn tránh cha. Chị ta có cái tên nghe lạ. Cứ thấy bóng cha là chị ta lánh mặt. Nhưng một buổi chiều, có người gõ cửa phòng cha, cha ra mở cửa và được cho biết chị ta đang lên cơn kích ngất nghiêm trọng. Chị ta nằm thở hổn hển và miệng la hét : Hoả ngục, hoả ngục ơi!
Cha Erloff đi ngay, đến gần chị ta, cha nói với người đi theo :
- “ Anh ra ngoài để chúng tôi làm việc. Anh đi kêu y sĩ ngay. Mau lên khẩn lắm”.
      Đột nhiên, người bệnh mở to mắt kêu lên : 
- “ Ông là ai? Tôi nhớ hình như đã gặp ông ở đâu rồi. Lâu lắm rồi, tôi không nhớ”.
- “ Tôi là linh mục, có thế thôi, những gì khác không quan trọng. Nhưng tôi tin rằng chị chưa bao giờ gặp tôi đâu”.
Nói xong cha im bặt,vì cha cũng thấy bệnh nhân này có vẻ quen quen. Người bệnh kêu:
- “ Tôi chết ! Tôi sẽ bị kết án !”
- “ Không, nếu chị muốn, chị sẽ được cứu độ. Chị có muốn xưng tội không ?”
Đôi mắt bệnh nhân hiện nét thất vọng :
- “ Không, tôi không thể được ơn tha thứ !”
- “ Chúa nhân từ vô cùng, Người tha thứ hết mọi tội cho mọi người”.
- “ Chúa hả ? Có lẽ đúng đấy, nhưng người ta sẽ không tha cho tôi đâu, cả ở trên trời cũng vậy. Nếu tôi gặp họ,thế nào họ cũng nguyền rủa và xua đuổi tôi”.
- “ Không, ở trên trời không ai nguyền rủa và xua đuổi chị đâu”.
Bệnh  nhân lắc đầu :
- “ Cha nói thế, cha có biết gì về tôi đâu ! Xin cha nghe này. Tôi biết rằng nói hết ra rồi tôi sẽ chết, nhưng thôi mặc ! Tôi hiện không còn gia đình, không tổ quốc, chiến tranh đã xô tôi đến đây . Người ta đã cưỡng bức cha mẹ tôi  gửi tôi đến học trường của qủy dữ, tại đó, tôi được học có hai môn : không tín ngưỡng và hận thù . Tôi học thù ghét cả gia đình tôi. Vừa lúc 14 tuổi họ thúc ép tôi tố cáo cha mẹ tôi, vì tội gì ? Vì các Ngài có đạo, vẫn cầu nguyện mỗi ngày và giấu các ảnh tượng. Họ bắt các ngài. Tôi, thoả lòng vì từ nay không còn phải nghe những lời trách mắng. Hôm sau, cha mẹ tôi bị đem ra xử bắn, tôi đứng thản nhiên nhìn xác các ngài trước khi họ lôi đi hoả thiêu. Tôi khốn nạn ! Tôi đã bị kết án. Cha tin tôi đi, tôi chỉ còn nước đi vào hoả ngục. Đã từ lâu tôi hết tin vào các lý thuyết đã dậy tôi làm bậy. Nhìn lại quá khứ tôi nhận ra tôi đã mất tất cả !Tại sao, trời ơi ! Lúc đó tôi không đi với thằng em Michel của tôi sang nước Pháp ? Khổ quá, nó mới lên 6 tuổi và bà vú Aniuta đã không dẫn được tôi qua biên giới vì không có giấy chiếu khán.
Cha Michel cúi sát xuống mặt bệnh nhân, toàn thân cha run lên. Chúa ơi, sao lại là những cái tên  này ? Có thể như thế được không ? Cha nghe văng vẳng bên tai lời  Cha Bề Trên :
- “Cha ạ, không có gì là ngẫu nhiên, tất cả là ân sủng”.
Có phải đây đúng là Ân Sủng Chúa Quan Phòng không? Cố trấn an nỗi trắc ẩn trước kẻ đã giết cha mẹ, phá tan gia đình, cha ghé vào tai bệnh nhân, êm dịu gọi : “Anna”. Đôi mắt của bệnh nhân đang nhắm mở bừng ra bối rối :
- “Cha, cha nói gì ? Từ ngày đó không một ai còn gọi tôi với cái tên này …”
Cha Michel cầm tay bệnh nhân nắm êm và gọi :
-             “Anna, chị Anna của em, chị ơi …”
- “Michel, Michel Erloff đó phải không ? …”
Kiệt sức và bối rối bệnh nhân lắp bắp :
- “Em ơi, cha. Chị chỉ xưng tội với em, à với cha”.
- “Chị ơi, chị đã xưng tội với em rồi, cái tội nặng nhất của chị. Chúa nhân từ muốn em nhân danh các nạn nhân của chị mà tha tội cho chị. Em có quyền đó và nhân danh Chúa Giêsu Kitô. Chị hãy thực tâm thống hối”.
Cha đứng im lặng rồi nói :
- “Em không muốn tới đây, em muốn sang Phi Châu, nhưng Chúa nhân từ và cha mẹ tử đạo của chúng ta đã muốn em tới đây”.
 Bệnh nhân nắm chặt tay em :
- “Michel, khi vào Nước Trời chị sẽ thưa với cha mẹ thế nào ?”
- “Chị có nhớ dụ ngôn người Cha Nhân Lành với người con hoang đàng không ?”
- “Có, chị nhớ”.
Người hấp hối nhìn trời và than thở :
- “Cha ơi ! mẹ ơi ! Con đã xúc phạm tới Chúa và tới cha mẹ …”
Hai tay ôm ngực, cơn đau đột phát, cơn cuối cùng, thần chết làm việc. Cha Michel giơ tay ban ơn xá giải.
      Không có gì là ngẫu nhiên, tất cả là ân sủng
 
9.      VẾT CHÂN NGÀI
 
     Một nhà nghiên cứu người Pháp muốn đi qua sa mạc, ông mướn mấy người Ả Rập hướng đạo. Khi mặt trời lặn, một người trong bọn trải tấm nệm trên cát và cầu nguyện. Nhà trí thức hỏi :
 - “Anh làm gì thế ?”
 - “Tôi cầu nguyện”.
 - “À, anh cầu nguyện hả ? Anh cầu với ai chứ”.
 - “Tôi cầu với Allah, Thiên Chúa”.
Nhà trí thức cười mỉa mai :
 - “Anh có nom thấy Thiên Chúa bao giờ chưa ?”
 - “Chưa, chưa bao giờ”.
 -“Thế anh có sờ thấy Ngài không ?”
 - “Không”
 - “Ủa, vậy đúng là anh điên, lại đi tin vào một ông Chúa mà anh không bao giờ xem thấy, nghe thấy hay sờ thấy được”.
Người Ả Rập không biết trả lời làm sao. Sáng hôm sau, lúc hừng đông, nhà nghiên cứu ra khỏi lều, ông lưu ý người hướng đạo :
 - “Này, có con lạc đà vừa đi qua”.
Đôi mắt người Ả Rập sáng lên :
 - “Ngài có nom thấy con lạc đà không”.
 - “Không thấy ?”
 - “Ngài có sờ được nó không ?”
 - “Không”.
 - “Vậy ra Ngài cũng điên rồi vì tin rằng có con lạc đà vừa đi qua mặc dù ngài không nom thấy, không nghe tiếng, không sờ vào nó”.
Nhà thông thái vặn lại :
 - “Ô hay, anh không thấy những vết chân trên cát kia thôi”.
Cùng lúc đó mặt trời mọc lên phía trời đông với tất cả huy hoàng tráng lệ. Bằng một cử chỉ, người Ả Rập chỉ mặt trời :
 - “Ngài không thấy dấu vết của Đấng Tạo Hoá sao ? Xin ngài biết cho rằng có Thiên Chúa đấy”.
 
10.  “KHÔNG TIN THÌ ĐƯỢC GÌ ?”
 
Hôm ấy, một cán bộ đến nói chuyện trong một ấp miền Bắc nước Anh. Sau phần phát biểu có phần hội thảo. Có một bà già, hằn nét lao nhọc và nghèo khó xin chia sẻ :
 - “Thưa ông, tôi xin phép hỏi ông một câu”.
 - “Dạ, xin mời bà”.
 - “Thưa ông và tất cả hội trường, chồng tôi chết lâu rồi, tôi sống goá bụa. Tôi phải nuôi nấng, dậy dỗ tám đứa con, tất cả cơ nghiệp của tôi là cuốn Sách Thánh. Tôi cứ theo đó mà đào tạo, dậy dỗ các con tôi. Chúng tôi được một điều là đời sống có lúc sướng lúc khổ nhưng lúc nào cũng ăn ở tử tế. Các con tôi đều được dậy dỗ đến nơi đến chốn và đều có công ăn việc làm hẳn hoi. Tôi thấy mình chẳng còn sống được bao năm, nhưng tôi không sợ chết vì tôi tin chắc rằng tôi sẽ được về Thiên Đàng với Chúa Giêsu Kitô. Đấy là những gì Đức Tin ban cho tôi. Thế còn ông, ông không tin gì cả thì ông được những gì ?
Diễn giả đáp :
 - “Thưa bà, nhưng tôi đâu có ý giập tắt nguồn sưởi ấm của bà đâu”.
Bà già đáp :
 - “Thưa ông, không phải thế. Tôi chỉ có ý là xin ông cho biết, ông không tin gì cả thì ông đã được những gì ?”
Cử toạ vỗ tay tán thưởng câu hỏi của bà già át cả tiếng trả lời vòng vo của ông cán bộ.

11.  VÔ TÍN NGƯỠNG, THẾ THÌ KHÁC
 
Lần đầu nghị sĩ Renaud từ vùng núi Pyrénées  về Paris để dự phiên họp của Thượng Viện, ông mướn phòng tại một khách sạn và đặt tiền trước một tháng : 150 francs chủ tiệm hỏii ông có cần lấy biên lai không ? Ông trả lời :
 - “Khỏi cần. Ngại gì điều đó.. Đã có Chúa chứng giám mà.”
Chủ tiệm hỏi lại :
 - “Ngài mà cũng còn tin Chúa à ?”
 - “Có chứ, đúng là thế … ông chủ cũng còn tin chứ ?”
 - “Thưa ông, không, tôi không còn tin”.
Nghị sĩ Renaud nói ngay :
 - “À, nếu vậy thì ông cho tôi xin biên lai”.
 
12.  LỜI CUỐI CÙNG CỦA ĐỨA CON
 
Một vị đại tướng Hoa Kỳ rất ghét và hay bài bác đạo Công Giáo. Bà vợ của ông lại rất sùng đạo. Rất may là bà đã dạy được cho cô con gái duy nhất, cục cưng của ông bà, một Đức Tin sâu sắc và lòng yêu mến Chúa nhiệt tình, ngược lại ảnh hưởng xấu của người cha. Cô bé lâm bệnh nặng. Tình trạng đi đến chỗ hết thế chạy chữa. Cầm tay cha đang đứng bên giường cô nói với ông :
- “Ba ơi, có lẽ chỉ vài giờ nữa con sẽ vĩnh viễn xa ba má. Con xin ba cho con biết phải tin, tin vào những gì ba đã nói với con hay tin vào Chúa mong đợi Quê Trời như má đã dậy con? Con phải tin ai ?”
Vị đại tướng xúc động, nước mắt quanh tròng, ông nói với con :
- “Cưng của ba, con hãy tin vào những gì má đã dậy con”.
Cô bé năn nỉ :
- “Ba ơi, vậy cả ba nữa, ba hãy tin vào Chúa đi”.
Người cha không quên được lời van xin cuối cùng của đứa con yêu, ông đã ăn năn trở lại con đường tin tưởng mà ông đã bỏ lâu ngày và cảm thấy đời vui tươi, sung sướng hơn trước.
 
13.  NGƯỜI VẪN LÀ CHA
 
Trong nhà thờ họ Molina di Quosa, một giáo xứ nhỏ ở Trung Ý, có một tượng chịu nạn kỳ lạ khung trong một toà kính. Tượng Chúa bịị cụt hết ngón tay trái, bụng dưới có những lỗ thủng, đùi trên đầu gối phải giập nát. Hỏi ngườii coi nhà thờ thì ông cho biết :
- “Bất cứ ai trong xứ này cũng biết sự việc của tượng. Đó là tượng Chịu Nạn của bọn Đức”.
Khách tò mò :
- “Sao lại tượng Chịu Nạn của bọn Đức.”
Người coi nhà thờ sẽ dẫn khách ra trước cửa chính và trỏ :
- “Ông có thấy cái quán Café Enzio Graziani kia không? Vụ này xảy ra ở đó vào tháng 6 năm 1944 đấy. Lúc đó có một đại đội lính Đức đóng tại đây. Viên trung uý đại đội trưởng tên là Heinrich Lohse là một con người hung ác, ai cũng khiếp sợ. Hắn chửi rủa dân làng, la hét, nói tục tĩu và say xỉn . Hắn ghét người Ý tới tận xương tuỷ”.
“Hôm đó là chiều thứ sáu, trời chập choạng tối, hắn chơi bài trong quán, hắn khấy động và uống nhiều. Miệng thốt ra toàn lời tục tĩu và lộng ngôn. Chúng tôi đâu có hiểu gì, nhưng sợ lắm, vì biết rằng cái lão Henri cao ngỏng (tên riêng chúng tôi đặt cho hắn) trong cơn giận dữ dám làm tất cả mọi chuyện. Cả quán im phăng phắc khi thấy hắn đứng dậy, rút súng lục tiến lại trước tượng Chúa Chịu Nạn treo trên tường. Hắn chĩa súng bắn vào tượng bốn phát. Sau mỗi phát hắn lại nghiến răng như thằng quỷ. Sợ quá ! Chúng tôi chuồn sạch. Viên thứ nhất cắt đứt hết ngón tay trái tượng. Viên thứ hai trúng đùi phải, hai viên sau trúng sườn bụng dưới và làm bể hồ trên tường. Hắn cười man dại chạy tới giật tượng xuống, nhổ vào tượng và ném xuống đất kèm theo những lời chửi rủa tục tĩu.
Anh tài xế của hắn tên là Georgis quê ở Turin là người duy nhất còn lại trong quán chứng kiến tất cả vở kịch.
Điều gì đã xảy đến cho con người bất kính hung tợn đó? Bàn tay Chúa đè nặng trên hắn. Tám ngày sau, Georgis lái xe đưa vị chỉ huy của anh đi Florence, xe chạy hết tốc lực trên xa lộ vì trên bầu trời đầy đe doạ. Bốn khu trục cơ của Mỹ đang nhào lộn như bốn con chim mồi trên chiếc xe. Hai chiếc bay đi, hai chiếc ở lại bám riết con mồi và vụt nhào xuống trên chiếc xe. Hắn muốn chơi trò anh hùng ? Hay hắn quá sợ chết điếng đi chăng ? Ai mà biết ! Chiếc thứ nhất nhào xuống nhả đạn. Một viên đạn tiện hết ngón tay trái hắn. Hai viên nữa trúng bụng dưới. Chiếc thứ hai nhào xuống, viên trung uý gập đôi người gục vào xe, viên thứ bốn xuyên thủng đùi phải hắn.
“Các khu trục bay đi, Georgis từ chỗ nấp chạy ra xe, viên trung uý đang hấp hối. Không tự chủ được, anh thốt lên :
- “Tượng Chuộc Tội ! Tượng Chuộc Tội !”
      Một linh mục cũng từ chỗ nấp chạy tới. Ngài đã chứng kiến cuộc tấn công trên xa lộ và đoán được tai nạn. Ngài cúi xuống trên nạn nhân đang trút máu và mồ hôi, ngài nghe anh ta rên rỉ :
- “Thực là bàn tay Chúa”.
Rồi thu hết tàn lực anh ta đưa tay phải còn lại vì Dấu Thánh Giá. Heinrich Lohse, con người phạm thượng đã an nghỉ trong bàn tay yêu thương của Chúa như người trộm lành bên phải Chúa”.
Cái tin vụ phạm Thánh và hình phạt của Chúa loan đi rất nhanh. Người ta đổ đi tìm tượng Chịu Nạn, tượng nằm trong một thùng chứa quân trang. Cha xứ làm phép lại, cộng đoàn dân Chúa kiệu tượng về nhà thờ gói trong tấm vải đặt trong hộp kiếng. Ngày kỷ niệm thứ hai cả giáo xứ rước Tượng quanh làng với đèn đuốc và ca nhạc tưng bừng. Khách cứ đến quán Café xem các vết đạn trên tường và vào cha xứ, ngài sẽ mở công hàm cho đọc câu chuyện vụ việc có chữ ký xác nhận và chứng thực của anh tài xế Georgis. Khách tự kết luận vụ việc”.
Hình phạt là ân sủng. Lòng Nhân Từ và sự Công Bình của Chúa luôn đi đôi với nhau.

14.             “NHỮNG CON BÒ  KHÔNG CẦN ĐẠO !
 
