Trang chủ  /  SỐNG ĐẠO SỐNG LỜI CHÚA

BỘ GIÁO LÝ ĐỨC TIN                                          
Palazzo del Sant’Uffizio
00120 Città del Vaticano

Ngày 26 tháng 02 năm 2018

PROT. N.51/2016-63822

Kính gởi Quý Hồng Y và Quý Giám Mục

Chủ tịch Hội Đồng Giám Mục,

Bộ Giáo Lý Đức Tin đã quyết định công bố Thư gởi các Giám mục của Hội thánh Công giáo về một vài khía cạnh của ơn cứu độ Ki-tô giáo (x. Annexe). Việc giới thiệu Tài liệu này sẽ diễn ra tại Phòng Báo Chí Tòa Thánh ngày 01 tháng 3 năm 2018 (không được lưu hành trước 12 giờ, giờ Rô-ma, ngày 01 tháng 3).

Vì những thách đố hiện thời của thuyết Tân Pê-la-gi-ô và thuyết Tân Ngộ đạo, Thư này muốn khẳng định lại ý nghĩa của ơn cứu độ Ki-tô giáo, bằng cách chứng minh rằng trọng tâm của ơn cứu độ hệ tại sự hợp nhất với Chúa Giê-su. Sự hiệp thông này biến đổi con người và dẫn đưa con người vào trong mạng tương quan mới mẻ với Thiên Chúa, với đồng loại và với thế giới thụ tạo, theo đó, giải thoát con người khỏi sự dữ để đưa đời sống của con người đến sự viên mãn.

Khi xin quý huynh đệ thông báo Tài liệu này đến các thành viên trong hội đồng giám mục của quý huynh đệ, Bộ Giáo Lý Đức Tin rất biết ơn quý huynh đệ vì đã kêu mời các ngài khuyến khích việc tiếp nhận, học hỏi và phổ biến lá Thư, cách đặc biệt cho giáo dân, bằng việc lưu tâm sao cho nội dung Thư trở thành những điểm qui chiếu rõ ràng và chuẩn mực.

Trong tâm tình cám ơn quý huynh đệ về sự cộng tác quý giá, tôi xin bày tỏ lòng tận tụy của tôi đối với quý huynh đệ trong Đức Ki-tô.

(đã ấn ký)

+ Luis F. LADARIA, S.J

Tổng Giám mục Hiệu Tòa Thibica

Tổng Trưởng

(annexe)

--------------------------------------------------

Kính gởi Quý Hồng Y và Quý Giám Mục

Chủ tịch Hội Đồng Giám Mục

 

 

BỘ GIÁO LÝ ĐỨC TIN

THƯ PLACUIT DEO

KÍNH GỬI CÁC GIÁM MỤC CỦA HỘI THÁNH CÔNG GIÁO

VỀ MỘT VÀI KHÍA CẠNH CỦA ƠN CỨU ĐỘ KI-TÔ GIÁO

  1. I.Dẫn nhập

1. “Do lòng nhân lành và khôn ngoan, Thiên Chúa đã muốn mặc khải chính mình và tỏ cho biết thiên ý nhiệm mầu (x. Ep 1,9), nhờ đó, loài người có thể đến cùng Chúa Cha, nhờ Chúa Ki-tô, Ngôi Lời Nhập Thể, trong Chúa Thánh Thần, và được thông phần vào bản tính Thiên Chúa (x. Ep 2,18; 2 P 1,4). Chân lý thâm sâu về Thiên Chúa cũng như về công cuộc cứu độ con người được bày tỏ cho chúng ta trong Chúa Ki-tô, Đấng vừa là trung gian vừa là sự viên mãn của toàn thể mặc khải”.[1] Giáo huấn về ơn cứu độ trong Đức Ki-tô phải luôn được đào sâu. Kiên định nhìn về Chúa Giê-su, Giáo hội hướng tới mọi người với lòng từ mẫu, để loan báo cho họ ý định Giao ước của Chúa Cha, nhờ Chúa Thánh Thần, “nhằm quy tụ mọi sự trong Đức Ki-tô, thủ lãnh duy nhất” (Ep 1,10). Trong ánh sáng của truyền thống đức tin vĩ đại, cùng với sự tham chiếu đặc biệt vào những lời giảng dạy của Đức Giáo hoàng Phan-xi-cô, lá thư này muốn làm sáng tỏ một vài khía cạnh của ơn cứu độ Ki-tô giáo có thể khó hiểu trong thời đại hôm nay, vì những biến đổi văn hóa mới mẻ.