     Một hôm cha xứ Voiron nói với một bà mẹ :
- “Bà hãy cho cháu đi học Giáo Lý đều đặn, nếu không, tôi không thể cho cháu xưng tội, Rước Lễ lần đầu được.”
Bà mẹ cục cằn trả lời :
- “Thằng bé nhà tôi không cần Giáo Lý, không cần Rước Lễ, những cây sồi vẫn lớn lên trong rừng kia đâu có đạo nghĩa gì đâu !”
Cha xứ trả lời :
- “Bà nói đúng, cả những con bò trong chuồng cũng không cần đạo nghĩa gì ?”
Hai mươi năm sau, thằng con trai của bà bị toà án tỉnh Assise kết án tử hình vì tội : “Hắn đã bóp cổ mẹ hắn vì lẽ không xin được tiền đi ăn nhậu”
 
 
 
 
15.  CẦU NGUYỆN VÀ LAO ĐỘNG
 
Một ông thuỷ thủ già dẫn một chàng trẻ xuống chơi xuồng của ông. Mái chèo bên phải mang chữ Prier (Cầu Nguyện), mái bên trái mang chữ Travailler (Lao Động). Chàng trai chế nhạo ông già :
- “Bố già ơi ! Bố lẩm cẩm chậm tiến quá ! Đã lao động thì cần gì phải cầu nguyện nữa.”
Ông thuỷ thủ già không nói gì cả, ông gác cái mái chèo Cầu Nguyện lên xuồng và chỉ chèo với một mái chèo Lao Động thôi. Ông chèo, chèo mãi … nhưng cái xuồng cứ quay tròn chứ không chịu tiến lên phía trước. Chàng trẻ mới nghĩ ra phải có cái mái chèo Cầu Nguyện kia cùng với cái Lao Động kia nữa mới được.
 
16.  CẦU NGUYỆN LÀ CHIẾN THUẬT
 
Trong cuộc khảo thí tại trường sỹ quan, vị Thiếu tá giám khảo hỏi một chuẩn uý :
-  “Trong một cuộc hành quân, đơn vị do anh chỉ huy rơi vào tình huống này : Phía trước và hai bên đơn vị anh bị địch quân bao vây chặt, chúng lại chặn cả lối rút lui của anh, có nghĩa là đơn vị anh bị bao gọn, lúc đó anh xử trí thế nào ?”
Mọi con mắt của ban giám khảo đổ dồn về anh sỹ quan trẻ, anh suy nghĩ một lát rồi đứng nghiêm trả lời quyết định :
- “Thưa Thiếu tá và Ban Giám Khảo, tôi sẽ hạ lệnh : Cầu Nguyện”.
Tất cả Ban Giám Khảo nhìn nhau bỡ ngỡ, không ai nghĩ tới câu trả lời như thế. Viên Thiếu tá vỗ vai vị sỹ quan trẻ và nói :
-“Anh hãy xử sự đúng như hôm nay nhé !”
 
17.  NÀNG LÀ AI ? ĐỂ TÔI CA TỤNG
 
Bác sỹ Paul Nagai, người Nhật, là giáo sư dược, một nhà quang tuyến học nổi tiếng, chuyên viên nghiên cứu nguyên tử năng, một gia trưởng hạnh phúc. Trái bom nguyên tử của Mỹ thả xuống Nagasaki đã cướp đi bà vợ thương mến của ông, phá sập ngôi nhà và tàn phá sức khoẻ của ông. Chúng ta nghe ông kể về bà vợ cao quý của ông :
- “Tốt nghiệp đại học được ba năm, tôi lập gia đình. Tôi được mời làm giảng sư phụ khuyết trường Đại học với số lương còm 40 yen một tháng. Rất chật vật lo sống với số lương khiêm tốn đó nhưng không bao giờ tôi nghe vợ tôi phàn nàn một tiếng. Muốn tặng nàng một món quà tôi cũng không có tiền. Không khi nào chúng tôi đi tới rạp hát hay quán giải khát. Mỗi năm chúng tôi chỉ có một ngày nghỉ, chúng tôi đi ra bãi biển. Ngày nào tôi cũng cặm cụi trong phòng bào chế tới khuya, mình nàng săn sóc công việc nhà cửa. Chúng tôi sống như vậy suốt 7 năm với đồng lương tháng 40 yen èo uột.
Vợ tôi may lấy quần áo cho cả nhà. Nàng chẳng nghĩ gì đến trang sức, dù một lọ nước hoa, một thỏi son tô môi, theo lối các bà, cũng không có. Trời giá lạnh, nàng chở phân ra vườn làm việc, trời mưa gió nàng ngồi nhà may vá không ngừng tay. Ngoài việc nhà, nàng còn tham gia công tác của các nhóm từ thiện trong xứ mà nàng là Trưởng, lúc đó ở Nagasaki có 18 nhóm.
Nàng tuyệt nhiên không cho tôi biết những lo lắng tài chánh dù rất khẩn thiết. Nàng nghĩ không nên quấy rầy nhà nghiên cứu khi ông đang làm việc, đàng khác còn phải bồi dưỡng cho ông bằng những món ăn chọn lọc, phải nhắc ông đeo cà vạt khi đi ra ngoài v … v… Nàng băn khoăn không biết có nên xếp lại từng đống sổ ghi chú, tác phẩm chuyên môn, hình ảnh, những tấm thiệp … Nàng không biết tối nay chồng có về nhà không ? Sống bình thản, luôn chu toàn bổn phận, bên một ông chồng như thế thật là một việc phi thường.
Cái phần thưởng duy nhất cho những lao nhọc, chuyên tâm của nàng chính là những bài báo tôi viết trên các báo chí. Các bà vợ khác thì có lẽ chỉ cầm coi phớt qua rồi vất bỏ, nàng thì khác, cầm xấp báo còn thơm hơi mực mà nhân viên toà báo đem tới nàng đọc kỹ, đứng lên kính cẩn giở từng trang. Tên tôi đấy, tiếp đến là một chuỗi câu văn mà nàng hiểu làm sao được vì toàn từ chuyên môn. Nàng chăm chú đọc, hai mắt thường rướm lệ vì nàng nghĩ đây là kết quả bao lao nhọc của tôi. Lúc đó tôi ngồi xếp bằng tròn trên nền nhà tay ẵm con, lòng tôi tràn ngập niềm hãnh diện và hân hoan.
Cái thời gian vui đẹp nhất của gia đình tôi là những sáng Chúa Nhật. Tôi dắt tay thằng bé, nàng cõng đứa nhỏ trên lưng. Lần theo con đường trong xóm leo lên ngôi nhà thờ tường đỏ trên đỉnh đồi. Trên tháp tiếng chuông reo vui. Các tín đồ vui vẻ ra khỏi nhà, trong y phục ngày lễ, nhập bọn với chúng tôi. Ngồi vào các hàng ghế, ánh mặt trời qua các khung cửa kính màu chiếu xuống lấp lánh, tiếng của chúng tôi, tiếng ngập ngọng của lũ trẻ thơ, giọng trầm trầm của bác nhà quê bên xóm hoà điệu ca ngợi Cha Trên Trời. Ôi ! không bao giờ  tôi còn được thấy lại những ngày hạnh phúc đó !”
Những cuộc thử nghiệm nguyên tử đã đặt tôi thường xuyên trước những tia sáng giết người và kết quả tôi mắc bệnh Hoại Huyết. Tôi biết rằng tôi không còn sống được bao lâu nữa, tôi tin tưởng cho nàng biết. Chúng tôi bàn thảo những gì phải làm, nàng không tỏ một dấu lo sợ, đó chính là điều tôi mong đợi và tôi rất vui sướng vì có được một người bạn đời can đảm như thế ! Nàng kiên nhẫn săn sóc tôi không biết mỏi mệt. Sức khoẻ tôi còn xấu đi. Đại chiến bùng nổ. Mỗi lần báo động tôi lại loạng choạng đứng dậy đội cái mũ lên đầu. Có hôm nàng cõng tôi tới  trường  Đại Học.
Ngày 8 tháng 8 năm 1945 nàng tiễn chân tôi ra tận cửa, một nụ cười khả ái trên môi như mọi ngày. Đi được một quãng tôi nhớ ra chưa uống Café, tôi trở lại nhà và thấy nàng đang quỳ ngay bên cửa khóc thổn thức. Đó là lần gặp gỡ cuối cùng, vì phải trực phòng không, đêm đó tôi phải ở lại trường.
Ngày hôm sau 9/8/1945, trái bom nguyên tử đã nổ trên chúng tôi. Tôi bị thương. Có một lúc tôi thấy khuôn mặt nàng ngay trước mắt, nhưng còn bận chăm sóc các nạn nhân, tôi cũng bị mất nhiều máu, năm tiếng đồng hồ sau tôi bất tỉnh. Tôi linh cảm vợ tôi đã chết, nếu còn sống thì bây giờ nàng đang ở bên tôi rồi vì nhà tôi chỉ cách xa trường 1 km. Không gì có thể ngăn nàng được nếu cần nàng sẽ bò lết đến với tôi. Ba hôm sau, thu xếp tạm ổn cho các sinh viên chết và bị thương. Tôi trở về nhà vào ban chiều. Cả ngôi nhà chỉ còn là đống tro. Tôi đưa rảo mắt nhìn quanh, nhà bếp là một đống hoang tàn, giữa đống đổ nát, xác vợ tôi đã cháy thành than nằm đó, bên cạnh nàng là chuỗi Mân Côi còn lại cây Thánh Giá và cái giây. Tôi hốt đám tro tàn còn ấm đó vào một cái thau gỗ cháy giở, tôi ôm lên ngực và cứ thế tôi đem đi chôn. Trong khu phố không một ai sống sót. Những xương cháy vung vãi rải rác trên đống hoang tàn dưới ánh hoàng hôn. Chúa ơi ! Nào chúng tôi đã không ước hẹn với nhau rằng : Nàng sẽ giúp đõ tôi chết cơ mà ? Nhưng nào có ai biết được mệnh số ? Nắm tro tôi ôm trên ngực như cụ quậy. Tôi tưởng như nghe tiếng người vợ thương yêu : “Anh ơi, tha thứ cho em. Tha thứ cho em !”.
 
18.             BÁC SĨ PAUL NAGAI
 
Bác sĩ Paul Nagai, Giáo Sư Đại Học, Bộ Trưởng Văn Hoá Giáo Dục nước Nhật, nhà đại thông thái, để lại cho chúng ta hồi ký cao đẹp về người vợ của ông. Năm 1951 ông đã chết vì hậu quả của trái bon nguyên tử thả xuống Nagasaki và những nghiên cứu nguyên tử năng. Cả nước Nhật tôn vinh ông là “anh hùng  dân tộc”. Đối với chúng ta ông là một vĩ nhân Công Giáo.
Nằm liệt trên giường, chỉ còn da bọc xương, với những cơn đau xé ruột gan, ông đã viết : “Tất cả những chướng ngại trên đường tiến bộ thiêng liêng được trái bom nguyên tử quét sạch. Lúc này tôi được hưởng niềm hạnh phúc mà chỉ có Chúa mới ban được. Thần chết đang đứng chờ là một hồng ân lớn lao nhất của tình yêu thương muôn đời. Những nỗi đau đớn tinh thần và thể xác tôi đang chịu trước khi rời bỏ trần đời rất cần thiết để biểu dương tới phút chót lòng nhân hậu và vinh quang Chúa. Tôi chờ cuộc sống muôn đời. Tâm hồn tràn niềm vui”.
Đó là mùa xuân năm 1951. Trong khu vườn nhỏ Nyokodo những bông hoa anh đào bắt đầu nở, nhưng trong một “viện bác ái” một người đang chuẩn bị về thế giới bên kia. Bạch huyết cầu, bình thường là 7000 đã vọt lên 330000, chỉ một động tác nhỏ cũng đủ làm cho người bệnh thấm mệt, không làm sao ngủ được, những cơn ho nghẹt thở. Chuỗi Mân Côi Đức Thánh Cha Pio XII trao ban không rời tay bệnh nhân. Bác sỹ Paul Nagai đếm thời giờ theo từng lời kinh. Sau mỗi kinh Kính mừng ông lại thêm “Haiwa-wo” (xin ban bình an cho chúng con). Có lúc ông lấy bút lông viết câu đó lên các mẩu giấy rồi đóng triện của ông vào. Hàng vạn học sinh của ông đã giữ những miếng giấy này làm di vật.
Động lực nào đã nâng cao lòng nhiệt thành Tông Đồ của bác sỹ Nagai tới phút cuối đời ?  Ông cho biết :
- “Thánh Thể Chúa Giêsu Kitô, mà mỗi Chúa Nhật cha Ushida đem đến cho tôi, ban cho tôi sức mạnh phi thường. Tự sức mình tôi không thể làm  được gì.”
Vào tháng 4, bác sỹ đã viết xong cuốn sách cuối cùng. Tác phẩm đời ông đã tới trang cuối. Ông viết cho một giáo sư dạy con trai ông là Makoto :
- “Tôi có một mong ước lớn là con tôi hiến đời nó cho việc nghiên cứu nguyên tử năng … Tôi sẽ vô cùng sung sướng nếu biết rằng đó là ý hướng của nó … lúc đó tôi có thể hân hoan ra đi, hạnh phúc của tôi hoàn toàn”.
Đến cuối tháng tay phải ông hoàn toàn tê liệt, ngày 30/4 ông lãnh các Bí Tích cuối cùng và Chịu Của Ăn Đàng. Suốt đêm trước ông dọn tâm hồn, dù cơn nóng lạnh hành hạ, ông không uống một giọt nước. Các bạn bè chuyển ông tới bệnh viện trong tấm lòng kính trọng và biết ơn. Ông chúc lành cho cậu con trai 16 tuổi đang theo học tại Học Viện của các cha Mariste và từ biệt con.
- “Con hãy gắng công học tập và làm việc tốt vì dân tộc và nhân loại. Nhưng trên tất cả, con hãy cố để trở thành một linh mục tốt của Chúa”.
Ngày  1/5 đầu tháng Đức Mẹ, ông tỉnh lại và kêu lên :
- “Giêsu, Maria, Giuse”.
Ông lịm dần trong tiếng thì thào :
-             “Con phó linh hồn trong tay Chúa”.
Cậu Makoto đặt tượng Chịu Nạn, kỷ vật của thời bách đạo, vào tay trái cha mình. Ông còn gượng nói :
-             “Cầu nguyện, Cầu nguyện đi”.
Đó là những lời cuối cùng. Tim ông ngừng đập. Bác sỹ Nagai không còn nữa !
   Ông mới 43 tuổi. Trên môi nở nụ cười thánh thiện.
 
 

19.                             THIẾU NỮ ANH HÙNG CỦA KHÁNH HOÀ
 
Vào năm 1850 cơn bách đạo hoành hành trong tỉnh Khánh Hoà. Các nhà tù chật ních giáo dân, nhưng không phải tất cả đều là anh hùng, giữa những kẻ hèn nhát có một số quan chức. Họ lý luận :
- “Chống làm sao lại giông bão, tuỳ gió mà che để khỏi ngã gục. Sóng gió qua đi mình lại giữ đạo, có sao đâu ! Mình chỉ chối đạo ngoài miệng chứ trong tâm mình đâu có bỏ đạo”.
- “Sự hèn nhát của họ đã đụng đầu với lòng kiên cường bất khuất của một cô gái nhỏ. Cô đã đi vào lịch sử với danh hiệu “thiếu nữ anh hùng của Khánh Hoà”.
- Tên cô là Giản. Con một gia đình khó nghèo thuộc họ Bình Khang, mới 13 tuổi. Cô bị bắt giam cùng với cha, mẹ, và người chị. Ngoài những cực hình tra khảo, họ còn chịu cái khổ đói khát, vì theo luật Việt Nam tù nhân phải tự túc lương thực cho tới ngày tuyên án. Thân thuộc đều nghèo quá lấy gì mà thăm nuôi, chỉ trông vào chút bố thí, và chẳng được bao nhiêu. Sau hai năm cực khổ đói khát mẹ và chị hết sức chịu đựng đã bỏ đạo. Ông bố cố chống chõi, riêng bé Giản không một chút nao núng.
- Cô là tù nhân trẻ nhất trong nhà giam. Mỗi tuần bọn cầm quyền lại ra lệnh lôi cô ra một hay vài lần đánh đập tàn nhẫn, có ý đập vỡ lòng kiên cường của cô. Cả trong các bạn tù cô cũng có những kẻ thù. Các quan chức đã hèn nhát chối đạo vẫn còn bị tạm giam vì người ta chưa tin hẳn vào họ, nhục nhã trước lòng can đảm của cô bé, họ túm lại khuyên giục, chế nhạo, gọi cô là con điên, con cuồng tín, con cứng đầu … họ tìm mọi cách để cho cô theo họ. Nhưng những người trung thành càng yêu mến, kính trọng và tuyên dương người bạn kiên cường của họ. Có người hỏi làm sao cô có thể chịu đòn nát cả thịt mà không kêu la một tiếng ? Cô thản nhiên cho biết :
-  “Em cũng đau lắm chứ ! Nhưng em cố không nghĩ đến đó. Khi làn roi quất xuống, em đọc kinh bắt đạo. Đọc đi đọc lại. Em cầu nguyện không ngừng cho tới lúc ngừng đánh mới thôi.” Kinh Bắt Đạo là một kinh rất cảm động xin ơn củng cố các tín hữu trong cơn bách đạo. Đó là một bản Tuyên Xưng Đức Tin, cam kết sẵn lòng chịu mọi sự để giữ lòng trung tín vì tình yêu Đấng Cứu Chuộc đã chịu cực hình vì ta. Lại xin ơn sức mạnh để khỏi yếu hèn trước các cực hình.
Một hôm ông bố trong lúc yếu hèn đã nói mình hết sức chịu đựng những cực hình do tay ông quan mới tới nhậm chức. Ông quyết tâm tới lần tra vấn này sẽ chối đạo. Bé Giản đổ hai hàng lệ cay đắng nói với cha :
- “Ba ơi, ba định bỏ đạo sau ba năm chịu khổ ư ? Ba năm ba chịu cực biến thành công dã tràng sao ? Ba đành lòng chối Chúa à ? Thà chết ngàn lần không hơn sao ?”
Suốt đêm cô van nài, năn nỉ cha cô, nhưng vô ích ! Vừa ra trước toà ông đã giơ chân đạp Thánh Giá. Ông được tha về, lúc ông đi ra, cô bé nói với ông :
- “Ba đã chối Chúa, từ nay con không còn coi ba là cha của con nữa. Thôi ông đi đi, xin Chúa thương xót ông !”
Bé Giản bị dẫn ra trước ông Tường, vị quan chức mới. Ông ta ra lệnh gia hình cô bé khủng khiếp vì cô không chịu theo gương cha cô. Cô bất tỉnh dưới làn roi vọt, người ta dìu cô về ngục mình đẫm máu ! Hai ngày sau, vết thương còn rỉ máu bọn lính lại cô ra hành khổ nữa. Tưởng cô chết rồi, họ khiêng ném cô ra ngoài hàng rào. Một bạn tù trung thành với Đức Tin ẵm cô về ngục, đặt cô nằm trên tấm ván ọp ẹp. Cô hoàn toàn bất động. Nhưng không một tiếng rên thoát ra khỏi miệng. Từ các vết thương giòi bọ đã phát sinh, những người bạn cố gắp những con giòi và rửa các vết thương cho cô.
Mười lăm ngày sau cuộc hành hình, cô đã chết quằn quại trong cơn đau xé ruột.
 