  1. II.Tác động của những biến đổi văn hoá hiện nay trên ý nghĩa của ơn cứu độ Ki-tô giáo

2. Thế giới ngày nay thật khó thông hiểu việc tuyên xưng đức tin Ki-tô giáo vốn công bố Chúa Giê-su là Đấng Cứu Độ duy nhất của con người toàn vẹn và của toàn thể nhân loại (x. Cv 4,12; Rm 3,23-24; 1 Tm 2,4-5; Tt 2,11-15).[2] Một mặt, chủ nghĩa cá nhân tập trung vào chủ thể tự quản muốn nhìn con người như một hữu thể mà sự thành toàn duy nhất của bản thân chỉ tuỳ thuộc vào sức riêng mình.[3] Trong cách nhìn này, khuôn mặt Đức Ki-tô xuất hiện như một mẫu gương gợi hứng cho những hành động quảng đại nhờ lời nói và nghĩa cử của Người, hơn là Đấng biến đổi thân phận con người, bằng cách tháp nhập chúng ta vào đời sống mới, giao hòa chúng ta với Chúa Cha và với nhau, trong Thánh Thần (x. 2 Cr 5,19; Ep 2,18). Mặt khác, cái nhìn về ơn cứu độ thuần tuý nội tâm đang trở thành phổ biến. Được biểu hiện bằng một xác tín hoặc sự cảm nhận cá nhân mãnh liệt được hợp nhất với Thiên Chúa, lối nhìn này không thấy cần thiết phải đảm nhận, chữa lành và làm mới lại các mối tương quan của chúng ta với tha nhân và với thế giới thụ tạo. Trong viễn cảnh này, thật khó để hiểu ý nghĩa việc Nhập Thể của Ngôi Lời, nhờ đó Người đã trở nên một thành viên của gia đình nhân loại, mặc lấy xác phàm và lịch sử của chúng ta, vì chúng ta và ơn cứu độ của chúng ta.

3. Trong giáo huấn thông thường của mình, Đức Giáo hoàng Phan-xi-cô thường nhắc đến hai khuynh hướng được mô tả ở trên. Hai khuynh hướng này giống với một vài khía cạnh của hai lạc thuyết cổ xưa, thuyết Pê-la-gi-ô và thuyết Ngộ đạo.[4] Một hình thái mới của thuyết Pê-la-gi-ô đang được truyền bá trong thời đại chúng ta, theo đó cá nhân được hiểu là tự quản triệt để, có tham vọng tự cứu lấy chính mình mà không nhận thức rằng, ở tận thẳm sâu nhất của chính mình, cá nhân ấy tuỳ thuộc vào Thiên Chúa và tha nhân. Theo lối suy tư này, ơn cứu độ tuỳ thuộc vào sức riêng của cá nhân, hoặc vào những cơ cấu thuần tuý nhân loại, không có khả năng tiếp nhận tính mới mẻ của Thần Khí Thiên Chúa.[5] Mặt khác, một hình thái mới của thuyết Ngộ đạo trình bày một khuôn mẫu về ơn cứu độ thuần tuý nội tâm, đóng kín trong thuyết duy chủ thể của riêng mình.[6] Theo khuôn mẫu này, ơn cứu độ hệ tại việc tự hoàn thiện bản thân, “nhờ tri thức, có khả năng vượt lên trên thân xác Chúa Giê-su, đạt tới những mầu nhiệm thần tính vô danh.[7] Khuôn mẫu này muốn giải thoát con người khỏi thân xác và vũ trụ vật chất, trong đó những dấu vết bàn tay quan phòng của Đấng Tạo Hóa không còn tìm thấy, nhưng chỉ có một thực tại mất hết ý nghĩa, xa lạ với căn tính nền tảng của con người, và dễ bị thao túng bởi những lợi lộc của con người.[8] Rõ ràng, việc so sánh với những lạc thuyết Pê-la-gi-ô và Ngộ đạo chỉ muốn nhắc lại những nét đặc trưng chung và tổng quát, mà không đi vào những đánh giá về bản chất đích thật của những sai lầm thời cổ xưa. Có một sự khác biệt lớn lao giữa xã hội tục hóa hiện đại và bối cảnh xã hội của Ki-tô giáo buổi ban đầu, trong đó hai lạc thuyết này phát sinh.[9] Tuy nhiên, trong mức độ thuyết Ngộ đạo và thuyết Pê-la-gi-ô tiêu biểu cho những nguy hại dai dẳng vì hiểu sai đức tin Kinh Thánh, [chúng ta] có thể tìm thấy những điểm tương đồng giữa những lạc thuyết cổ xưa và những khuynh hướng hiện đại vừa được mô tả.

4. Cả chủ nghĩa cá nhân tân Pê-la-gi-ô lẫn thái độ khinh thị thân xác tân Ngộ đạo đều gây tổn hại cho việc tuyên xưng niềm tin vào Đức Ki-tô, Đấng Cứu Độ duy nhất và phổ quát. Làm thế nào Đức Ki-tô có thể trở nên trung gian Giao ước của toàn thể gia đình nhân loại, nếu các nhân vị bị tách biệt thành những cá thể, tự thành toàn bản thân bằng những nỗ lực của riêng mình, như thuyết tân Pê-la-gi-ô đề xướng? Cũng vậy, làm sao ơn cứu độ có thể đến với chúng ta, nhờ việc Nhập Thể của Chúa Giê-su, [nghĩa là] đời sống, cái chết và sự Phục Sinh trong thân thể đích thật của Người, nếu hiểu ơn cứu độ chỉ là sự giải thoát thực tại nội tâm của con người khỏi những giới hạn của thân xác và vật chất, như lối nhìn tân Ngộ đạo mô tả? Đối diện với hai khuynh hướng này, lá thư hiện hành muốn khẳng định lại rằng ơn cứu độ hệ tại việc kết hợp với Đức Ki-tô, là Đấng mà nhờ việc Nhập Thể, cái Chết và sự Phục Sinh của Người, đã mang đến một thể thức tương quan mới mẻ với Chúa Cha và giữa con người với nhau, dẫn chúng ta vào trong những mối tương quan này, nhờ hồng ân Thánh Thần, để chúng ta có thể kết hợp với Chúa Cha như những người con trong Người Con, và trở nên một thân thể trong Đấng là “Trưởng Tử giữa một đàn em đông đúc” (Rm 8,29).