20.     CHÚNG TÔI MUỐN GẶP THẦY GIÊSU (Ga 12:21)
 
Cha Cotheney, đại diện Tông Toà của Lạng Sơn Cao Bằng kể câu chuyện sau đây :
Vào khoảng tháng 5 năm 1924, một người dự tòng thuộc dân tộc Thổ ngã bệnh nặng. Hôm  đó, ông xin bà vợ đi mời cha truyền giáo đến Rửa Tội cho ông ta. Ông ta muốn thế vì theo ông nói ông sắp chết rồi : “Ba ngày nữa tôi sẽ chết”. Bà vợ e ngại trấn an chồng là bệnh ông đâu đã đến nỗi nào, ông cứ nài nỉ, bà hỏi thử ông :
- “Sao ông biết thế ?”
Ông trả lời :
- “Tôi biết rất chắc, chính Chúa Giêsu bảo tôi”.
- “Ông nom thấy Chúa à?”
- “Phải tôi thấy Chúa sáu lần và Người bảo tôi, ba ngày nữa tôi sẽ chết”.
Bà vợ cho rằng ông mơ đó. Ông trả lời :
- “Không, không mơ đâu. Khi Chúa đến tôi hoàn toàn tỉnh táo mà”.
- “Thế ông thấy Chúa thế nào ?”
- “Ồ, Chúa đẹp lắm không thể tả được. Áo  Người mặc vô cùng lộng lẫy. Hai vị hầu cận cũng đẹp lắm nhưng không bằng Người”.
- “Người  đã nói gì với ông ?”
- “Người cho tôi thấy vinh quang không thể tưởng tượng. Người nói : “Cha đến cho con hay là sau khi con nhận Thần Dược (Phép Rửa Tội) con sẽ chết. Con sẽ lên ở bên Cha đời đời.
Vị truyền giáo tới, Ngài thấy tình trạng của ông chưa khẩn cấp, giả như ông ta nguy tử thì ngài Rửa Tội ngay khỏi đòi học hỏi gì cả. Ngài phân vân. Nhưng bệnh nhân cứ nài nỉ, nên đến ngày thứ ba ngài ban Thần Dược cho ông ta. Giờ đã đến ! Ngay hôm đó ông chết như đã báo trước.
Biến cố có vẻ khác thường, thực ra Chúa đã thực hiện lời xin của dân ngoại trong Tin Mừng Thánh Gioan, 12 : 21 : “Chúng tôi muốn gặp Thầy Giêsu”. Để yên ủi một tâm hồn đơn sơ chất phác và kéo nó đến với mình qua trung gian các linh mục, người Chúa đã tuyển chọn.
 
21. “ CON CÓ ĐỔ MÁU ĐÂU !”
 
Trong một nhà thờ ở Tây Ban Nha, có một tượng Chịu Nạn nhưng tay phải không đóng vào Thánh Giá mà buông ra ngoài. Tượng này có một lịch sử : “Hôm đó, một tội nhân đến xưng tội, toà giải tội đặt dưới tượng Chịu Nạn. Hối nhân thành tâm thú tội không dấu giếm gì. Tội chồng chất và nặng nề anh khẩn khoản nài xin cha giải tội nhận lời :
- “Được, cha tha tội cho con. Nhưng phải chừa dứt đi.”
     Anh hứa sẽ hết sức cố gắng. Nhưng ngựa quen đường cũ, sau ít ngày phấn đấu, anh lại sa vào đường tội, ngày lễ  trọng đến anh thống hối vào toà xin xưng tội. Nghe tội xong  cha giải tội bảo :
- “Lần này cha không giải tội cho con được”
Hối nhân khẩn khoản :
- “Con thành tâm thống hối. Con đã cố gắng, nhưng con quá yếu đuối. Xin cha thương con,”
- “Thôi được, đây là lần cuối, tôi tha tội cho anh”.
Ít lâu sau, anh lại trở lại xin xưng tội. Cũng vẫn thế, có giảm chút ít thôi. Cha giải tội đuổi thẳng :
- “Quá tam ba bận. Con cứ chai lỳ trong tội như thế ! Cha nhất định không ban ơn xá giải cho con được. Con đi ra đi”.
- ‘Thưa cha, con thành tâm thống hối, nhưng vì con yếu đuối quá”.
- “Không, tôi bảo rằng không. Anh đi ra đi”.
      Lúc đó nghe có tiếng ai khóc, tiếng khóc từ tượng Chịu Nạn. Cha giải tội và hối nhân nhìn lên. Tay phải của tượng đã tháo ra khỏi Thánh Giá, giơ lên vạch trên đầu hối nhân làm dấu tha tội :
- “Con, con đã không đổ máu chết vì tội nhân này”.
 
22.  CHÚ BÉ ANH HÙNG
 
Trong số các nạn nhân của cuộc bách đạo tại Arménie thế kỷ vừa qua có một chú bé 12 tuổi. Em cương quyết chống lại những người Hồi Giáo cưỡng bức em bỏ đạo, những người lính đe doạ chặt tay em. Em giõng dạc trả lời :
-             “Đây, tay em đây các anh chặt đi,
Một nhát kiếm vung lên một bàn tay rớt xuống. Họ nghĩ rằng sự đau đớn và máu chẩy xối xả sẽ làm em bé sợ và đổi ý. Họ băng tay em lại và doạ :
-             “Theo Hồi Giáo đi, không thì chúng tao chặt nốt cái tay kia,”
Em  bé cương quyết :
-             “Không bao giờ !”
Một nhát kiếm nữa vung lên, bàn tay thứ hai rớt xuống. Bọn lính lại băng  tay em. Em vẫn kiên cường với Đức Tin của mình, bọn lính giận điên lên chúng đe doạ chặt đầu em. Em bình thản, hơi nhăn mặt vì đau đớn, cúi đầu xuống và nói:
-             “Các anh hãy chặt đầu em đi. Em mong được chết vì đạo cũng như em đã sống cho đạo.”
Lưỡi kiếm rít lên và chiếc đầu non nớt vô tội rớt xuống, trong khi linh hồn thánh thiện bay về bên Chúa.
 
23.  CHỈ CÓ CHÚA LÀ TOÀN NĂNG
 
Xưởng đóng tầu ở Belford , Ái-nhĩ-lan, chuẩn bị hạ thuỷ chiếc tầu rất lớn mang tên là Titanic ( người khổng lồ ).
Họ quả quyết rằng con tầu vĩ đại này sẽ cầy xé lòng đại dương và đè bẹp mọi cơn sóng bão. Số đông thợ đóng tầu là vô thần. Họ đã vẽ vạch trên vỏ tầu đủ mọi lời lộng ngôn, chống báng tôn giáo có ý hạ nhục các bạn Công Giáo. Có những hàng chữ : “Cả đến Giê-su Kitô cũng không nhận chìm được.” Chạy dọc hai bên sườn là hai hàng chữ lớn “ NO GOD NO POPE” (không có Chúa không có giáo hoàng), bên kia “ Cả trời đất không nhận chìm được chúng tao”. Một lớp sơn phủ lên trên hàng chữ nhưng vẫn có thể đọc được. Một thủy thủ có đạo lo ngại viết thư về nhà ở Dublin : “ Con chắc chắn con tầu này không thể tới được Châu Mỹ, vì những lời phạm thượng viết trên vỏ tầu.”
Thư đó gia đình anh ta còn trân trọng giữ gìn như di ngôn của đứa con. Đúng, anh không bao giờ trở về.
Con tầu khổng lồ trườn ra biển vào tuần lễ Phục sinh năm 1912. Viên thuyền trưởng cũng vô tín ngưỡng, trong bữa tiệc liên hoan với khách trên tầu ông đã thốt ra bao lời phạm thượng, lộng ngôn và dưới làn sương mù dầy đặc, mặt biển đầy băng sơn, ông ra lệnh : “ Thẳng tiến ! Hết tốc lực !”
Đúng vào sáng Chúa Nhật Quasimodo ( CN I sau Phục Sinh), một tảng đá băng sơn ngầm đã vạch một đường lớn suốt dọc con tầu, ngay trên hàng chữ  No God No Pope. Đường vạch khủng khiếp, nước tràn vào như thác đổ, gọi cấp cứu không được vì con tầu đang kẹt giữa vùng băng biển. Nó từ từ chìm xuống.
Trên tầu chở 1800 hành khách, 1100 người chết . 700 người được cứu sống hầu hết là phụ nữ và con trẻ.
 
24.  TRÁCH NHIỆM TRÊN HẾT
 
Trong ngôi nhà thờ ở Hasenburen thuộc miền Brême có những bức họa ngộ nghĩnh và những câu ghi chú còn ngộ nghĩnh hơn. Trước hết là hình một hòang đế tay cầm phủ việt, đầu đội vương miện, dưới có hàng chữ : “ Ta cai trị các ngươi.” Tiếp đến là hình vị Giáo Hòang tay cầm gậy với mũ ba tầng trên đầu với hàng chữ : “ Ta giáo huấn các ngươi .” Xa chút nữa là hình anh lính tay vung kiếm với hàng chữ : “ Tôi bảo vệ tất cả anh chị em .” Rồi đến hình bác nông dân vác cái cầy có hàng chữ : “ Tôi nuôi tất cả quý vị .” Sau cùng là hình Thần Chết cầm cái hái khổng lồ với hàng chữ : “ Nếu các ngài không chu tòan trách nhiệm, tôi sẽ lôi tất cả qúy ngài đi!”
 
25.  TIN  TRONG  KHỐN  QUẪN
 
   Maurice Barres đã kể lại câu chuyện sau đây :
Những người thu dọn chiến trường đã tìm thấy trong xó rừng một anh lính Đức bị tử thương . Anh đã nằm đây năm ngày không ăn uống, không ai săn sóc. Đúng lúc đội cứu thương tới thì anh ta chết . Trong túi anh có cuốn sổ tay ghi nguệch ngọac những hàng chữ cuối cùng : “ Đây là ý Chúa, tôi xin hòan tòan vâng phục. Một viên đạn của Pháp đã đập nát đầu gối khiến mọi cử động hòan tòan bị tê liệt. Tôi nằm đây đã năm ngày trong xó rừng này. Tôi sắp chết vì đau đớn và đói khát . Tôi van xin Chúa đến cứu tôi, tôi không được nhận lời, dù vậy tôi vẫn trung thành với Người, tôi không phàn nàn gì hết vì giờ của tôi đã điểm. Chẳng bao lâu nữa tôi sẽ đi về quê muôn đời. Xin vĩnh biệt mọi người. Tôi về Trời đây !”
 
26.  BỎ CHÚA LÀ CHẾT
 
Năm 1453, đoàn quân Thổ dưới quyền chỉ huy của Hồi vương Mahomed II đã chiếm Constantinople, thủ đô của Đế quốc Rôma bên Đông. Vị Hồi Vương đã hứa cho các đơn vị man rợ của ông tất cả dân thành và tài sản trong đó làm chiến lợi phẩm, ông chỉ truyền lệnh bảo vệ các lâu đài lịch sử và công thự. Cuộc tàn phá kinh hoàng kéo dài trong tám tiếng đồng hồ. Những người sống sót bị bắt làm nô lệ, rất nhiều người đành mất cả cái kho tàng quý giá nhất của mình là Đức Tin.
Trong số người bị bắt có một cô gái quý tộc tên là Irène, Tiếng sắc đẹp của cô đã tới tai Hồi Vương. Ông truyền dẫn cô tới. Say mê sắc đẹp của cô, ông hứa đặt cô lên ngôi hoàng hậu nếu cô chịu bỏ đạo Công Giáo và theo Hồi Giáo. Cô đã yếu hèn chấp nhận đề nghị. Các tướng lãnh phàn nàn rằng nhà vua đã chỉ còn thấy và nghe lời cô gái có đạo Thiên Chúa mà sao lãng họ. Hồi Vương suy nghĩ và ông muốn cho họ thấy là người có bản lĩnh vẫn làm chủ được mình.
Ông định ngày ra mắt công chúng trước quân dân bên cạnh cô Irène lộng lẫy và duyên dáng. Ông cho cô biết sắp long trọng nhận triều thiên hoàng hậu. Mọi con mắt đổ dồn về đôi vợ chồng vương giả và trầm trồ. Hồi Vương một lần nữa hỏi cô Irène có chối bỏ đạo Công Giáo và theo Hồi Giáo không ? Cô gái khốn nạn công khai trả lời : Có. Hồi vương đặt triều thiên vàng lên đầu cô và bảo cô tiến lên trước cho công chúng tung hô. Cô kiêu hãnh bước lên, nhanh như chớp một luồng kiếm vung lên. Hồi Vương đã chém bay chiếc đầu xinh đẹp rơi xuống đất.
 
27.  THUỐC CHỮA BỆNH LY DỊ
 
Một chị phụ nữ đến gặp ông Windthorst, Chủ Tịch Công Giáo Tiến Hành nước Đức, Cố Vấn Toà Hoà Giải Hanovre, xin ly dị vì không sống được với anh chồng cứ chiều về là say khướt và hành hạ vợ. Ông Windthorst hỏi :
-             “Này chị, vậy lúc đó chị làm gì ?”
Chị trả lời :
-             “Thưa ông, dĩ nhiên chẳng ai câm miệng mãi được.”
Ông Windthost tiếp lời :
-             “Tôi nghĩ có lẽ trong nhà chị thiếu một vật dụng”.
-             “Thưa ông, thiếu cái gì cơ ạ ?”
-             “Chị hãy về kiếm cái bàn quỳ, mỗi chiều chồng chị say khướt trở về và kiếm chuyện, chị hãy vào quỳ nói chuyện với Chúa đừng nói lại với anh ta.”
Người phụ nữ nghe lời khuyên đó và chị nói rằng tình trạng gia đình đã khả quan hơn trước nhiều.
 
28.  ĐỪNG THÁCH THỨC CHÚA
 
Vùng Messine đã từ 120 năm không bị động đất, dân trong vùng cho là tất cả đã ổn rồi và mặc dầu có khuyến cáo của thẩm quyền họ đã xây những ngôi nhà cao tầng. Vào dịp lễ Noel 1908, trên một tờ báo của Chi Bộ Đảng Xã Hội, có những lời nhạo báng, thách thức Chúa Hài Nhi :
- “Này  chú bé Giêsu, chú có giỏi thì làm động đất đi xem.” Bài báo đó đã được đăng lên ngày 26/12 thì hai ngày sau 28/12 một cơn động đất khủng khiếp chưa từng thấy bùng nổ. Trong vài giây đồng hồ 60.000 người tức là 1/3 dân số bị vùi giập. Tiếp theo là hoả hoạn thiêu rụi hết nhà cửa và cao ốc.
 
29.  AI NGU DỐT ĐÂY
 
Chuyến xe lửa tốc hành từ Francfort đi Bâle chạy qua một xóm đạo mới xây dựng ngôi nhà thờ với ngọn tháp vươn cao. Một hành khách trẻ, có vẻ là một sinh viên, lớn tiếng phát biểu :
- “Lũ dân ở đây không biết sử dụng tiền bạc vào công việc hữu ích hơn mà đi xây cất nhà thờ. Đúng ra họ nên xây hội trường, thế mới tiến bộ chứ.”
Một ông khách ngồi bên anh bỡ ngỡ hỏi :
“Sao lại không nên xây nhà thờ ?” Chắc cậu có cái gì không ưng cái đó ?”
- “Ồ, thời đại này chỉ có bọn ngu dốt mới đi tới nhà thờ.”
- “Ra thế đấy, vậy tôi nằm trong số người ngu dốt đó.”
Một ông khách khác tiếp lời :
- “Tôi cũng thế. Mặc dầu bận dậy Đại học Leipzig, tôi vẫn đi lễ các ngày Chúa Nhật.”
Một ông có vẻ vị vọng tiếp :
- “Tôi cũng xin xếp vào hàng  với bọn ngu dốt, tôi hiện là Cố Vấn Tư Pháp của Toà Hoà Giải Rộng Quyền Tỉnh X.”
Một vị nữa nói :
- “Còn tôi, giáo sư Đại Học Berne, tôi cũng vào hàng bọn ngu dốt”.
Bốn vị khách chào nhau, bắt tay thân mật, trò chuyện vui vẻ làm quen với nhau. Chàng trẻ mặt đỏ nhừ ngồi thu hình trong một góc không dám nói nửa lời.
 