  1. III.Con người khát khao ơn cứu độ

5. Cách trực tiếp hoặc gián tiếp, con người nhận biết chính mình như một mầu nhiệm: “Tôi là ai? Tôi hiện hữu, nhưng không có nguyên lý hiện hữu của chính mình nơi bản thân”. Mỗi người đều tìm kiếm hạnh phúc theo cách thức của riêng mình, và cố gắng để đạt được hạnh phúc bằng cách cậy dựa vào những phương thế sẵn có. Tuy nhiên, niềm khát vọng phổ quát này không nhất thiết được biểu lộ hay tỏ bày; đúng hơn, niềm khát vọng ấy thường là bí mật và được ẩn giấu hơn là được tỏ bày, và niềm khát vọng ấy sẵn sàng tỏ hiện chính mình khi gặp phải những khủng hoảng đặc biệt. Thông thường, niềm khát vọng này trùng hợp với ước vọng về sức khoẻ thể lý; đôi khi, khát vọng mặc lấy hình thức lo toan cho phúc lợi kinh tế lớn lao hơn; nhưng cách phổ biến, khát vọng ấy tự biểu lộ như nhu cầu an bình nội tâm và đời sống chung hòa bình với tha nhân. Mặt khác, công cuộc tìm kiếm ơn cứu độ, tự tỏ bày như niềm khát vọng điều thiện hảo lớn lao hơn, vẫn duy trì nghị lực phản kháng và vượt thắng đau khổ. Đi đôi với cuộc chiến đấu tìm kiếm sự thiện là cuộc chiến đấu chống lại sự ác: ngu dốt và lầm lỗi, mong manh và yếu đuối, bệnh tật và chết chóc.

6. Lưu tâm đến những khát vọng này, và bác bỏ mọi tham vọng tự thành toàn, niềm tin vào Đức Ki-tô dạy rằng những khát vọng này chỉ có thể được thành toàn cách trọn vẹn nếu chính Thiên Chúa làm cho chúng nên khả thể, bằng cách lôi cuốn chúng ta đến với Ngài. Ơn cứu độ con người toàn vẹn không hệ tại những gì con người có thể đạt được nhờ sức riêng mình, như tài sản, phúc lợi vật chất, kiến thức hoặc tài năng, quyền lực hoặc sức ảnh hưởng trên người khác, thanh danh hoặc sự tự mãn.[10] Chẳng có loài thụ tạo nào có thể làm chúng ta thoả mãn trọn vẹn, vì Thiên Chúa đã định phần cho chúng ta được hiệp thông với Ngài, và lòng chúng ta sẽ chỉ được yên nghỉ khi nghỉ yên trong Ngài.[11] “Thật vậy, ơn gọi chung cuộc của con người là duy nhất và thần linh”.[12] Như thế, Mặc Khải không tự giới hạn vào việc loan báo ơn cứu độ được hiểu như đáp số cho bất kỳ ước muốn đặc thù nào của thời đại. “Trái lại, nếu ơn cứu độ được đánh giá hay đo lường theo những nhu cầu hiện sinh của con người, làm sao chúng ta không thể hoài nghi việc chỉ tạo ra một Thiên Chúa - Đấng Cứu Độ theo những nhu cầu của chính chúng ta?”[13]

7. Cũng phải khẳng định rằng, theo niềm tin Kinh Thánh, nguồn gốc của sự ác không tìm thấy được trong thế giới vật chất hữu hình, được trải nghiệm như một giới hạn hoặc một ngục tù, khiến chúng ta muốn được giải thoát khỏi thế giới ấy. Trái lại, niềm tin Kinh Thánh công bố rằng toàn thể vũ trụ đều tốt lành vì đã được Thiên Chúa sáng tạo (x. St 1,31; Kn 1,13-14; 1 Tm 4,4), rằng sự ác nguy hại nhất đối với con người là sự ác xuất phát từ lòng người (x. Mt 15,18-19; St 3,1-19). Khi phạm tội, con người đã ruồng bỏ nguồn suối tình yêu, và tự đánh mất bản thân trong những hình thức yêu thương lệch lạc, nhốt kín con người hơn trong chính bản thân mình. Chính việc xa lìa Thiên Chúa, Đấng là nguồn suối của sự hiệp thông và sự sống, đã làm mất đi sự hài hoà giữa con người với nhau và giữa nhân loại với thế giới, dẫn đến tình trạng thống trị của sự hự mất và sự chết (x. Rm 5,12). Vì thế, ơn cứu độ mà đức tin loan báo cho chúng ta không chỉ liên quan đến thực tại nội tâm của chúng ta, nhưng toàn vẹn hữu thể chúng ta. Thật vậy, con người toàn vẹn, thân xác và linh hồn, đã được tình yêu Thiên Chúa tạo dựng, theo hình ảnh và giống như Ngài, được mời gọi sống hiệp thông với Ngài.

  1. IV.Chúa Ki-tô, Đấng Cứu Độ và Ơn Cứu Độ

8. Chẳng một phút giây nào trong dòng lịch sử, Thiên Chúa lại ngừng ban ơn cứu độ cho con cái A-đam (x. St 3,15), nhờ việc thiết lập giao ước của Ngài với toàn thể nhân loại qua ông Nô-e (x. St 9,9), và sau đó, với A-bra-ham và dòng dõi của ông (x. St 15,18). Vì thế, ơn cứu độ của Thiên Chúa mặc lấy trật tự thụ tạo vốn được toàn thể nhân loại chia sẻ, và ơn cứu độ ấy đồng hành cùng lộ trình cụ thể của nhân loại trong lịch sử. Bằng việc chọn một dân tộc và ban cho họ các phương tiện để chống lại tội lỗi và đến gần với Ngài, Thiên Chúa đã chuẩn bị cho việc ngự đến của “một Vị Cứu Tinh quyền thế, từ nhà Đa-vít, tôi tớ Ngài” (Lc 1,69). Khi thời gian đến hồi viên mãn, Chúa Cha đã sai Người Con của Ngài đến thế gian; Người Con ấy đã loan báo Nước Thiên Chúa, chữa lành mọi bệnh hoạn tật nguyền (x. Mt 4,3). Những việc chữa lành mà Chúa Giê-su thực hiện, qua đó Người làm tỏ rạng sự quan phòng của Thiên Chúa, là dấu chỉ qui hướng về chính bản thân Người, Đấng được mặc khải trọn vẹn như là Chúa của sự sống và sự chết trong biến cố Vượt Qua của Người. Theo Tin Mừng, ơn cứu độ cho toàn thể nhân loại bắt đầu bằng việc đón nhận Chúa Giê-su: “Hôm nay ơn cứu độ đã đến cho nhà này” (Lc 19,9). Tin Mừng cứu độ có một tên gọi và một khuôn mặt: Chúa Giê-su Ki-tô, Con Thiên Chúa, Đấng Cứu Độ. “Trở nên Ki-tô hữu không phải là kết quả của một chọn lựa đạo đức hay một ý tưởng cao cả, nhưng là kết quả của cuộc gặp gỡ với một biến cố, một con người, cuộc gặp gỡ trao tặng cho đời sống một chân trời mới và một định hướng dứt khoát”.[14]

9. Qua dòng lịch sử hằng bao thế kỷ, với nhiều diện mạo, đức tin Ki-tô giáo đã làm tỏ rạng công trình cứu độ của Người Con Nhập Thể. Công trình cứu độ ấy được thực hiện mà không hề có sự tách biệt giữa chiều kích chữa lành của ơn cứu độ, nhờ đó Chúa Ki-tô cứu chúng ta khỏi tội lỗi, với chiều kích vinh thăng, nhờ đó Chúa Ki-tô làm cho chúng ta trở thành con cái của Thiên Chúa, bằng việc thông phần bản thể thần linh của Người (x. 2 Pr 1,4). Khi nhìn viễn cảnh cứu độ theo hướng từ trên xuống, nghĩa là khởi sự từ Thiên Chúa, Đấng đến cứu độ con người, Chúa Giê-su là Đấng soi sáng và mc khải, cứu chuộc và giải thoát, thần linh hóa và công chính hóa con người. Theo cái nhìn từ dưới lên, nghĩa là khởi sự từ con người qui hướng lên Chúa, Chúa Ki-tô là vị Thượng Tế của Giao Ước Mới, dâng lên Chúa Cha việc thờ phượng hoàn hảo, nhân danh toàn thể nhân loại: Người tự hiến, đền tội và hằng sống để chuyển cầu cho chúng ta. Bằng cách này, một sự hợp nhất lạ lùng giữa hành động thần linh và nhân loại tỏ hiện trong đời sống của Đức Giê-su, một sự hợp nhất chỉ cho thấy rõ lối nhìn cá nhân chủ nghĩa là không có nền tảng. Cái nhìn từ trên xuống làm chứng cho tính trổi vượt tuyệt đối của những hành động nhưng không của Thiên Chúa; vượt trước mọi hành động của chúng ta, sự khiêm nhường là điều thiết yếu để đáp lại tình yêu cứu độ của Thiên Chúa và là điều kiện cần thiết để lãnh nhận quà tặng của Ngài. Đồng thời, cái nhìn hướng lên nhắc nhớ rằng, nhờ những hành động hoàn toàn nhân loại của Người Con của Ngài, Chúa Cha muốn đổi mới hành động của chúng ta, để một khi nên đồng hình đồng dạng với Đức Ki-tô, chúng ta có thể thực hiện “những công trình tốt đẹp mà Thiên Chúa đã chuẩn bị cho chúng ta (Ep 2,10).

10. Hơn nữa, rõ ràng ơn cứu độ Chúa Giê-su mang đến nơi bản thân Người không xảy ra theo cách thức thuần tuý nội tại. Quả thực, Người Con đã mặc lấy xác phàm, để chia sẻ cho mọi người sự hiệp thông cứu độ với Thiên Chúa (x. Ga 1,14). Bằng việc mặc lấy xác phàm (x. Rm 8,3; Dt 2,14; Ga 4,2), và sinh ra bởi người nữ (x. Gl 4,4), “Con Thiên Chúa đã trở nên con loài người”[15]nên anh em của chúng ta (x. Dt 2,14). Như thế, vì đã trở nên thành phần của gia đình nhân loại, “Người đã liên kết với hết mọi người cách nào đó”[16] và đã thiết lập một thể thức tương quan mới mẻ với Thiên Chúa, Cha của Người, và với toàn thể nhân loại; chúng ta có thể được tháp nhập vào thể thức tương quan mới mẻ này và thông phần vào chính sự sống của Con Thiên Chúa. Bởi thế, việc mặc lấy xác phàm chẳng những không giới hạn hành động cứu độ, mà còn cho phép Đức Ki-tô trở nên trung gian ơn cứu độ của Thiên Chúa cho toàn thể con cái A-đam.