30.  CHÚA TRÊN TẤT CẢ
 
Hoàng đế Fréderic II Vua nước Phổ, hay bổ báng đạo, trong một bữa tiệc, ông đã buông những lời bổ báng xúc phạm tới đạo. Đại tướng Ziethen đứng lên tâu vua :
- “Tâu Hoàng Thượng, Hoàng Thượng có biết trong cuộc chiến vừa qua, thần không hề chùn bước trước một nguy hiểm nào, và có những lúc cực kỳ nguy hiểm, thần cũng sẵn lòng dâng cả mạng sống cho Hoàng Thượng và Tổ Quốc. Tới hôm nay, thần vẫn có những tình cảm đó, nếu công việc đòi hỏi và Hoàng Thượng ra lệnh, thần sẽ đặt ngay đầu thần dưới chân Hoàng Thượng. Nhưng có một Đấng vượt cao trên chúng ta tất cả, trên cả Hoàng Thượng, đó là Đức Chúa Giêsu Kitô, Đấng Cứu Thế. Thần không chịu cho ai động đến Ngài mà bổ báng, chế giễu hay làm trò cười nhạo. Chính trong Người mà thần đặt để hết niềm tin, niềm ủi an, và tất cả hy vọng để sống cũng như để chết đấy. Nếu Hoàng Thượng cố tình đạp đổ niềm tin đó, vô tình Hoàng Thượng đã phá đổ mọi lợi ích của Hoàng Thượng và Tổ Quốc”.
 
31.             NIỀM HÃNH DIỆN CỦA TÔI  LÀ ĐỨC TIN

Trong dịp bầu cử, một ứng viên có đạo đến vận động ở tỉnh Brive, ông đang nói, một đối thủ của ông ném tượng Chịu Nạn xuống trước chân ông, có ý để gây bối rối cho ông và lăng nhục đạo.
Anh ta đã hố to, ông này không chút bối rối, không ngập ngừng tỏ rõ thái độ cương nghị không vị nể ai. Ông cúi xuống trân trọng nâng tượng Chúa áp lên ngực và trả lời đối thủ :”
- “Thưa ông bạn, bạn muốn gây bối rối cho tôi chứ gì ? Trái lại, tôi coi đây là một may mắn để tôi có dịp công khai tuyên xưng Đức Tin của tôi, mãi mãi tôi hãnh diện về đạo của tôi. Với cây tượng Chịu Nạn này tôi tuyên tín niềm tin của tôi với lại có bao giờ tôi che giấu niềm tin đó đâu”.
Tiếp theo đó ông đã nhận rất nhiều tràng vỗ tay hoan hô của quần chúng. Họ cảm phục lòng can đảm hiên ngang của ông.
 
32.             TÔI SẼ CẦU NGUYỆN CHO NGÀI
 
Vào năm 1919, ông Osear Fader, Chủ tịch nước Hung-ga-ri, có dịp đến thăm một Học Viện của nữ sinh viên. Ông hỏi các cô về lịch sử Hung-ga-ri, một nữ sinh 16 tuổi với tất cả lòng yêu mến đạo và tổ quốc đã gan dạ trả lời ông. Ông chủ tịch xám mặt giận điên lên, chặn lời cô và đe doạ :
-             “Này nữ công dân, cô có biết rằng ta có thể treo cổ cô vì cái lối trả lời như thế không ?”
Cô nữ sinh trả lời :
-             “Thưa chủ tịch, em biết, nhưng em không sợ. Cả khi Chủ tịch treo cổ em lên, em sẽ càng cầu nguyện cho chủ tịch quay trở lại với Chúa”.
Câu trả lời gây ấn tượng mạnh trên con ngưòi cứng cỏi kia. Run lên vì giận, ông rời Học Viện miệng càu nhàu :
“Chưa thấy đứa nào cứng cổ như con bé này ?”
 
33.  KHÔNG CÓ GÌ PHẢI KHÓC
 
Xác của hai anh em tử đạo người Mexicô đã được chuyển sang QuânY Viện để trao trả về gia đình. Người ta chuẩn bị khâm liệm, người cha già 70 tuổi của hai anh em tới, cụ tên là Michel Pro, có cô con gái và mấy bạn đi theo. Trên khuôn mặt già nua hằn lên những nét đau thương, với giọng trầm buồn cụ nói :
- “Các con tôi nằm ở đâu ? Làm ơn cho tôi xem mặt chúng lần cuối !”
Người ta dẫn cụ vào phòng để xác, cụ cúi xuống hôn lên hai vầng trán lạnh đẫm máu. Trước cảnh đó cô gái khóc nức nở, cụ già quay lại nhìn con, nghiêm nghị nói :
- “Con ạ, chúng ta không có gì phải khóc cả”.
Cụ dẫn cô con gái ra ngoài, mình cụ trở lại phòng chứng kiến phút khâm liệm xác hai con và nhận xác đưa về nhà.
 
34.  CON CHO CHÚA CƠ MÀ …
 
Một tên trộm lẻn vào nhà thờ cậy cửa nhà tạm lấy bình đựng Mình Thánh, hắn ta đổ bánh thánh xuống đất và lấy chiếc bình. Cha xứ xúc động báo tin cho cộng đoàn và kêu gọi mọi người góp phần mua chiếc bình mới.
Trong số những người đến dâng góp có một bà goá, bà có tám con còn nhỏ, bà đến trao cho cha một đồng vàng, đó là tất cả cơ nghiệp của bà. Cha xứ cảm động chối :
- “Bà dâng nhiều quá ! Tôi không dám nhận đâu. Chúa cũng không đòi bà quá thế. Tôi không thể nhận một hy sinh to lớn như vậy. Bà rất cần số tiền đó, rất cần để nuôi nấng và may sắm cho các con bà. Nhận số tiền của bà dâng tôi coi là một trọng tội”.
Bà già thưa lại :
- “Thưa cha, sao cha không nhận ? Ai bảo rằng con cho cha đâu ? Đây không phải là con biếu cha, nhưng con dâng cho Chúa cơ mà. Chua đã ban và sẽ còn ban cho con hơn gấp bội ấy chứ”.
    Cha xứ phải nhận tiền bà già dâng và nói :
-“Này bà, lòng tin yêu Chúa của bà lớn quá !”
 
35.  SỨC NẶNG CỦA TÌNH YÊU
 
Sau khi giết Thánh Adalbert (năm 997) những người Phổ không chịu trả xác Thánh nhân về Ba Lan, họ đòi chuộc bằng một khối lượng vàng nặng bằng xác Thánh nhân. Phái đoàn đã tháo tất cả vàng bạc, đồ trang sức lên đĩa cân nhưng vẫn không đủ, họ tin rằng nhà vua sẽ bồi hoàn cho họ. Lúc đó có một bà cụ già nghèo khó lom khom tiến lại bỏ một đồng vàng, cả sản nghiệp của bà, vào đĩa cân. Cái cân nặng chúi xuống, xác vị Thánh vọt lên cao. Người ta rút bỏ số vàng cũ, cuối cùng còn lại duy nhất đồng tiền của bà cụ già trên đĩa, cân đã cân bằng.
 
36.                   BIẾT THÌ THƯA THỐT, KHÔNG BIẾT THÌ DỰA CỘT MÀ NGHE
 
Thống chế Pilsudski được mời tới dự bữa tiệc của giới thượng lưu. Trong bữa ăn, một viên kỹ sư người Ba Lan có ác cảm với đạo phát biểu ý kiến cho rằng Đạo chỉ là trò bịp bợm.
Thống chế chú ý nghe rồi lên tiếng :
-                           “Thưa ngài kỹ sư, ngài có biết tôi nghĩ gì về kỹ thuật không ? Theo tôi đó là một khám phá ngu dốt nhất của con người. Bị va chạm, viên kỹ sư ngắt lời :
-             “Thưa ngài Thống Chế, tôi không thể hiểu được ngài muốn nói gì ?”
Thống Chế sắc bén giải thích :
- “Thưa ngài kỹ sư, ngài tranh quyền phê bình đạo là một vấn đề ngài không biết gì, lại càng không hiểu gì cả. Thì tôi, tôi cũng có quyền phê phán kỹ thuật là môn tôi không học, không biết gì cả. Có thế thôi !”
   Thường người đời : xấu khoe tốt, dốt khoe chữ.
 
37.  CÀNG BAY CAO CÀNG TIN CHÚA
 
Hội Đồng Thành Phố Chicago (Mỹ) tổ chức bữa tiệc mời 5.000 thực khách để khoản đãi Phi Hành Đoàn của Thống Chế Ý Balbo, tại bàn ăn tất cả mọi thành viên của đoàn đều làm đấu đọc kinh xin Chúa ban phép lành trên của ăn. Khi vào nhà thờ Chính Toà Chicago dự lễ, ban quản lý nhà thờ mời Thống Chế và đoàn lên ngồi chỗ danh dự trên gian Thánh, Thống Chế từ chối và trả lời :
-             “Xin lỗi, chúng tôi không có ý đến đây để trình diễn nhưng chỉ để cầu nguyện và Tạ ơn Chúa.” Đến kinh Thánh, Thánh, Thánh, Thống Chế hô :
-             “Quỳ xuống”.
Ông và tất cả đoàn quỳ cho tới khi rướclễ. Đúng là cho người Mỹ một bài học. Thánh lễ  là gì và phải có thái độ cử chỉ nào khi dự lễ.
Đoàn đã ghi một ấn tượng rất đẹp trên mọi người có đạo, không có đạo. Tất cả mọi người đều có thiện cảm với họ.
 
38.  ĐỪNG ĐỘNG ĐẾN CHÚA TÔI
 
Tại Huajuanan, thuộc bang Léon (Mexico), Đức Cha Louis Altamirano, Giám Mục địa phận đã bị bắt dẫn giải về thủ đô. Tất cả cộng đoàn dân Chúa thương khóc ngài như khóc người cha. Mọi người không ngừng cầu nguyện xin Chúa giải thoát Ngài.
Một nữ giáo viên đạo đức tên là Juliana Olazar đã mua một số tượng chịu nạn nhỏ, và chiều hôm đó, khi chắc rằng không có ai thấy, cô đeo vào cổ từng em học sinh nhỏ và dặn các em đeo tượng ngày đêm. Cô còn treo một tượng lớn lên tường lớp. Cô bảo các em :
-             “Nào bây giờ cô và chúng em cầu xin Chúa Giêsu Kitô Vua cho Đức Cha thương mến của chúng ta đang bị giam trong ngục”.
Thầy trò đang cầu nguyện thì ở bên ngoài những lời tục tĩu vang lên, những tiếng đập cửa. Lũ trẻ sợ hãi không biết chạy đâu, chúng khóc la chạy lại níu áo cô :
-             “Cô ơi dẫn chúng em chạy đi”.
Mười hai tên lính với sĩ quan chỉ huy ập vào lớp. Họ túm các em lôi ra, giật đứt tượng các em đeo ở cổ, giật cả tượng đeo trên tường ném xuống đất trước mặt các em, hối thúc các em đạp lên tượng, không một em nào nghe lời họ. Giận điên lên bọn lính chạy lại định đạp lên các tượng Chúa. Nhanh như cắt, cô Juliana nhảy ra chặn họ và nói :
-             “Các anh hãy đạp lên xác tôi, hãy chà đạp tôi, nhưng đừng động đến Chúa tôi, Chúa Giêsu Kitô chịu đóng đanh của tôi”.
Viên sĩ quan rút súng, những tiếng nổ, xác cô giáo nằm trên vũng máu, tay vẫn ôm khư khư tượng Chịu Nạn.
 
39.  ĐỪNG LỘNG NGÔN PHẠM THƯỢNG
 
Thánh Thể được rước long trọng trên đường phố Bavière, trên hè phố có một chị đàn bà đã mất đức tin vì mê xem tranh ảnh, chiếu bóng, đọc sách báo xấu đứng xem đám rước. Một đoàn các em nhỏ mặc đồng phục trình diễn Mầu Nhiệm Nhập Thể, Sứ Thần Gabriel Truyền Tin cho Đức Mẹ đi qua, chị ta cười ngất và nói với người bên cạnh :
-             “Kìa coi, đúng là lũ hình nộm !”
Chưa hết, vừa lúc đó phương du Kiệu Mình Thánh đi tới, mọi người quỳ gối cung kính, chị ta tức giận thốt lên :
-             “Trời đất ơi ! Cả cái lũ thích nuốt mẩu bánh kia chết hết đi cho rảnh !”
Chị ta bỏ về nhà, đói bụng, chị lấy bánh mì ra ăn, miếng bánh kẹt lại cổ, không trôi đi được, chị nghẹt thở. Hai giờ sau chị chỉ còn là cái xác không hồn.
 
40.  CÔ BÉ XA LẠ
 
Vào năm 1919, hàng trăm con tin bị ném vào khám trung ương của Riga, họ là những nhà trí thức, những công chức, thương gia, bệnh nhân, trẻ thơ và người hấp hối. Họ bị giam chen chúc trong căn hầm dơ bẩn, bầu khí bị những xác chết thối rữa làm độc. Lương thực chính là món cháo nấu với vỏ khoai và tai ngựa. Ba trăm mười một nạn nhân bị kết án tử đang bị nhốt trong những cái hầm tối tăm và ẩm ướt này. Trong số họ có một cô bé 16 tuổi. Cô bé nằm ngửa, hai mắt mở lớn, hai tay chắp lại. Theo lời một nhân chứng kể lại, khuôn mặt cô bừng sáng hào quang thánh thiện. Số những nạn nhân hiếm hoi thoát hiểm đã kể lại câu chuyện về cô bé con một gia đình quý tộc”.
Chiều hôm đó sau khi chứng kiến cuộc hành quyết cha mẹ, các anh các chị, cô bị ném vào ngục. Cô chỉ vơ theo được vài cái quần áo. Cô luôn có một tâm hồn bình thản và lộ một niềm vui làm lan cả sang các bạn tù. Chiều nào cô cũng hát những bản thánh ca vui của mùa Phục Sinh. Trong lúc các bạn tù thất vọng khóc lóc hay thở than, cô êm ái nắm bàn tay chai cứng của họ và yên ủi. Lời nói của cô như có sức sưởi ấm lòng họ. Có những phụ nữ phải chứng kiến chồng họ bị lôi đi giết. Họ hoá điên. Lúc đó cô bé đến ngồi sát bên họ. Đôi mắt và nắm tay của cô trả lại cho họ sự yên tĩnh. Cô phân phát chút phần ăn nghèo nàn của mình cho các bạn và suốt đêm cô săn sóc một người đau bệnh hay chán nản. Cô bé mới 16 tuổi đầu đúng là bà mẹ cho chúng tôi, những người lớn đầu mà muốn tháo lui. Rồi ngày đó đến, một tốp hành hình gồm những tay đã nhuốm đẫm máu suốt 5 năm qua, lòng họ chai cứng như đá, tiến vào ngục. Khi bọn hành hình nhắm chọn nạn nhân, cô bé nằm trong số đó, cô đã quỳ lên bắt đầu cầu nguyện cho những người sắp bắn mình. Rất tiếc không có ai ghi lại được lời cầu nguyện này, chỉ có mấy người tốt số nghe được thôi. Điều gì đã xảy ra? Những người trong đội hành hình đã ném súng của họ xuống đất và kêu lên :
-             “Thôi ai bắn cô này thì bắn . Chúng tôi không thể bắn cô ta được”.
Chúng ta hiểu rằng lời cầu của cô đã xúc động lòng họ tới mức nào.
Mấy nữ quân nhân, những người không còn chút lòng xót thương đã đến thay chỗ cho mấy đàn ông. Chính họ đã bắn cô bé và các nạn nhân khác.
 
41.  CON ĐÃ RỬA TỘI CHO BỐ CON
 
Vị truyền giáo ở Nhật kể câu chuyện. Sau lễ một cô bé đến gặp tôi, bé lắm, phúng phính da trắng hơn những người Nhật một chút. Cô bé độ 12 tuổi. Giọng nói, cử chỉ và sự bạo dạn của bé nói lên một nền giáo dục rất tốt, nhưng tôi có ấn tượng sâu sắc nhất là cái nhìn của đôi mắt đen lấp lánh một tia sáng tuyệt vời.
Cô thưa :
- “Thưa cha, có phải cha là cha sở không ? Con muốn xin cha ghi tên ba con vào sổ Rửa Tội. Ba con đã được Rửa Tội trước khi chết”.
- “Tốt lắm, con đi theo cha”.
Tôi ghi sổ, cô bé trả lời rất rành rọt và còn giúp tôi tìm các từ cho chính xác.
- “Cha nào đã Rửa Tội cho ba con”.
- “Thưa cha, chính con Rửa Tội cho ba con”.
Tôi đặt bút xuống và nhìn em bé. Em cúi gằm mặt xuống như một đứa bé sợ bị la mắng. Khi em thấy tôi cứ im lặng, em e lệ ngẩng đầu lên và kể cho tôi nghe :
- “Thưa cha, ba con bị bệnh nặng lắm. Y sỹ đến nhiều lần, con nghe thấy ông ta nói với mẹ con :
- “Tôi cho rằng ông nhà chỉ còn sống hai hay ba tiếng đồng hồ nữa thôi. Con đau khổ quá, nhất là vì ba con chưa có đạo, chờ cho Y sỹ đi rồi con vào phòng và nói với ba con. Con nói thế này : “Ba ơi ba, Y sỹ cho rằng ba sắp chết. Ông ta nói với mẹ và con nghe được. Ba ơi, con muốn cám ơn ba hết lòng vì mùa hè rồi ba cho con theo đạo Chúa. Ba có biết không từ ngày đó tới nay con vui sướng chừng nào không? Con luôn cầu xin Chúa cất bệnh cho ba, nhưng hình như Chúa muốn đưa ba về với Ngài đấy. Nhưng để được về Trời với Chúa, ba phải chịu Phép Rửa Tội mới được”.
Ba con trả lời :
- “Con yêu, con hãy nói cho ba nghe về Đạo nữa đi”.
Con đã giải thích cho ba con. Những gì con học được trong lớp Giáo Lý, về Thiên Đàng là sống bên Chúa, Chúa Giêsu Kitô đã chịu nạn chịu chết để cho người ta được lên Thiên Đàng, miễn là người ta tin vào Ngài, thống hối tội lỗi và chịu Phép Rửa Tội. Con còn đang suy nghĩ xem còn gì để nói thì ba con nhìn chằm vào con, đôi mắt tràn nước. Ba đặt tay lên đầu con và nói :
- “Yrico, ba thấy con hạnh phúc như thế … Con rất tử tế đối với ba … Ba cảm nhận … con chỉ muốn sự lành cho ba … Ba muốn theo Đạo và chịu Phép Rửa Tội … nhưng … con hãy nói cho ba nghe nữa đi …”
Rồi ba con giúi mặt vào cái mền, nhắm mắt lại, kiệt sức. Con chạy ra lấy cuốn sách Giáo Lý đọc kỹ lại công thức Rửa Tội, con không muốn quên hay lẫn lộn gì cả. Trở lại phòng, con thấy ba con đang thiếp ngủ. Con đứng bên đầu giường đọc lời cầu với Đức Mẹ. Ba con bắt đầu khò khè và thở rất khó khăn, con gọi mẹ và Y sỹ. Ông ta coi mạch và nói:
-  “Thôi hết rồi”.
Con chạy đi lấy nước và nói với mẹ con :
- “Con xin phép Rửa Tội cho ba con đây”.
Con đổ nước, lúc đó ba con đã bất tỉnh. Mười phút sau ba con chết mà không biết mình đã được Rửa Tội. Thưa cha, như vậy có thành không.
Cô bé nhìn tôi hơi bối rối. Tôi hỏi lại cho chắc :
- “Thế ba con có ngỏ ý muốn chịu Phép Rửa Tội không ?”
- “Thưa cha, có ạ. Ba con đã nói rõ là muốn chịu Phép Rửa Tội mà”.
- “Con thân yêu, con đã mở cửa Thiên Đàng cho ba con vào. Con yên tâm, con đã đền đáp ba con một việc bác ái to lớn hơn tất cả”.
 
 
42.  ĐỨC TIN CHO HẠNH PHÚC
 
Ông bạn của triết gia nổi tiếng Sully-Prudhomme kể lại câu chuyện này : 4 năm trước Theuriet, Copée và tôi, chúng tôi đến thăm Sully-Prudhomme. Ông đang chịu những cơn đau đớn khủng khiếp. Anh em chúng tôi cố gắng đem những vấn đề mà ông ta rất say mê ra để nói, nhưng ông ta lại cứ nói đến cái chết và những gì sẽ xảy ra sau đó. Ông cho biết ông đã tìm thấy an bình trong Đức Tin vào Chúa vì nhờ đó ông đã có niềm hy vọng được hạnh phúc, ông hối tiếc vì đã có thời mất Đức Tin đi lạc lõng trên con đường nghi ngờ, không lúc nào tìm được sự vững tâm có thể thoả mãn được tâm hồn và lý trí. Ông hỏi chúng tôi có ai cùng đang mang vết thương lòng như thế không ? Lúc đó Coppée bình thản xác định :
- “Tôi, tôi có Đức Tin:
Sully nhìn Coppée, giơ những cánh tay run rẩy lên và nói :
-  “ Coppée, anh không biết anh hạnh phúc biết bao !”
 
43.             ĐẠO CÔNG GIÁO LÀ BẠN CỦA KHOA HỌC
 
Giáo sư Valentino Cerruti là một giáo sư môn toán nổi tiếng của Roma đã qua đời năm 1909. Đã có thời ông là Giám Đốc Đại Học Rome, sau này làm Viện Trưởng Trường Bách Khoa của thành phố, ông đã viết rất nhiều tác phẩm giá trị. Mới 36 tuổi ông đã làm Thứ Trưởng Bộ Giáo Dục. Giáo sư là một tín đồ có Đức Tin sâu xa và không bao giờ giấu giếm niềm tin của mình. Một hôm giáo sư tâm sự với Đức Cha Viagette :
- “Thưa Đức Cha, con luôn bênh vực đạo của mình, cả trong những lúc khó khăn nhất của đời chính trị, khoa học, bây giờ con cảm thấy mình sắp chết, con dọn mình để lãnh nhận các Bí Tích sau cùng như cha mẹ con đã dậy, và trong cuộc đời khoa học đạo càng ăn sâu vào đời con. Giữa những công việc và nghiên cứu, con đã luôn có thể tuyên xưng Đức Tin của mình.”
Trước khi chết ông còn nói :
- “Tôi không thể hiểu được sao có nhiều ông trí thức lại nói rằng mất Đức Tin trong khi nghiên cứu khoa học. Ngay tôi đây, tôi học hỏi nhiều lắm, nhưng tôi luôn ý thức rằng đạo Thánh của chúng ta là bạn rất chân thành của khoa học.”
 
44.  ĐÚNG LÀ ÔNG VUA ĐI QUA
 
Hồi còn trẻ, Đức Hồng Y Dechamps. Tổng Giám Mục Malines đã dự khán một cuộc khải hoàn chiến thắng của Vua Bỉ. Từ một khung cửa sổ, ngài theo dõi đoàn diễu hành rất lâu. Khi khu phố trở lại yên tĩnh, tâm hồn ngài cảm thấy tràn ngập an bình và có một tiếng nói bên trong
- “Đúng là một ông Vua đã đi qua”.
Tiếp liền theo là tiếng nói của ân sủng :
- “Tôi muốn làm dịch vụ đời đời, phục vụ ông Vua không bao giờ qua mất.”
Ngài đã bỏ cái địa vị đang hứa hẹn bao vinh quang để trở thành linh mục, tu sĩ và sau cùng làm Giáo Chủ nước Bỉ.
 
45.  BỨC ẢNH THÁNH TÂM CHÚA
 
Một tên bợm nhậu, đã gây bao chuyện rối trong cộng đoàn, có một bà vợ rất đảm đang. Trong kỳ đại phúc, chị ta giục chồng đi nghe giảng. Anh ta đáp lại bằng những lời bổ báng và tục tĩu. Cuối tuần, chị ta bảo chồng :
-                “Thì ít ra anh cũng nên đến nhà thờ mà xem bức ảnh Thánh Tâm Chúa mới sắm về, ai cũng trầm trồ khen đẹp.”
Anh chồng miễn cưỡng trả lời :
-             “Thôi được, tôi không nói không.”
Anh ta tới và cũng như mọi người đến ngắm bức ảnh. Anh ngắm nghía cái vết đòng ở sườn và cái vòng gai quấn quanh Trái Tim của ảnh. Bỗng anh suy nghĩ :
- “Chính tôi, chính tôi đã đâm những gai này vào Trái Tim Đấng Cứu Thế.”
Anh hết sức xúc động. Đôi mắt tràn lệ anh đứng một lúc lâu trước ảnh Chúa. Liền sau đó anh đến toà xưng tội và đã rước Mình Thánh Chúa. Trở về nhà, anh ôm vợ, ôm con, kể cho mọi người nghe niềm hạnh phúc anh đang hưởng và nói :
- “Từ trước đến giờ tôi đã gây cho em và các con biết bao khổ cực, từ nay tôi hứa sẽ chỉ đem lại cho cả nhà niềm vui và gương lành.”
Ông đã giữ lời và đã biến nhà ông, mà trước kia ông làm thành hoả ngục, trở thành Thiên Đàng.
 
46.     DI NGÔN CỦA MẸ THÀNH SỰ THỰC
 
Năm 1664, ở Marcatelle, trong lãnh địa của Toà Thánh, một bà mẹ sắp chết. Bà đã nhận các Bí Tích sau cùng với tất cả lòng đạo đức sâu xa. Cảm thấy giờ chết đã gần, bà cho gọi năm người con đến để nói lời vĩnh biệt và trối cho mỗi người những lời cuối cùng đầy niềm tin, lòng mến Chúa và quan tâm săn sóc các linh hồn. Năm con quỳ bên giường bà trao gửi mỗi người cho một vết tử thương của Đấng Cứu Thế để chúng náu nương trong cơn nguy khốn và tôn sùng. Đến cô con gái út, tên là Ursule, bà gửi vào vết đâm cạnh sườn Chúa.
Cô con này, năm 17 tuổi, đã nhận tu phục trong Tu Viện nữ Phanxicô ở Citta di Castello với danh tu là Veronica. Những lời trăn trối của bà mẹ đã được thực hiện. Cô đã trở thành nữ tu Veronica Juliani, được Chúa in Năm Dấu Thánh và là Tông Đồ Nhiệt Thành Thánh Tâm Chúa Giêsu.
 
47.  GIẢNG BẰNG HÀNH ĐỘNG
 
Đại tướng Ramerino, người Ý, bị kết án tử vì tội phản quốc, ông đã để thất trận tại Novare chống lại nước Ao năm 1849. Án được thi hành vào ngày 22/3 năm đó. Thánh Giuse Cassofa, lúc đó là linh mục giúp Đại tướng dọn mình chết. Trên đường đi đến pháp trường, ngài nói với ông :
“Thưa Đại Tướng, ngài có thấy đám đông kia không. Ngài không muốn giảng cho họ một bài à ?”
- “Tôi làm sao mà giảng được bây giờ ?”
- “Thưa Đại tướng, ngài hãy nhận lấy Tượng Chịu Nạn và giơ cao cho đám đông thấy, thế đủ là một bài giảng tuyệt vời rồi đấy.”
Đại Tướng đã nghe lời cha và thực hiện cử chỉ với tất cả tấm lòng thành kính, đám đông thực sự đã nhận được bài học quý giá từ cử chỉ cảm động này.
 
48. CHÚA THÁNH THẦN
 
Bác sỹ Bull, y sỹ người Anh, đã học từ một thân chủ người Tin Lành, kinh cầu Chúa Thánh Thần, kinh này phổ biến trong đạo Công Giáo :Veni Sancte Spiritus ! (Lạy Chúa Thánh Thần, xin ngự đến)
Bác sỹ thấy lời kinh này hay và gây ấn tượng nên ngày nào ông cũng đọc. Và mỗi lần đọc ông cảm thấy tươi mát cho tâm hồn, mỗi ngày ông đọc nhiều lần.
Lời kinh, vừa vắn lại vừa súc tích, là khởi điểm cho ông trở lại đạo Công Giáo.
 
49.             CHÚA THÁNH THẦN LÀ ÁNH SÁNG
 
Một Sỹ quan cao cấp của quân đôi nước Áo , trong đại chiến vùa qua đã mắc một cơn bệnh đưa tới chỗ mù loà.  Ông là tín đồ Chính Thống Hy Lạp ly khai, cô em dâu là người Công Giáo khuyên ông tôn kính ảnh Thánh Giáo Hoàng Piô X và năng  cầu nguyện với Chúa Thánh Thần :
- “Lạy Chúa Thánh Thần, Bởi Ngôi Cha và Ngôi Con mà xuất sinh, xin thương xót tôi.”
Bệnh nhân vui vẻ nghe lời khuyên. Một buổi sáng, ông rất phấn khởi kêu lên :
- “Tôi muốn theo đạo Công Giáo, đạo Công Giáo La Mã.”
Nói là làm liền. Một thầy dòng dạy Giáo Lý cho ông. Chúa Thánh Thần trong khi trả ánh sáng lại cho đôi mắt thịt cùng ban ánh sáng cho tâm hồn ông.
Ngày 29/2/1920, ông đã thề bỏ bè ly khai. Cô em dâu của ông, một tông đồ nhiệt thành của Chúa Thánh Thần vô cùng vui sướng thấy ông anh chồng trở thành tín hữu Công Giáo thành tâm.
 
50.  CÓ HOA TIÊU TRÊN TẦU, SỢ GÌ ?
 
Cha dòng tên kể lại câu trả lời cảm động của một thuỷ thủ sắp chết. Thực là một điều hiếm hoi, là thuỷ thủ này vốn rất sùng đạo và sáng hôm nay anh đã chịu Của Ăn Đàng. Buổi chiều, cha trở lại thăm và thấy anh yếu lắm rồi :
- “Sao, con đã sẵn sàng cho cuộc hải hành quyết định này chưa ?”
- “Thưa cha, hoàn toàn ạ.”
- “Con không sợ à ?”
- “Ồ, con, con sợ, sợ gì  cơ chứ .”
Đặt tay lên ngực anh nói thêm :
- “Vị hoa tiêu đang ở trên tầu đây, con còn gì phải sợ cơ chứ!”
 
51.  CHÚA LÀ CHA NHÂN TỪ
 
Hôm ấy bà vợ goá của một thợ máy đến gặp cha xứ và trình :
- “Thưa cha, thế này liệu chồng con có bị trầm luân không ? Anh ta không có Đức Tin. Hễ thấy tượng Chuộc Tội nào ở trong nhà là anh ta bẻ gẫy và chà đạp. Ngày Chúa Nhật mà con đi lễ thì chết với anh ấy. Con chỉ đi vào ngày thường trong lúc anh ấy đi làm. Mồm anh ta lúc nào cũng bổ báng và tục tĩu. Cả trong kỳ bệnh cuối cùng này anh vẫn bổ báng đạo. Con và mẹ con, chúng con không dám bước vào phòng anh ta. Hôm ấy, xem ra anh trở bệnh nặng, chúng con chỉ nghe tiếng rên rỉ trong phòng. Chúng con vén màn khung cửa kính thấy anh ta ngồi cúi gằm mặt thở rất vất vả. Con đi vào và hỏi anh có cần gì không. Anh ta trả lời :
- “Đem cho anh cây tượng Chuộc Tội của em.”
Con nghĩ rằng anh ta lại bẻ gẫy và con nói với mẹ con :
- “Con không muốn tạo dịp cho anh ta xúc phạm trước khi chết.”
Mẹ con bảo con :
- “Dù sao, con cũng đem tượng lại cho chồng con. Nếu nó bẻ gẫy mẹ sẽ đền cho con tượng khác.”
Con đem tượng lại cho anh và con chạy ra ngay. Đứng ngoài cửa chúng con dòm xem anh ta sẽ làm gì. Đột nhiên chúng con thấy anh ta hôn chân Chúa và khóc nức nở. Con thấy vững dạ chạy vào phòng và hỏi anh có muốn gặp một cha không ?”.
Anh ấy trả lời :
-             “Anh không đáng cho một cha và hơn nữa Chúa đến với anh. Lạy Chúa xin thương xót con!”
Anh ấy còn hôn tượng Chúa một lần nữa rồi trút hơi thở cuối cùng.
Vị linh mục trả lời :
- “Này bà, bà hãy yên tâm cầu nguyện cho chồng bà. Chồng bà đã được cứu rỗi, cũng như người trộm lành.Vì Chúa đã ban cho anh ơn thống hối vào giờ phút cuối cùng.”
 
52.                                       “MOMENTUM A QUO PENDET   TERNITAS”
(Phúc Dẫn Tới Vĩnh Hằng)
 
Một tu sĩ giáo viên trong một học viện luôn nhắc nhớ các em học sinh của mình câu châm ngôn này : Momentum a quo penden ỉternias” (Thời điểm có liên hệ tới sự vĩnh hằng). Một sinh viên của Ngài đã buông thả theo con đường tội lỗi và sau cùng đã định tự vẫn. Chính lúc đó câu châm ngôn hiện lên trong đầu anh. Hoảng sợ, anh ném vũ khí đi. Đúng lúc đó có ai gõ cửa và cha giáo cũ bước vào. Anh ôm choàng lấy cổ thầy cũ khóc và thổn thức kể lại những gì đã xảy ra cho mình và chính nhờ câu châm ngôn trước thường nghe mà thoát được kết thúc thảm khốc cho đời mình.
 
53.                  “KHÔNG CÓ KẾT THÚC”
 
Một đoàn thể tổ chức một cuộc họp giải trí. Những tờ quảng cáo báo cáo : “ Sẽ khai mạc lúc tám giờ và kéo dài không kết thúc”. Đến  đúng ngày khai mạc người ta dán lên những tờ quảng cáo một tờ bướm : cuộc giải trí được bãi bỏ vì bà vợ của ông trưởng giàn nhạc chết. Thế là có kết mà không có khởi. Thần chết đã cắt ngang cái chương trình vô phép. Chỉ có sự đời đời mới không có kết thúc.
 
54.                  SAO GHÉT CHÚA THẾ
 
Vài phút trước 10 giờ ngày thứ năm, năm 1930, trong công xưởng Krupp, ở Essen một công nhân gay gắt nguyền rủa Chúa, Giáo Hội, và các linh mục, cuối cùng anh ta còn nói lên một ước muốn độc ác là tất cả các linh mục bị một đường dây điện cao thế thiêu chết hết đi.
Đúng ba phút trước 10 giờ, tám ngày sau, các công nhân trong xưởng đã nghe một tiếng thét xé tai, họ chạy xô tới và thấy anh bạn độc ác đang bị treo cứng vào giây máy phát điện. Tìm hết cách cứu gỡ, nhưng khi đưa được anh ta xuống, anh ta chỉ còn là cái xác không hồn.
 