11. Tóm lại, để trả lời cho cả chủ thuyết giản lược mang tính cá nhân chủ nghĩa theo khuynh hướng Pê-la-gi-ô, lẫn lời hứa về ơn cứu độ thuần tuý nội tại theo khuynh hướng tân Ngộ đạo, chúng ta cần nhận biết cách thức nhờ đó Chúa Giê-su trở thành Đấng Cứu Độ. Người đã không tự giới hạn vào việc chỉ giới thiệu cho chúng ta con đường gặp gỡ Thiên Chúa, nhờ đó chúng ta có thể tiến bước trên nẻo đường riêng của chúng ta, bằng việc vâng nghe lời Người và noi theo gương Người. Đúng hơn, Chúa Ki-tô mở cho chúng ta cánh cửa tự do, và chính Người trở thành con đường: “Thầy là đường” (Ga 14,6).[17] Hơn nữa, lộ trình này không chỉ là một hành trình nội tâm ở bên lề các mối tương quan của chúng ta với người khác và với thế giới thụ tạo. Đúng hơn, Chúa Giê-su đã ban tặng chúng ta một “con đường mới và sống động qua bức màn chính là thân xác Người” (Dt 10,20). Chúa Ki-tô là Đấng Cứu Độ vì Người đã mặc lấy toàn vẹn nhân tính của chúng ta và đã sống một cuộc sống nhân loại trọn vẹn trong sự hiệp thông với Cha của Người và với tha nhân. Vì thế, ơn cứu độ hệ tại việc tháp nhập chúng ta vào trong sự sống của Người, nhờ lãnh nhận Thần Khí của Người (x. 1 Ga 4,13). Người đã trở thành, “theo cách thế đặc biệt, nguồn cội của mọi ân sủng theo nhân tính của Người.”[18] Người vừa là Đấng Cứu Độ vừa là Ơn Cứu Độ.

  1. V.Ơn cứu độ trong Giáo hội, Thân Mình của Đức Ki-tô

12. Giáo hội là nơi chúng ta được đón nhận ơn cứu độ do Chúa Giê-su thiết lập, đây là một cộng đồng gồm những người đã được kết hợp trong mối tương quan mới do Đức Ki-tô khởi xướng (x. Rm 8,9). Việc hiểu được tính trung gian cứu độ của Giáo hội là một trợ lực thiết yếu để vượt thắng mọi khuynh hướng của giản lược thuyết. Ơn cứu độ Thiên Chúa ban cho chúng ta không đạt được bằng những nỗ lực riêng của từng người chúng ta như thuyết tân Pê-la-gi-ô chủ trương. Đúng ra, ơn cứu độ có trong các mối tương quan nảy sinh từ Con Thiên Chúa nhập thể và các mối tương quan này tạo nên sự hiệp thông của Giáo hội. Giáo hội là một cộng đồng hữu hình bởi vì ân sủng Đức Ki-tô ban cho chúng ta không chỉ là ơn cứu độ nội tại như quan niệm tân Ngộ đạo đòi hỏi, song còn bởi vì ân sủng dẫn đưa chúng ta vào các mối tương quan cụ thể mà chính Người đã sống. Trong mầu nhiệm Giáo hội chúng ta được chạm đến các chi thể của Chúa Giê-su, đặc biệt nơi các anh chị em nghèo nhất và đau khổ nhất. Vì thế, tính trung gian cứu độ của Giáo hội, “Bí tích phổ quát về ơn cứu độ”,[19] bảo đảm cho chúng ta rằng, ơn cứu độ không hệ tại việc tự mình thực hiện đơn lẻ, cũng không hệ tại việc liên kết bên trong giữa cá nhân với thần thánh. Đúng hơn, ơn cứu độ hệ tại việc được kết hợp vào sự thông hiệp của những người cùng tham gia vào sự hiệp thông của Ba Ngôi Thiên Chúa.

13. Cả hai quan niệm “duy cá nhân” và “thuần túy nội tại” về ơn cứu độ đều trái ngược với nhiệm cục bí tích, qua đó Thiên Chúa muốn cứu độ con người. Sự thông phần vào thể thức mới trong các mối tương quan do Chúa Giê-su khởi xướng, diễn ra trong Giáo hội nhờ vào các bí tích, trong đó Bí tích Thánh Tẩy là cửa vào,[20] và Bí tích Thánh Thể là nguồn mạch và tột đỉnh.[21] Trong đó, chúng ta có thể nhận ra sự thiếu vững chắc của các chủ trương về tự thân cứu độ, vốn chỉ dựa hoàn toàn vào những nỗ lực của con người. Đức tin tuyên xưng rằng, chúng ta đuợc cứu độ nhờ Bí tích Thánh Tẩy, bí tích này đóng ấn vào chúng ta một dấu không thể phai nhạt là thuộc về Đức Ki-tô và Giáo hội. Sự chuyển đổi cách sống các mối tương quan của chúng ta với Thiên Chúa, với con người, và với tạo thành phát sinh từ Bí tích Thánh Tẩy (x. Mt 28,19). Quả vậy, được thanh tẩy khỏi tội nguyên tổ và mọi tội lỗi khác, chúng ta được mời gọi vào sự sống mới đồng hình đồng dạng với Đức Ki-tô (x. Rm 6,4). Nhờ ân sủng của bảy bí tích, các tín hữu tiếp tục tăng trưởng và được canh tân về đời sống thiêng liêng, đặc biệt khi hành trình tâm linh trở nên khó khăn hơn. Khi từ bỏ tình yêu của mình đối với Đức Ki-tô bằng cách phạm tội, các tín hữu lại có thể được dẫn nhập vào các mối tương quan do Đức Ki-tô đã khởi sự trong Bí tích Hòa Giải, cho phép họ lại bước đi trên con đường Người đã đi (x. 1 Ga 2,6). Bằng cách này, chúng ta hy vọng hướng tới Cuộc Phán Xét Cuối, trong đó mỗi người sẽ được phân xử theo độ chân thực của tình yêu mình đã thể hiện (Rm 13,8-10), cách đặc biệt là đối với những người yếu đuối nhất (x. Mt 25,31-46).

14. Nhiệm cục cứu độ cũng đối nghịch với những khuynh hướng đề xướng một sự cứu độ thuần túy nội tâm. Thật vậy, thuyết Ngộ đạo tự liên kết với quan điểm tiêu cực về trật tự đuợc tạo dựng, trật tự này bị hiểu là sự giới hạn tự do tuyệt đối của tinh thần nhân loại. Vì thế, ơn cứu độ bị hiểu là sự giải thoát khỏi thể xác và các mối tương quan cụ thể mà con người đang sống. Ơn cứu độ đích thực, trái nghịch với tình trạng giải thoát khỏi thân xác, còn bao gồm cả việc thánh hoá thân xác (x. Rm 12,1) đến mức chúng ta được cứu độ nhờ “việc hiến dâng thân mình làm lễ tế của Đức Ki-tô Giê-su” (Dt 10,10; x. Cl 1,22). Thân xác con người đuợc Thiên Chúa nặn hình, Ngài khắc vào đó một ngôn ngữ mời gọi con người nhận biết các tặng ân của Đấng Tạo Dựng và sống thông hiệp với anh chị em của mình.[22] Đấng Cứu Độ tái lập và canh tân ngôn ngữ nguyên thủy này qua Mầu nhiệm Nhập Thể và Phục Sinh của Người, đồng thời thông truyền mầu nhiệm ấy trong nhiệm cục các bí tích. Nhờ các bí tích, các Ki-tô hữu mới có thể sống trung thành với máu thịt Đức Ki-tô và nhờ đó, trung thực với thể thức tương giao mà Người đã ban cho. Thể thức tương giao này, đặc biệt đòi hỏi phải chăm sóc hết thảy nhân loại khổ đau bằng các công việc của lòng thương xót về phương diện tinh thần cũng như thể xác.[23]

  1. VI.Kết luận: Thông truyền đức tin, mong đợi Đấng Cứu Độ

15. Việc hiểu biết đầy đủ về sự sống mà Đức Ki-tô, Đấng Cứu Độ giới thiệu cho chúng ta, sẽ thúc đẩy các Ki-tô hữu hướng tới sứ vụ loan báo cho mọi người niềm vui và ánh sáng của Tin Mừng.[24] Trong công trình này, các Ki-tô hữu cũng phải được chuẩn bị – để thiết lập với các tín hữu của các tôn giáo khác cuộc đối thoại chân thành và xây dựng – với niềm tin rằng Thiên Chúa có thể dẫn đưa “tất cả những ai có thiện chí được ơn thánh tác động một cách vô hình trong tâm hồn”[25] tới ơn cứu độ trong Đức Ki-tô. Trong khi tận hiến mọi nỗ lực của mình cho công cuộc loan báo Tin Mừng, Giáo hội tiếp tục khẩn cầu cuộc quang lâm tất định của Đấng Cứu Độ, bởi chính trong “hy vọng chúng ta được cứu độ” (x. Rm 8,24). Công trình cứu độ nhân loại sẽ chỉ hoàn tất sau khi đã chinh phục được kẻ thù cuối cùng là sự chết (x. 1 Cr 15,26), khi ấy chúng ta sẽ tham gia cách đầy đủ vào vinh quang của Chúa Giê-su Phục Sinh, Đấng sẽ đưa tới mức độ viên mãn mối tương quan của chúng ta với Thiên Chúa, với anh chị em của mình và với toàn thể tạo thành. Cứu độ cả xác lẫn hồn là định mệnh chung cuộc mà Thiên Chúa kêu gọi toàn thể nhân loại hướng đến. Được xây nền trong đức tin, được nâng đỡ nhờ đức cậy, và hoạt động trong đức ái, theo gương Đức Ma-ri-a, Mẹ Đấng Cứu Độ và là người đầu tiên trong những người được hưởng ơn cứu độ, chúng ta chắc chắn rằng “quê hương chúng ta ở trên trời, và chúng ta nóng lòng mong đợi Đức Ki-tô Giê-su từ trời đến cứu chúng ta. Người có quyền năng khắc phục muôn loài, và sẽ dùng quyền năng ấy mà biến đổi thân xác yếu hèn của chúng ta nên giống thân xác vinh quang của Người” (Pl 3,20-21).