55.                  PHẢI TRUYỀN GIÁO
 
Vị truyền giáo giảng tĩnh tâm trong nhà thờ của các tu sĩ Lazaiste ở Buenos-Ayres bên Ac-hen-ti-na. Mấy bữa sau, ngài chứng kiến một cảnh sau đây. Có hai đứa bé, một đứa độ 4, 5 tuổi, một đứa độ 10 tuổi, chạy tuột vào nhà thờ. Thằng bé lôi thằng lớn. Hai đứa lên trước nhà tạm. Lúc đó, thằng bé chỉ ngón tay vào cái cửa nhỏ tô vàng và giảng cho thằng lớn, rồi cả hai đứa quỳ xuống.
Tò mò, vị truyền giáo lại gần và hỏi chú bé :
-             “Con ơi, con vừa nói gì với bạn con đấy ?”
Chú bé thưa lại :
-             “Thưa cha con đi nghe giảng đại phúc, thằng này nó không đi. Cha thấy đấy nó to đầu thế mà chẳng biết gì hết, nó cũng không biết Chúa nhân lành ở chỗ nào. Con lôi nó đến đây và nói cho nó biết Chúa trở nên bé nhỏ tí xíu và ở đây trong cái nhà bé xíu này đây. Trong bài giảng của cha, cha nói rằng phải làm tông đồ. Con làm nhà truyền giáo và con chỉ cho nó thấy Chúa ở đâu.”
 
 
56.                   GIẢNG VIÊN CÔNG TRƯỜNG
 
Từ những năm gần đây ở Luân Đôn có những trường chuyên đào tạo các Tông Đồ Giáo Dân. Họ được học để minh chứng và biện hộ đức tin Công Giáo. Mãn trường, họ được Đức Tổng Giám Mục cấp chứng chỉ cho đi rao giảng Tin Mừng và dạy Giáo Lý. Họ đi rảo các phố Luân Đôn, công trường và góc phố, bắt đầu với những lời :
-             “Nhân Danh Cha và Con và Thánh Thần. Amen. Tôi nói ở đây nhân danh Đức Tổng Giám Mục Westminster và tôi tuyên giảng Đức Giêsu Kitô.”
Cứ thế, mỗi chiều Chúa Nhật, từ 3 tới 6 giờ, trên các công lộ của thủ đô rộng lớn này Đức Tin được rao giảng không phân biệt người nghe thuộc tín ngưỡng nào.
Tại Hà Lan, có một tập thể tổ chức để đưa anh em Tin Lành về Đạo. Mỗi tổ chức chia năm nhóm. Nhóm một gồm các linh mục rao giảng công khai ở Amsterdam. Nhóm hai gồm các giáo dân đã qua kỳ sát hạch về diễn thuyết. Nhóm ba gồm những người đạo đức, họ lớn tiếng cầu nguyện trong đường phố :“Ngợi khen Đức Giêsu Kitô !”. Nhóm bốn bán các sách báo tốt, đạo đức. Nhóm năm là các chị Tu Hội Mát-ta và Maria, nhóm này thì chầu Chúa suốt ngày, nhóm kia thì đeo trên ngực một tượng Chúa Chịu Nạn lớn chuyên đi chiêu dụ anh em Tin Lành Hà Lan.
Anh và Hà Lan Công Giáo đứng trước sự công khai truyền bá tính vô đạo và vô luân trên các phố phường đã ý thức Tin Mừng cũng phải được công bố trên các đường phố.
 
 
57.                   AI CAN ĐẢM HƠN
 
Chính phủ Hà Lan tổ chức một bữa tiệc lớn mời các đại biểu đã tới dự cuộc hội thảo quốc tế về kỹ nghệ.
Các  vị Bộ Trưởng, các Đại Sứ, các ông Thị Trưởng của ba thành phồ lớn trong nước, các phái đoàn ngoại giao dự vào bàn ăn.. Đột nhiên, vị chủ toạ bữa tiệc, bộ trưởng Koolen, gõ một tiếng chuông.
Tất cả các khách nhìn và tự hỏi không biết đó là sao. Lúc đó ông Bộ Trưởng lớn tiếng, giõng giạc xin mọi người im lặng một chút để cầu nguyện. Ông  Koolen làm gương giơ tay vì dấu Thánh Giá. Rất nhiều quý khách theo ông và chắp tay lại. Có thể cũng có người không theo, mỉm cười mỉa mai và ném cái nhìn thương hại trên vị Bộ Trưởng lạc hậu này. Nhưng ai can đảm hơn người xác quyết công khai niềm tin của mình hay người cười nhạo tính khí mạnh mẽ và lòng trung thành với niềm tin ?
 
 
58.                   CÓ ĐẠO MÀ THẾ À ?
 
Câu chuyện nhỏ này xảy ra ở Stutgart trong một dịp kiệu Mình Thánh vào ngày lễ Kính Mình Máu Thánh Chúa.
Rất đông người tụ lại trước các trạm để xem cuộc rước. Đám rước vừa tới thì một ông chạy vọt ra từ đám đông đến đứng ngay trước mặt chị phụ nữ, che chắn hết cả. Chị này đẩy ông một cái và yêu cầu ông tránh ra bên. Ông này cự lại :
- “Tôi có đạo đây, tôi có quyền đứng trước để xem cho rõ đám rước của đạo chúng tôi chứ.”
Chị phụ nữ không  vừa, chị cho ông một bài học:
- “Sao, ông có đạo hả ? Vậy thì chỗ của ông không phải ở đây. Chúng tôi là người Tin Lành, chúng tôi đứng đây xem được, còn ông có đạo, ông phải đi vào hàng đám rước kia mới đúng. Chính trong hàng rước đó ông mới chứng thực ông có đạo.”
Chị ta đang nói thì ông kia đã lủi mất.
 
 
59.                   THÂN PHẬN KHỐN KHỔ
 
Bé Suk mới 15 tuổi, thuộc bộ tộc Nikuyu ở Kenya, bé đã đến tuổi phải lấy chồng. Cô mơ ước một tấm chồng trẻ trung và đẹp trai. Không, một ông già 70 tuổi, lưng còng, tóc bạc trắng đã đến cưới cô. Suk tuôn hai hàng nước mắt đắng cay, nhưng cô bất lực, cô phải tuân lệnh. Vì chỉ có ông già này mới có nhiều tiền để trả giá cao nhất theo đòi hỏi của cha mẹ cô.
Suk ghét chồng vì ông ta quá già. Cuộc sống đè nặng đôi vai cô không còn gì làm cô quan tâm nữa. Ông già nhận ra ngay rằng trái tim của Suk không thuộc về ông. Ông giận điên lên. Những làn roi mưa xuống trên thân cô, ngày nào cũng phải nghe chửi mắng. Trong nhiều tuần lễ Suk chịu đập đánh, hành khổ mà không hé răng. Nhưng rồi một hôm cơn giận ghét bùng dậy, cô lấy cái rìu bổ xuống đầu ông chồng. Toà án kết cô án tử hình. Nghe tuyên án cô không chút nhíu mày. Đối với cô chết còn hơn sống.
Tất cả các thiếu nữ trong xứ sở của cô đều được bán cho ai trả giá cao. Chúng có khóc hết nước mắt, có sống cực khổ không niềm vui, mặc kệ ! Cha mẹ chúng không một chút xót thương. Khốn khổ những phụ nữ đã bị kết án !
Bhingoobai, bé gái Hindoue mới 7 tuổi đang chơi đùa với các bạn. Khi sinh ra, cha nó đã không đầu độc nó cho chết vì nó là con gái, thuộc hạ tộc, bọn dơ bẩn, đáng xoá sổ, nhưng ông đã khạc nhổ vào mặt bà vợ đang nằm bất tỉnh trong lều, vì bà đã sinh con gái. Bhingoobai sống với mẹ và anh chị trong một căn chòi chung với những con bò cái và cừu. Cha nó đã không bán nó cho đền thờ hay cho những tỉnh thiếu đàn bà, ông đã giữ nó lại nhà nhưng bé không bao giờ được hưởng một chút tình thương của người cha. Một hôm ông đến chỗ lũ trẻ đang chơi lôi con ông ra và nói : Bhingoobai, ngày mai con sẽ đi lấy chồng. “Vinh danh Siva !” Hôm sau cả xóm mừng đám cưới.
Cuộc sống chung kéo dài bao lâu ? Đúng một năm. Bà vợ 7 tuổi và mấy tháng đã trốn nhà ba lần. Cả ba lần cha mẹ từ chối không đón nhận con, vì nó đã đi lấy chồng. Lần thứ bốn Bhingoobai không về nhà và cũng không trở lại nhà chồng, nó đã lao đầu xuống kênh lớn gần nhà ga. Người vợ 8 tuổi đã chết, những phụ nữ nói :
-             “Ngợi khen các vị thần” Từ nay nó không còn phải chịu những cay đắng của cuộc đời, sự đói khát, roi vọt, làm việc cực nhọc dưới sức nóng thiêu đốt của mặt trời, sự khinh rẻ và lời rủa xả suốt cả đời. Nó sẽ không thể thoát được vì đạo đã dạy nó : Vì mày là đàn bà mày sẽ không được ơn cứu độ đời đời. Chỉ đàn ông mới được cứu độ sau khi chết.
 
 
60.                   CHÚ KINH TÀI TÍ  HON
 
Lui mới 14 tuổi. Em rất chăm học và tốt với bè bạn. Nhưng rồi dần dần tôi khám phá thấy em có một nết xấu làm tôi khổ tâm lắm. Trước còn kín đáo, sau thành công khai, em tìm đủ mọi cách để có tiền. Giúp đỡ bạn em rất tích cực nhưng rồi đòi trả công. Thì, học sinh có quyền kiếm chác cái kẹo hay đồ chơi vặt vãnh của bạn. Khi một bạn cần tiền, Lui cho mượn ngay, thời gian sau em đòi trả với lãi nặng. Em trở thành đối tượng cho các em chế nhạo, chúng gọi em là tên “Do Thái”. Nhưng hễ cần là chúng đến mượn em. Tôi rất lo lắng theo dõi hạnh kiểm của em. Lui xem ra chẳng chút bận tâm về cái tính hà tiện ngộ nghĩnh đó. Một hôm, tôi thử nói xa nói gần về thói xấu đó, em xoay sang chuyện khác ngay. Tôi lo lắng : không biết thằng bé này kiếm tiền để làm gì ?
Năm học đã gần hết. Chiều đó, tôi gọi em đến và cho em biết nỗi phiền muộn của tôi về hạnh kiểm của em. Mặt em đỏ gay tới chân tóc, em nhìn tôi và thưa :
- “Thưa cha, xin cha tha thứ cho con, nhưng con không biết làm sao khác được. Con đang xoay sở hết sức để kiếm tiền chuộc các em bé ngoại giáo. Đến nay con đã kiếm đủ số tiền để chuộc được ba đứa rồi.”
Mắt ngấn lệ, tôi thở dài nhẹ nhõm, chiều đó tôi đã sốt sắng đọc kinh Te Deum.
Chú bé Lui của chúng ta bây giờ đã trở thành một linh mục truyền giáo rồi.

61.                   XANH VỎ MÀ ĐỎ LÒNG
 
Vào năm 1946 cả nước Đức rơi vào nạn đói. Mùa xuân năm đó, tôi có cuộc hành trình trong vùng Hắc Lâm (Forêt Noire) tôi đi qua một trang trại nhỏ, nghe tiếng mấy con gà mái kêu vui vẻ. Tôi thèm một cái trứng tươi quá chừng. Tôi đánh bạo ghé vào trại. Một bà già hiền lành ngồi bên cửa sổ bếp, bà đang khâu vá và một thiếu phụ trẻ đang ủi quần áo. Tôi ngỏ ý của mình, họ từ chối thẳng thừng rằng trong nhà chẳng còn một trái nào. Theo lời bà già vì “gà đang thay lông”, còn bà con dâu thì dài dòng giải thích là lũ gà đang mắc chứng bệnh gì đó. Thất vọng, tôi nói :
- “Thôi được, các bà khỏi nói nữa.”
Và tôi đứng lên để ra đi, nhưng cả hai giữ tôi lại, họ nói rằng không thể để tôi ra đi như vậy được, dù không có trứng. Họ nài tôi chờ một chút và kiên nhẫn, họ muốn cho tôi một ly rượu mới cất và khúc bánh mì. Cả hai bà đi lấy đồ ăn.
Trong lúc họ đi cả, tôi thích thú nhìn cái đồng hồ cổ của vùng Hắc Lâm thủng thỉnh gõ tích tắc trong một góc nhà. Cửa vụt mở khẽ, bà già chạy vội vào, trao cho tôi một quả trứng và rỉ tai :
- “Lẹ lên, lẹ lên, giấu ngay nó đi, đừng để cho con dâu tôi nó biết. Bọn trẻ ngày nay không có quảng đại lắm đâu.”
Bà vụt biến không đợi tôi trả tiền. Vừa giấu quả trứng vào bao thì bà con dâu xuất hiện cầm trong tay quả trứng. Bà  xin tôi giấu lẹ lên, đừng để cho bà già hay, vì “bà keo kẹt lắm, và lúc nào cũng cứ lo đói.”
Vô cùng xúc động, tôi vội giấu quả trứng thứ hai. Hai bà cùng vào với rượu và bánh. Đúng là một bữa thịnh soạn.
Vỏ thì xanh mà ruột thì chín đỏ. Trên đời thường là thế.
 
62.                   KINH KÍNH MỪNG
 
Một sĩ quan Pháp kể câu chuyện này : “Bị thương vào đùi, tôi nằm chờ đôi cấp cứu tới. Bên cạnh tôi , một quân nhân trong đơn vị của tôi nằm sắp chết, vì một vết thương nặng trên đầu. Anh móc trong túi ra một tượng Chịu Nạn nhỏ và đọc bằng tiếng La-tinh lời kinh Ave Maria. Đột xuất từ xa đó một chút có tiếng đáp lại : Sancta Maria Mater Dei. Người thương binh quay nhìn và thấy một thương binh Đức mở to đôi mắt xanh nhìn anh. Người thương binh của tôi ngừng một phút rồi trao tượng Chúa cho người kia. Người thương binh Đức ghì tượng vào ngực rất tha thiết rồi trao trả lại. Hai người nắm tay nhau. Người này nói :
- “Chúng ta có thể chết bình an được rồi. Chúng ta đã hoàn thành nhiệm vụ.”
Người kia trả lời :
- “Chúng ta cùng đi về quê, nơi không còn hận thù.”
Lát sau, cả hai trút hơi thở cuối cùng, cùng nhau đi về quê an bình.
 
63.                   TIN NHỜ MẸ
 
Vào mùa đông năm 1862, một Giáo Sư Đại Học người Đức theo Tin Lành, Tiến Sĩ Gustave Bickel, nhà Đông Phương Học nổi tiếng, đến Luân Đôn để sao chép những áng thơ chưa phổ biến của Thánh Ephrem, sống vào thế kỷ IV. Những áng thơ này ca tụng ơn Vô Nhiễm Nguyên Tội của Đức Mẹ. Đọc qua những dòng thơ này, nhà thông thái suy nghĩ : Đạo Tin Lành bác bỏ việc sùng kính Đức Mẹ như vậy không thể là chính đạo được. Ông học hỏi vấn đề và năm 1865 ông gia nhập Công Giáo : Hai năm sau ông thụ phong linh mục và dâng lễ đầu bên mộ Thánh Boniface ở Fulda.
 
64.                  TRÁCH NHIỆM LINH MỤC
 
Trong trận chiến Pháp – Đức vào những năm 1939-1945, hạm đội Pháp ngày đêm tuần hành trên biể. Vào một sáng, đài báo cho biết một chiếc tầu ngầm của Đức đang tiến lại.
Lệnh được ban ra. Những chiếc phóng ngư lôi xối xả phóng thuỷ lôi về phía tầu địch. Một lát sau, người ta thấy những mảng dầu đen nổi trên mặt biển. Những lính thuỷ Pháp được lệnh xuống những ca nô nhỏ để đón cứu những lính địch bị nạn. Mấy chiếc đầu nhô lên giữa những mây dầu. Tất cả được vớt lên và cho lên tầu cấp cứu. Cha tuyên uý của tầu có mặt ngay bên các nạn nhân để ban các Bí Tích cuối cùng. Trong số nạn nhân, có một người bị thương rất nặng. Toàn thân bị cháy, mặt bị cháy đen, hai mắt mù, chỉ còn lại cái miệng là còn hoạt động. Cha tuyên uý đến gần ghé sát nạn nhân. Ngài nghe những tiếng Giêsu – Maria – Giuse thoát ra từ miệng người sắp chết. Ngài nói đôi lời an ủi, khuyên bảo và giải tội rồi ban các Bí Tích cuối cùng. Bản văn bằng La-tinh, ngài đọc đến đâu, nạn nhân thưa lại bằng tiếng La-tinh. Ngài ngạc nhiên hơn :
-             “Xin lỗi, chắc anh đã học ở chủng viện.”
-             “Hơn thế nữa.”
   Cha tuyên uý Pháp xúc động, ngực ngài nghẹn lại :
-             “Xin lỗi, anh là linh mục ?”
-             “Phải, tôi là cha tuyên uý của chiếc tầu ngầm.”
Cha Pháp thổn thức, đây là đồng nghiệp ! Ngài ôm lấy nạn nhân, ghé sát mặt, hôn lên cái mặt đen nhèm đó.
-             “Xin lỗi, anh cho tôi biết đôi chút về anh được không ?”
Nghe nạn nhân thều thào kể xong, cha khóc nức lên :
-             “Anh có nhớ Michel Pháp không ? Tôi đây mà !”
Trên đôi mắt cháy đen của nạn nhân, hai giọt nước mắt rỏ xuống. Cha tuyên uý Pháp ôm ghì nạn nhân vào ngực mình. Họ là đôi bạn, tuy khác dân tộc, nhưng cùng học tại trường Truyền Giáo bên Rôma. Họ kết thân với nhau. Trở về quê hương, mỗi người thi hành nhiệm vụ công dân của mình. Và hôm nay họ gặp nhau trong tình trạng thế này.
Cha tuyên uý Đức đã trút hơi thở cuối cùng về với Chúa trong vòng tay của người bạn thân khác chiến tuyến.
 
65.                  CHÚA LÀ TẤT CẢ
 
Vào năm 1941, trước trận Trân Châu Cảng ít lâu, Đức Cha Sheil, Giám Mục địa phận Chicago, đột xuất tới dự một cuộc hội thảo của phong trào chống người da đen và người Do Thái. Ngài xin phát biểu, và trong 15 phút ngài vạch ra những nguy hại của phong trào chống Do Thái, chủ nghĩa độc tôn dân tộc, nói chung là thái độ thiếu khoan dung. Thính giả nghe ngài đầy phẫn nộ, nhung không nói gì.
Đôt nhiên một bà đứng tuổi đứng lên, chặn lối ngài, bà nói :
- “Tôi là người Công Giáo, ngài, ngài không phải là Giám Mục Công Giáo, ngài là đồng bọn với tụi da đen và tụi Do Thái. Quỷ tha ma bắt ngài đi ! Ngài mà là Giám Mục hả ? Ngài là một kinh sư Do Thái !”. Và bà ta nhổ vào mặt ngài.
Đám đông giải tán, la hét, xô đẩy bàn ghế, nhưng bỗng một bầu khí im lặng chết chóc bao trùm khi họ nhìn xem vị Giám Mục. Ngài bình thản đưa má kia cho người đàn bà lăng nhục ngài. Ngài chờ đợi vô ích, bà này run lên, không dám nhìn thẳng vào ngài. Đám đông im lặng và bất động. Họ nghe Đức Giám Mục nói :
- “Kinh sư hả ? Ngày xưa người ta cũng gọi Chúa chúng ta như vậy.”
 
66.                   CHẾT BÊN THÁNH GIUSE
 
Câu chuyện này do cha O’Haine, nhà truyền giáo ở Bắc Phi kể :
Hôm đó tôi đến một trại đấu bò. Người chủ trại, theo đạo Tin Lành Calvin, tiếp đón tôi rất ân cần và cho tôi hay trong trang trại có một công nhân theo đạo Công Giáo đang hấp hối. Cha đi gặp bệnh nhân, vừa thấy ngài, bệnh nhân kêu lên với tất cả lòng biết ơn :
-             “Lạy Thánh Cả Giuse, con biết chắc chắn rằng thế nào cũng đưa một linh mục tới giúp con trong giờ phút cuối cùng.” Rồi anh ta cho cha biết rằng mẹ anh ta đã dạy hằng ngày kêu xin :
-             “Lạy Thánh Cả Giuse, xin giúp con chết lành !”
Không ngày nào con bỏ lời cầu này. Suốt 30 năm con sống trong trang trại này, cha ở gần nhất cũng cách đây 45 cây số. Lúc mới bệnh con lên đường đi tìm một cha để lo xưng tội và rước Chúa. Khi tới nơi, con nghe cha đi làm phúc và ít là một tháng nữa cha mới trở về. Con đợi một tuần, rồi con trở về trang trại. Hôm qua con lâm cơn hấp hối và cha thấy đấy, Thánh Cả Giuse hôm nay đã dẫn cha đến cho con.”
   Nhận các Bí Tích với lòng hết sức sốt sắng anh ta ra đi và lời cuối cùng của anh là : “Lạy Thánh Cả Giuse, xin giúp con chết lành.”
 
67.                  THIÊN THẦN BỔN MẠNG
 
Sau một ngày ngồi toà giải tội mệt nhọc, cha Kamp, vị truyên giáo ở Phi –Luật –Tân, vừa hít vài hơi thuốc thì có tiếng gọi :
- “Xin cha đến Tannipuax, có một người hấp hối đang mong chịu Của ăn Đàng.”
Cha chẳng thấy ai, nhưng ngài nghe rõ tiếng gọi. Rồi, ngài lên đường có người giúp việc đi theo. Họ vượt qua cái đồi và bên kia là một xóm nhỏ. Tất cả xóm Tanipuax hình như đang chìm đắm trong giấc ngủ. Ông ấp trưởng không hay biết có ai đang hấp hối. Cha đành trở về.
Ngài giật mình khi lần nữa lại có tiềng gọi. Phải đi Tanipuax, cũng vẫn cái tiếng đó. Ông ấp trưởng càu nhàu vì lại bị phá giấc ngủ. Cha đi gõ từng cửa trong xóm, vô ích.
Bực mình vì cái kiểu đùa giỡn này, cha trở về và vừa đặt lưng xuống giường, thì lại có tiếng gọi. Cha lên đường trong đêm khuya, qua thửa ruộng và bãi cỏ dưới ánh trăng. Vừa lúc qua cuối xóm, ngài nghe có tiếng rên. Ngài đi về hướng đó, người giúp việc sợ quá bám sát lấy cha. Họ gặp một cái chòi xiêu vẹo và thấy một ông già đang hấp hối.
-“Lậy cha con biết rằng thế nào cha cũng đến mà. . Suốt 50 năm nay, ngày nào con cũng xin Thiên Thần Bản Bổn Mạng giúp con trong giờ lâm tử”. Ông già cố nói. Ngay đêm đó ông chết sau khi đã lãnh đủ các Bí Tích.
 
68.                   NIỀM TIN TRƯỚC CÁI CHẾT
 
Cơn dịch hoành hành trong vùng thổ dân Bắc Cực. Vị truyền giáo kể :
-             “Cơn dịch hơi lắng xuống, tôi thắng cái xe trượt tuyết và trẩy lên vùng băng tuyết Cưc Bắc của xứ đạo, cách 100 cây số, để thăm những giáo dân khốn khổ của tôi.
-             Thật kinh hoàng ! Nhà nào cũng có bệnh nhân, thần chết đã thu hoạch một mùa phong phú. Tôi thấy mười một xác chết cứng lạnh nằm trên tấm chiếu. Trời 40 độ âm. Tiến lại gần, tôi sững sờ thấy mỗi xác ôm trong tay một gói nhỏ, một miếng vỏ cây, dùng làm giấy của người Bắc Cực. Một ý nghĩ u buồn, tôi la lên :
-             “Mê tín bẩn thỉu !”
Tôi cúi nhặt một vài tờ giấy. Trên mỗi tờ giấy có những hàng chữ :
-             “Chỉ một mình cha mới được đọc những hàng chữ này.” Tờ thú tội của họ.
Khi những con người khốn khổ này thấy mình sắp chết và không gặp được các cha để xưng tội, họ viết tội lên miếng giấy vỏ cây. Không biết họ tự viết hay nhờ người khác viết cho ? Tôi không biết…
Cuối tờ xưng tội nào cũng kết như nhau : “Thưa cha, con xin cha dâng một lễ cho linh hồn con, thay vì bổng lễ con xin dâng cha bộ da con Luyết Thử … bộ da con Hải Cẩu … cái búa của con … “ v… v…
Niềm tin của những người thổ dân này khiến tôi xúc động, nước mắt tràn mi. Tôi đã dạy cho họ, khi không thể xưng tội, lòng thành tâm thống hối cách trọn cũng xoá bỏ được tội lỗi. Đây là dấu chứng hùng hồn và chân tình họ để lại nói lên niềm tin vào Chúa trước khi họ chết.

Những thổ dân Bắc Cực sống và chết như thế đấy, khiến chúng ta phải hổ thẹn.






 

Buôn lậu

Cô gái chạy xe đạp qua biên giới với 2 bao cát trên lưng, chạy đến chỗ mấy anh biên phòng giữ lại kiểm tra,
cô nói chỉ là cát, 2 anh đồn biên phòng không tin bắt bỏ bao xuống kiểm tra. Sau 1 hồi kiểm tra kỹ thì chỉ là
bao cát không và cứ thế 2 năm liền cô chạy xe đạp qua biên giới với 2 bao cát trên lưng. Sau này 1 trong 2
anh biên phòng đã nghỉ việc, gặp cô và hỏi :" Tao được đào tạo chuyên nghiệp mà vẫn không biết mày buôn
lậu cái quái gì nữa? Cô gái trả lời: em buôn lậu xe đạp!

*************

 

Lệch Phà

Thằng con rể nguời Nam Ky` và ông già vợ người Quảng Nam.
Ông già vợ hỏi: "Bữa ni con có rẻn chở ba đi một chút."
Thằng kia trả lời: "Con kẹt".
Ông già vác gậy rượt, "Teo nhờ mi chở, không chở thì thôi sao lại chửi thề"

*************

 

Công Dụng Máy Vi Tính

Khách hàng hỏi về công dụng máy tính : Khi tôi mua máy tính tôi sẽ được những gì?
Người bán hàng trả lời : máy tính sẽ giúp cho công việc của anh giảm còn một nữa.
Người khách liền nói : Bán cho tôi 2 cái.

******************
Bí mật trong tủ quần áo

 


Cậu bé Johnny hớn hở đón mẹ vừa đi vắng một tuần trở về.
"Mẹ biết không? Hôm qua khi con đang chơi trong tủ quần áo ở phòng ngủ của bố mẹ, con thấy bố đi vào phòng
cùng với người phụ nữ ở nhà bên. Họ cởi quần áo, leo lên giường, bố trèo lên người bà ta..."
Người mẹ vội vàng giơ tay lên ngăn cậu bé lại và nói:
"Không cần kể thêm từ nào nữa. Hãy chờ đến khi bố về nhà và mẹ muốn con kể chính xác những gì con vừa nói với mẹ".
Ông bố về nhà, bà vợ liền tuyên bố sẽ bỏ ông ta.
"Nhưng tại sao?", ông chồng ngạc nhiên hỏi.
"Kể đi Johnny.. Hãy cho bố biết những gì con đã nói với mẹ".
"Được rồi", Johnny nói:
"Con đang chơi trong tủ quần áo thì bố lên gác cùng người phụ nữ ở nhà bên. Hai người cởi quần áo, leo lên giường, bố
trèo lên người bà ta và họ làm đúng những gì mẹ làm, với chú Bob, khi bố đi vắng hè vừa rồi".

***************

Một chàng thanh niên rất trẻ rất đẹp trai cưới một bà rất giầu và rất... già.
Sau tiệc cưới, chú rể trẻ và bà dâu già đi hưởng tuần trăng mật.
Đêm đầu tiên, cô dâu và chú rể động phòng.
Ai cũng chợt lo cho bà già, e rằng chàng rể đang tuổi sung mãn sẽ khiến cụ bà không chết thì cũng... lết!
Sáng hôm sau, mọi người nhận được hung tin: Chú rể trẻ lăn đùng ra chết lúc trời vừa hừng sáng.
Mọi người ai cũng quá đổi ngạc nhiên, không ai chịu tin cho đến lúc tận mắt nhìn chàng trai nằm thẳng cẳng!
Gia đình chàng trai quyết định nhờ một hội đồng bác sĩ rất giỏi khám nghiệm, tìm lý do.
Chỉ sau vài giờ làm việc, hội đồng bác sĩ rất giỏi đồng thanh kết luận:
"Chết do ngộ độc sau khi .... uống sữa quá hạn!"

*******************

Có khai không ?

 

Có một nữ điệp viên trong một lần đi làm nhiệm vụ không may bị phía đối phương bắt ..
Chúng dùng mọi nhục hình tra khảo nhưng cô nhưng cô nhất định không khai một lời nào.
Thế là chúng đành dùng đến một biện pháp cuối cùng là cưỡng hiếp cô.
Một tên đầu sỏ hý hửng cởi quần áo ra và show hàng trước mặt cô và quát lớn:
- Khai không?
Cô điệp viên không trả lời chỉ quay mặt đi chổ khác.
Hắn tức quá bước lại gần thêm hỏi tiếp.
- Bây giờ thì sao KHAI KHÔNG?
Cô lập tức trả lời: ..........HƠI KHAI...

***************************

Những ngày đầu tiên đến lớp cô giáo ăn mặc rất mốt, hôm nay cô ấy mặc một bộ váy rất đẹp và trên ngực áo cài một
bông hồng rất xinh xắn,nhưng mấy đứa trẻ chẳng đứa nào để ý cả. Hồi lâu cô giáo muốn khoe cái áo đẹp nên đặt ra câu hỏi thế này:
- Các em có thấy bông hồng rất đẹp trên áo cô không, vậy đố mấy em hoa hồng sống bằng gì?
Sau một hồi suy nghĩ (nát óc,vì tụi nhỏ mới học lớp 1 mà!) một bàn tay giơ lên:
- Thưa cô! Nó sống bằng sữa ạ!
Tất nhiên là thằng bé bị đuổi ra khỏi lớp ngay lập tức mà chẳng hiểu chuyện gì cả.
Lát sau thầy hiệu trưởng đi ngang qua, thấy thằng bé như vậy thầy mới hỏi,thằng bé kể nguyên văn. Thầy hiệu trưởng cười và bảo thằng bé:
- Lần sau cô có hỏi như vậy thì cháu phải nói là: bông hồng sống bằng nước và phân nghe chưa!
Thằng bé làu bàu:
- Con cũng không nghĩ là rể của nó lại dài đến như vậy!
********************

 


Đối Thoại

 

Cô gái nói với cha:
- Tuần sau con và Anh ấy sẽ kết hôn, Bố ạ
- ...thế thằng đó có nhà cửa đàng hoàng không?
- Không ạ. Anh ấy ở nhà trọ
- Nó có xe không?
- Cũng không có. Anh ấy đi xe đạp
- Bố mẹ nó thế nào?
- Anh ấy mồ côi ạ
-...Ôi! Ở đời phải biết tích phúc, tích đức con ạ, nó đã khổ thế rồi thì con tha cho nó đi, đừng làm khổ người ta nữa.

*******************

Cẩn Thận

 

- Mẹ ơi! Có phải ngày xưa bố mẹ quen nhau bởi một vụ đụng xe phải không hả mẹ?
- Ừ
- Con cũng đoán vậy, vì bố cứ dặn đi dặn lại rằng con lái xe phải hết sức cẩn thận, lỡ xảy ra tai nạn, nếu không chết, thì cũng khổ cả một đời!!!
*************

LÀM CHO SÁNG TỎ

 

Một đứa bé túm lấy thầy cảnh sát và nói:
- Ông ơi, đằng kia có người đánh ba tui!
Hai người chạy lại về phía hai người đàn ông đang giằng co với nhau. Ông cảnh sát hỏi :
- Ông nào là ba mày?
- Đó là điều hai ổng đang làm cho sáng tỏ.

 


****************

Cà Lăm
Có một chàng cà lăm đi mua vịt quay:
- Bán cho tui một... một... một...con... con..
- Con gì? - Con.. vịt.. vịt.
- Ok!
- Chặt...chặt...chặt....
- Chặt hả?
- Rồi, chặt, chặt. - Nửa... nửa....nửa...n..nửa.
- Nữa hả? (chặt liên tục...)
- Hic, hic... nửa...nửa...,hic, hic
- Nữa hả? (chặt liên tục...), chà thằng này hào phóng quá
- Huhu...hu...nửa...nửa...,huhu, nửa... con... con... thôi!
- Hã? Tao đã chặt cả chục, chặt.. mày luôn nè!




 

Chuyn vui đ thư giãn

 



 

 

 



 

HẬU QUẢ SAU 40 NĂM

Người cha khuyên con trai : Con đã gần 40 rồi đấy, lấy vợ đi kẻo sau này ăn cơm xong, muốn xỉa răng cũng không có người lấy tăm cho đâu!

40 năm sau, chàng trai ngày ấy, nay đã thành ông già 80 tuổi, nằm ôm đầu, bông nhét chặt hai hai lỗ tai. Xung quanh, lũ cháu nội cháu ngoại mở nhạc ầm ĩ, nhảy nhót nô đùa, đá bóng ở phòng ngoài. Ông chỉ thầm than thở:

- Ôi! Chỉ vì một cái tăm mà thân ta khốn khổ thế này đây!


 

ĐÓNG GÓP THEO NHAN SẮC

Nghi lễ kết hôn đã hoàn tất. Chú rể thò tay vô túi áo ngoài và hỏi vị mục sư chàng phải thanh toán tất cả là bao nhiêu. Vị mục sư nói:
- Các phần này nhà thờ không tính tiền......

Ngài nói tiếp:
-Nhưng con có thể đóng góp tùy theo nhan sắc của cô dâu, con có vợ đẹp thì con vui, mà con vui đóng góp cho nhà thờ thì ta cũng vui.

Chú rể đưa cho vị mục sư 1 đô. Sau đó vị mục sư vén tấm màn che cô dâu, nhìn kỹ quan sát, xong ngài thọc tay tìm kiếm ở trong túi của ngài và nói:
- Đây là 50 xu ta thối lại cho con!

 



 

LỜI KHUYÊN TỐT

Toà hỏi bị cáo:
- Tại sao ông lại giết vợ mình?
- Bởi vì lúc nào bà ấy cũng lên giọng khuyên bảo tôi.
- Hy vọng đó đều là những lời khuyên tốt!
- Đúng vậy! Lần cuối cùng bà ấy đã khuyên tôi : Nếu thực sự muốn yên tĩnh, ông hãy giết tôi đi!