Lá thư này được Phiên họp khoáng đại của Bộ Giáo Lý Đức Tin thông qua ngày 24-01-2018, Đức Giáo hoàng Phan-xi-cô đã chuẩn y vào ngày 16-02-2018, và ban lệnh phát hành thư.

Văn phòng Bộ Giáo Lý Đức Tin,

Rô-ma, ngày 22-02-2018, dịp lễ kính Ngai Tòa Thánh Phê-rô

(đã ấn ký)

+ Luis F. Ladaria, S.J.

Tổng Giám Mục Hiệu Tòa Thibica,

Tổng trưởng

(đã ký)

+ Giacomo Morandi

Tổng Giám Mục Hiệu Tòa Cerveteri,

Thư ký

 

 

 

---------------------------------------------

Bản dịch của Uỷ ban Giáo lý Đức tin



[1] Công đồng Va-ti-ca-nô II, Hiến chế tín lý về Mặc Khải Thiên Chúa Dei Verbum, 2.

[2] X. Bộ Giáo Lý Đức Tin, Tuyên ngôn Dominus Iesus (ngày 06 tháng 8 năm 2000), 5-8: AAS 92 (2000), 745-749.

[3] X. Đức Giáo hoàng Phan-xi-cô, Tông huấn Evangelii gaudium (ngày 24 tháng 11 năm 2013), 67: AAS 105 (2013), 1048.

[4] X. Id., Thông điệp Lumen fidei (ngày 29 tháng 6 năm 2013), 47: AAS 105 (2013), 586-587; Tông huấn Evangelii gaudium, 93-94: AAS (2013), 1059; Diễn văn gởi các tham dự viên Công Nghị Lần Thứ Năm Của Giáo hội Ý (ngày 10 tháng 11 năm 2015), Florence: AAS 107 (2015), 1287.

[5] X. Id., Diễn văn gởi các tham dự viên Công Nghị Lần Thứ Năm Của Giáo hội Ý (ngày 10 tháng 11 năm 2015), Florence: AAS 107 (2015), 1288.

[6] X. Id., Tông huấn Evangelii gaudium, 94: AAS 105 (2013), 1059: “sự hấp dẫn của thuyết Ngộ đạo, một đức tin hoàn toàn chủ quan, chỉ bận tâm đến kinh nghiệm nào đó hoặc một tập hợp các ý tưởng và những mẩu kiến thức được cho là có khả năng an ủi và soi sáng, nhưng chung cuộc chỉ giam hãm con người trong những tư tưởng và tình cảm của riêng mình”; Hội đồng Giáo Hoàng về Văn Hoá-Hội đồng Giáo Hoàng về Đối Thoại Liên Tôn, Đức Giê-su Ki-tô Đấng mang nước hằng sống. Một suy tư Ki-tô giáo về trào lưu “Thời Đại Mới” (tháng 01 năm 2003), Thành phố Vatican, 2003.

[7] Đức Giáo hoàng Phan-xi-cô, Thông điệp Lumen fidei, 47: AAS 105 (2013), 586-587.

[8] X. Id., Diễn văn gởi các tham dự viên cuộc hành hương của Giáo phận Brescia (ngày 22 tháng 6 năm 2013): AAS 95 (2013), 627: “trong thế giới này, nơi người ta chối bỏ con người, nơi người ta thích đi theo đường lối của Ngộ đạo, [...] của “không thân xác” – một Thiên Chúa đã không mặc lấy xác phàm [...]”.

[9] Theo lạc thuyết Pê-la-gi-ô, được phát triển vào thế kỷ thứ năm quanh Pê-la-gi-ô, để chu toàn những giới luật của Thiên Chúa và để được cứu độ, con người chỉ cần đến ân sủng như một sự trợ giúp từ bên ngoài cho tự do của mình (như ánh sáng, sức mạnh chẳng hạn), chứ không như một sự chữa lành và tái tạo tận căn tự do, không cần công trạng đi trước, cho đến khi con người có thể làm điều thiện và đạt đến sự sống vĩnh cửu. Nổi lên vào thế kỷ thứ nhất và thứ hai, phong trào Ngộ đạo còn phức tạp hơn với những hình thức khác nhau. Cách chung, những người theo thuyết Ngộ đạo tin rằng ơn cứu độ đạt được nhờ một tri thức bí nhiệm hoặc sự Ngộ đạo. Sự Ngộ đạo này tỏ lộ cho người Ngộ đạo biết được bản thể đích thật của họ, nói cách khác, một tia sáng của Thần Khí Thiên Chúa cư ngụ ở nội tâm họ. Tia sáng này phải được giải thoát khỏi thân xác, vốn xa lạ với nhân tính chân thật của họ. Duy chỉ bằng cách này, người Ngộ đạo trở về với hữu thể nguyên tuyền của họ trong Thiên Chúa, Đấng họ đã lìa xa vì sự sa ngã nguyên thuỷ.

[10] X. Tô-ma A-qui-nô, Summa theologiae, I-II, q.2.

[11] X. Âu-tinh, Tự thuật, I, 1: Corpus Christianorum, 27, 1.

[12] Va-ti-ca-nô II, Hiến chế mục vụ về Giáo hội trong thế giới ngày nay Gaudium et spes, 22.