 



 

MỒI CÂU

Ông bố hỏi cô con gái:
- Con yêu, sao con chưa chịu lấy chồng?
- Bố ơi, con đã tìm hiểu mấy người bạn trai nhưng chưa vừa ý ai cả, phải chọn lựa kỹ càng đã bố ạ!
- Con không còn trẻ nữa, cần phải biết nắm thời cơ.
- Bố yên tâm, trong biển cả cuộc đời, cá nhiều vô số mà.
- Nhưng con ơi, mồi câu mà để lâu ngày sẽ bốc mùi đó.

 

TRƯỚC VÀ SAU KHI CƯỚI

Vợ cằn nhằn:
- Trước khi cưới, anh chăm sóc, chiều chuộng em lắm cơ mà!
- Đúng vậy! Nhưng, là một người nghiêm túc, đứng đắn, bây giờ anh không thể tự cho phép mình chăm sóc, chiều chuộng một phụ nữ đã có chồng.

 

ĐỂ DÀNH

Một ông 70 tuổi lấy cô vợ 25 tuổi và đi hưởng tuần trăng mật. Đến ngày thứ tư thì cô vợ trông rất phờ phạc vì ông chồng không cho vợ rời nửa bước. Thừa lúc chồng vào nhà tắm, cô vợ lẻn xuống quầy cà phê của khách sạn ngồi thư giãn. Chủ khách sạn hỏi:

- Sao, hạnh phúc không?
- Tôi mệt muốn chết đây! Ông ấy đã lừa tôi...
- ???
- Ông ấy nói là đã để dành cả mấy chục năm nay, không dám xài phung phí. Tôi cứ tưởng là ông ấy nói về chuyện tiền bạc. Thì ra ông để dành hơi sức !

 

SẾP VÀ THƯ KÝ

Cô thư ký khoe :
- Mẹ ơi ! Hôm nay giám đốc nhận con làm em gái nuôi mẹ ạ!

Bà mẹ thở dài :
- Theo kinh nghiệm của mẹ, ở đời, người ta nuôi con gì rồi cũng đem ra làm thịt hết con ạ!


 

CUỘC ĐỜI LÀM CHỒNG!

Giai đoạn 1: năm 20 - 30 tuổi

Chồng em chẳng thích ăn quà
Ngày nào cũng chỉ về nhà ăn cơm
Cơm nhà rất dẻo rất thơm
Chồng em chỉ thích ăn cơm ở nhà ...

Giai đoạn 2: năm 30 - 40 tuổi

Chồng em đã biết ăn quà,
Bây giờ thỉnh thoảng về nhà ăn cơm.
Cơm nhà vẫn dẻo vẫn thơm,
Chồng em giờ biết ăn cơm lẫn quà....

Giai đoạn 3: năm 40 - 50 tuổi

Chồng em chỉ thích ăn quà,
Bây giờ anh chẳng về nhà ăn cơm.
Cơm nhà vẫn dẻo vẫn thơm,
Mà chồng giờ đã bỏ cơm ăn quà...

Giai đoạn 4: năm 50- 60 tuổi

Chồng em hết thích ăn quà,
Mà giờ cũng chẳng về nhà ăn cơm.
Cơm nhà hết dẻo hết thơm,
Chồng em giờ đã bỏ cơm lẫn quà...

Giai đoạn 5: năm 60 - 70 tuổi

Chồng em bỏ cả cơm, quà;
Chỉ ăn được phở, cháo gà mà thôi.
Chê quà, cơm dẻo hôi hôi;
Phở bà hàng xóm kề môi húp liền...

Giai đoạn 6: năm 70 - 80 tuổi

Chồng em tóc bạc như tiên,
Phở ăn chẳng được, có tiền như không.
Ngồi thèm nhìn ngó các ông
trẻ trung húp phở mà lòng xôn xao.

Giai đoạn 7: năm 80 - 90 tuổi

Chồng em da hết hồng hào,
Quà, cơm, phở, cháo gà sao chẳng thèm.
Không còn có chút tòm tem,
Ngó qua liếc lại nhìn xem đất trời

Giai đoạn 8: năm 90 - 100 tuổi

Chồng em đà chán sống rồi,
Muốn đi chầu Chúa, Phật, Trời, Diêm Vương.

 

HỘI NGHỊ QUỐC TẾ PHỤ NỮ

Tại hội nghị quốc tế phụ nữ, đại biểu của Mỹ đứng lên phát biểu:
- Như hội nghị lần trước, chúng ta đã nhất trí cần phải quyết liệt hơn với những ông chồng. Sau khi từ hội nghị trở về, tôi đã nói với chồng tôi rằng từ nay tôi sẽ không nấu nướng gì nữa, mà anh ta sẽ phải tự lo. Ngày thứ nhất, tôi không thấy gì. Ngày thứ 2, tôi vẫn không thấy gì. Nhưng... tới ngày thứ 3, chồng tôi đã chịu vào bếp và hôm đó, anh ấy đã nấu một bữa tối ngon tuyệt.

Cả hội nghị vỗ tay.

Đến lượt đại biểu của Pháp đứng lên phát biểu:
- Sau khi từ hội nghị trở về, tôi nói với chồng tôi rằng tôi sẽ không lo việc giặt giũ nữa, anh ta sẽ phải tự lo. Ngày thứ nhất, tôi không thấy gì. Ngày thứ 2, tôi vẫn không... thấy gì. Nhưng tới ngày thứ 3, chồng tôi đã chịu mang áo quần đi giặt, và anh ấy không chỉ giặt đồ của mình mà còn giặt đồ của cả tôi nữa.

Cả hội nghị lại vỗ tay.

Đến lượt đại biểu Việt Nam đứng lên:
- Sau khi từ hội nghị trở về, tôi nói với chồng tôi rằng từ nay tôi sẽ không đi chợ nữa, mà anh ta sẽ phải tự lo. Ngày thứ nhất, tôi không thấy gì. Ngày thứ 2, tôi vẫn không thấy gì. Nhưng tới ngày thứ 3, tôi đã bắt đầu nhìn thấy lại được một chút, khi 2 mắt của tôi bớt sưng...

 

CƯỜI NHẠO

Một con lạc đà đi qua mặt con voi, voi thấy lạc đà đi qua liền cười ầm lên:
- "Hô hô, con gì buồn cười thế kia? Vú mọc trên lưng à!??"

Con lạc đà cú quá, bèn chửi lại con voi:
- "Còn hơn cái loại mày. Con cu mà lại mọc trước mặt ".

Con rắn đi qua nghe thế thì lăn ra cười sằng sặc, con voi tức giận quát:
- "Ai cũng có thể cười tao trừ con kia, cái loại... mặt mọc trên con cu"

 

CHẾ TẠO ĐÀN BÀ

Ông vua xe hơi, Henry Ford sau khi chết được đưa lên thiên đàng. Tại cổng thiên đàng có Thánh Peter chờ sẵn để đón Ford.

Vừa gặp Ford, Thánh Peter cho biết: Ford hồi còn sống ngươi đã làm nhiều việc công ích cho xã hội, như sáng chế phương pháp làm việc dây chuyền cho kỹ nghệ xe hơi làm thay đổi cả thế giới. Với thành quả như vậy, ngươi sẽ được một ân huệ là có thể chuyện trò với bất cứ ai trên thiên đường này.

Suy nghĩ vài giây, Ford xin được gặp thượng đế. Thánh Peter dẫn Ford đi gặp thượng đế, vừa gặp thượng đế, Ford hỏi ngay:
- Thưa ngài, lúc ngài chế tạo ra đàn bà, ngài đã suy nghĩ gì?

Thượng đế nghe xong bèn hỏi lại:
- Ngươi hỏi như vậy là ý gì?

Ford liền trả lời:
- Trong sáng chế của ngài có quá nhiều sai sót. Phía trước thì phồng lên, phía sau bị nhô ra. Máy thường kêu to khi chạy nhanh. Tiền bảo trì và nuôi dưỡng quá cao. Thường xuyên đòi hỏi nước sơn mới. Cứ đi 28 ngày là lại bị chảy nhớt và không làm việc được. Chỗ bơm xăng và ống xả lại quá gần nhau. Đèn trước thì quá nhỏ. Tiêu thụ nhiên liệu thì nhiều khủng khiếp.

Thượng đế nghe qua liền bảo:
- Ngươi hãy đợi một lát để ta xem lại bản thiết kế.

Ngài bèn cho gọi toàn bộ kỹ sư thiết kế và cơ khí trên thiên đàng lại để xem lại quá trình. Sau một thời gian họ trình thượng đế bản báo cáo. Xem xong, ngài bèn phán rằng:
- Những lời ngươi vừa nói hoàn toàn đúng, bằng sáng chế của ta quả thật có nhiều sai sót, nhưng nếu tính trên phương diện kinh tế thì hiệu quả lại rất cao: Có gần 98% đàn ông trên thế giới xài sản phẩm do ta chế tạo, trong khi chưa đầy 10% đàn ông xài sản phẩm của ngươi.

 

--







 

Buôn lậu
 
Cô gái chạy xe đạp qua biên giới với 2 bao cát trên lưng, chạy đến chỗ mấy anh biên phòng giữ lại kiểm tra, 
 

 

cô nói chỉ là cát, 2 anh đồn biên phòng không tin bắt bỏ bao xuống kiểm tra. Sau 1 hồi kiểm tra kỹ thì chỉ là  

 

bao cát không và cứ thế 2 năm liền cô chạy xe đạp qua biên giới với 2 bao cát trên lưng. Sau này 1 trong 2  

 

anh biên phòng đã nghỉ việc, gặp cô và hỏi :" Tao được đào tạo chuyên nghiệp mà vẫn không biết mày buôn  

 

lậu cái quái gì nữa? Cô gái trả lời: em buôn lậu xe đạp!

 

************* 

 


Lệch Phà
 
Thằng con rể nguời Nam Ky` và ông già vợ người Quảng Nam.
Ông già vợ hỏi: "Bữa ni con có rẻn chở ba đi một chút."
Thằng kia trả lời: "Con kẹt".
Ông già vác gậy rượt, "Teo nhờ mi chở, không chở thì thôi sao lại chửi thề" 
 
*************

 


Công Dụng Máy Vi Tính

 

Khách hàng hỏi về công dụng máy tính : Khi tôi mua máy tính tôi sẽ được những gì?
Người bán hàng trả lời : máy tính sẽ giúp cho công việc của anh giảm còn một nữa.
Người khách liền nói : Bán cho tôi 2 cái. 
 
****************** 

 

Bí mật trong tủ quần áo

 


 

 

Cậu bé Johnny hớn hở đón mẹ vừa đi vắng một tuần trở về.

 

"Mẹ biết không? Hôm qua khi con đang chơi trong tủ quần áo ở phòng ngủ của bố mẹ, con thấy bố đi vào phòng  

 

 cùng với người phụ nữ ở nhà bên. Họ cởi quần áo, leo lên giường, bố trèo lên người bà ta..."
Người mẹ vội vàng giơ tay lên ngăn cậu bé lại và nói:

 

"Không cần kể thêm từ nào nữa. Hãy chờ đến khi bố về nhà và mẹ muốn con kể chính xác những gì con vừa nói với mẹ".
Ông bố về nhà, bà vợ liền tuyên bố sẽ bỏ ông ta.

 

"Nhưng tại sao?", ông chồng ngạc nhiên hỏi.
"Kể đi Johnny.. Hãy cho bố biết những gì con đã nói với mẹ".
"Được rồi", Johnny nói:

 

"Con đang chơi trong tủ quần áo thì bố lên gác cùng người phụ nữ ở nhà bên. Hai người cởi quần áo, leo lên giường, bố  

 

 trèo lên người bà ta và họ làm đúng những gì mẹ làm, với chú Bob, khi bố đi vắng hè vừa rồi".

 

*************** 

 

Một chàng thanh niên rất trẻ rất đẹp trai cưới một bà rất giầu và rất... già.
Sau tiệc cưới, chú rể trẻ và bà dâu già đi hưởng tuần trăng mật.
Đêm đầu tiên, cô dâu và chú rể động phòng.
Ai cũng chợt lo cho bà già, e rằng chàng rể đang tuổi sung mãn sẽ khiến cụ bà không chết thì cũng... lết!
Sáng hôm sau, mọi người nhận được hung tin: Chú rể trẻ lăn đùng ra chết lúc trời vừa hừng sáng.
Mọi người ai cũng quá đổi ngạc nhiên, không ai chịu tin cho đến lúc tận mắt nhìn chàng trai nằm thẳng cẳng!
Gia đình chàng trai quyết định nhờ một hội đồng bác sĩ rất giỏi khám nghiệm, tìm lý do.
Chỉ sau vài giờ làm việc, hội đồng bác sĩ rất giỏi đồng thanh kết luận:

 

"Chết do ngộ độc sau khi .... uống sữa quá hạn!"

 

******************* 

 

Có khai không ?

Có một nữ điệp viên trong một lần đi làm nhiệm vụ không may bị phía đối phương bắt ..
Chúng dùng mọi nhục hình tra khảo nhưng cô nhưng cô nhất định không khai một lời nào.
Thế là chúng đành dùng đến một biện pháp cuối cùng là cưỡng hiếp cô.
Một tên đầu sỏ hý hửng cởi quần áo ra và show hàng trước mặt cô và quát lớn:
- Khai không?
Cô điệp viên không trả lời chỉ quay mặt đi chổ khác.
Hắn tức quá bước lại gần thêm hỏi tiếp.
- Bây giờ thì sao KHAI KHÔNG?
Cô lập tức trả lời: ..........HƠI KHAI...

 

***************************

 

Những ngày đầu tiên đến lớp cô giáo ăn mặc rất mốt, hôm nay cô ấy mặc một bộ váy rất đẹp và trên ngực áo cài một  

 

 bông hồng rất xinh xắn,nhưng mấy đứa trẻ chẳng đứa nào để ý cả. Hồi lâu cô giáo muốn khoe cái áo đẹp nên đặt ra câu hỏi thế này:
- Các em có thấy bông hồng rất đẹp trên áo cô không, vậy đố mấy em hoa hồng sống bằng gì?
Sau một hồi suy nghĩ (nát óc,vì tụi nhỏ mới học lớp 1 mà!)  một bàn tay giơ lên:
- Thưa cô! Nó sống bằng sữa ạ!
Tất nhiên là thằng bé bị đuổi ra khỏi lớp ngay lập tức mà chẳng hiểu chuyện gì cả.
Lát sau thầy hiệu trưởng đi ngang qua, thấy thằng bé như vậy thầy mới hỏi,thằng bé kể nguyên văn. Thầy hiệu trưởng cười và bảo thằng bé:
- Lần sau cô có hỏi như vậy thì cháu phải nói là: bông hồng sống bằng nước và phân nghe chưa!
Thằng bé làu bàu:
- Con cũng không nghĩ là rể của nó lại dài đến như vậy!

 

******************** 

 


 

 

Đối Thoại

Cô gái nói với cha:
- Tuần sau con và Anh ấy sẽ kết hôn, Bố ạ
- ...thế thằng đó có nhà cửa đàng hoàng không?
- Không ạ. Anh ấy ở nhà trọ
- Nó có xe không?
- Cũng không có. Anh ấy đi xe đạp
- Bố mẹ nó thế nào?
- Anh ấy mồ côi ạ
-...Ôi! Ở đời phải biết tích phúc, tích đức con ạ, nó đã khổ thế rồi thì con tha cho nó đi, đừng làm khổ người ta nữa.

 

******************* 

 

Cẩn Thận

- Mẹ ơi! Có phải ngày xưa bố mẹ quen nhau bởi một vụ đụng xe phải không hả mẹ?
- Ừ
- Con cũng đoán vậy, vì bố cứ dặn đi dặn lại rằng con lái xe phải hết sức cẩn thận, lỡ xảy ra tai nạn, nếu không chết, thì cũng khổ cả một đời!!!

 

************* 

 

LÀM CHO SÁNG TỎ

Một đứa bé túm lấy thầy cảnh sát và nói:
- Ông ơi, đằng kia có người đánh ba tui!
Hai người chạy lại về phía hai người đàn ông đang giằng co với nhau. Ông cảnh sát hỏi :
- Ông nào là ba mày?
- Đó là điều hai ổng đang làm cho sáng tỏ.

 


 

 

****************

 

Cà Lăm

 

Có một chàng cà lăm đi mua vịt quay:
- Bán cho tui một... một... một...con... con..
- Con gì? - Con.. vịt.. vịt.  
- Ok!
- Chặt...chặt...chặt....
- Chặt hả?
- Rồi, chặt, chặt. - Nửa... nửa....nửa...n..nửa.
- Nữa hả? (chặt liên tục...)
- Hic, hic... nửa...nửa...,hic, hic
- Nữa hả? (chặt liên tục...), chà thằng này hào phóng quá
- Huhu...hu...nửa...nửa...,huhu, nửa... con... con... thôi!
- Hã? Tao đã chặt cả chục, chặt.. mày luôn nè!








 


Giới thiệu

Thông báo

Đăng nhập



Tổng lượt truy cập

Nha khoa, Rang su Tham my, Cay ghep rangNha khoa, Rang su Tham my, Cay ghep rangNha khoa, Rang su Tham my, Cay ghep rangNha khoa, Rang su Tham my, Cay ghep rangNha khoa, Rang su Tham my, Cay ghep rangNha khoa, Rang su Tham my, Cay ghep rang
mod_vvisit_counterHôm nay77
mod_vvisit_counterHôm qua179
mod_vvisit_counterTuần này1011
mod_vvisit_counterTuần trước976
mod_vvisit_counterTháng này3608
mod_vvisit_counterTháng trước6050
mod_vvisit_counterTất cả528060

Chúng ta có: 2 khách online
IP của bạn: 54.198.52.82
 , 
Hôm nay : Tháng 9 22, 2018