[13] Uỷ Ban Thần Học Quốc Tế, Những câu hỏi chọn lọc liên quan đến thần học về Thiên Chúa, Đấng Cứu Độ (1995), 2.

[14] Bê-nê-đic-tô XVI, Thông điệp Deus caritas est (25/12/2005), 1: AAS 98 (2006), 217; x. Phan-xi-cô, Tông huấn  Evangelii gaudium, 3AAS 105 (2013), 1020.

[15] I-rê-nê, Adversus haereses, III, 19,1: Sources Chrétiennes, 211, 374.

[16] Va-ti-ca-nô II, Hiến chế mục vụ về Giáo hội trong thế giới ngày nay Gaudium et spes, 22.

[17] X. Âu-tinhTractatus in Ioannem, 13,4: Corpus Christianorum, 36,132: “‘Thầy là đường là sự thật và là sự sống’ (Ga 14,6). Nếu bạn tìm kiếm sự thật ấy, hãy đi theo con đường ấy, vì con đường ấy cũng chính là sự thật ấy. Đích bạn nhắm và con đường bạn đi là một. Bạn không thể đến đích bằng việc đi con đường khác, bạn cũng không thể đến với Chúa Ki-tô qua một con con đường khác. Bạn chỉ có thể đến với Chúa Ki-tô qua Chúa Ki-tô. Đến với Chúa Ki-tô qua Chúa Ki-tô có nghĩa là gì? Bạn đến với Chúa Ki-tô là Thiên Chúa qua Chúa Ki-tô là con người. Qua Ngôi Lời làm người, bạn đến được với Ngôi Lời mà ngay từ khởi nguyên là Thiên Chúa và ở với Thiên Chúa.”

[18] Tô-ma A-qui-nô, Quaestio de veritate, q. 29, a. 5, co.

[19] LG, số 48.

[20] X. Tô-ma A-qui-nô, Summa theologiae, III, q. 63, a. 3.

[21] X. LG, số 11; SC, số 10.

[22] X. Laudato si’, số 155: AAS 107 (2015), 909-910.

[23] X. Tông thư Misericordia et misera (20-11-2016), 20: AAS 108 (2016), 1325-1326.

[24] Gio-an Phao-lô II, Thông điệp Redemptoris missio (7-12-1990), 40: AAS 83 (1991), 287-288; Phan-xi-cô, Tông huấn Evangelii gaudium, 9-13AAS 105 (2013), 1022-1025..

[25] Va-ti-ca-nô II, Gaudium et spes, 22.

 

CHÚA NHẬT 4 PHỤC SINH – Năm B

CHÚA NHẬT CHÚA CHIÊN LÀNH

Cầu cho ơn thiên triệu Linh mục và tu sĩ

Lời Chúa: Cv 4,8-12; 1Ga 3,1-2; Ga 10,11-18

MỤC LỤC

1. Mục tử nhân lành

Ở Trung Đông, người ta sống bằng nghề chăn nuôi, chủ yếu là chiên và cừu. Tổ phụ Abraham và con cháu ông đều có những đàn chiên, đàn cừu khổng lồ. Vua Đavid, khi còn là một cậu bé tóc hung, cũng đã đi chăn giữ đoàn chiên của cha cậu. Và cũng từ giữa đàn chiên, Thiên Chúa đã gọi Đavid và xức dầu cho cậu làm vua. Đối với dân Do thái, hai chữ mục tử còn được dùng để chỉ những vị lãnh đạo của dân Chúa.

Đức Kitô, Con Thiên Chúa xuống thế làm người giữa một dân tộc đã bao phen bị chiếm đóng, bị lưu đày. Và thời bấy giờ đang bị đế quốc Rôma đô hộ. Dân chúng bơ vơ như đàn chiên không người chăn. Ngài thường cứu chữa nhiều người mắc những chứng bệnh nan y như phong cùi, bại liệt, mù lòa…Những người này vốn đã bị liệt vào phường tội lỗi, phải sống tủi nhục bên lề xã hội. Chúa Giêsu rất thương xót họ. Ngài chữa họ lành, để họ được trở về với cuộc sống bình thường của xã hội, an vui với gia đình.

Đức Kitô không phải chỉ chữa lành phần xác, mà còn chữa lành cả phần hồn. Ngài vừa là mục tử, lại vừa là Thiên Chúa, nên Ngài thấu suốt mọi tâm hồn. Từ một Giakêu thu thuế, tham ô xảo trá, đã được Ngài thức tỉnh lương tâm bằng một cái nhìn trìu mến và đôi lời trao đổi chân tình. Ngài không sợ dư luận quần chúng, khi bênh vực một cô gái điếm và dám để cho Mađalêna lấy tóc mình mà lau chân Ngài, giữa một bữa tiệc tại nhà ông biệt phái. Đức Kitô biết rõ đây là những kẻ tội lỗi và chỉ có thể cứu chữa họ bằng tìnhyêu thương tha thứ.

Các thánh sử còn thuật lại nhiều chứng từ yêu thương khác nữa. Thề nhưng, chứng từ cao cả nhất của Chúa Giêsu, người mục tử nhân lành, chính là cái chết trên thập giá vì yêu thương chúng ta. Thực vậy, với tư cách người mục tử nhân lành, Chúa Giêsu đã chấp nhận cái chết ê chề và tủi nhục trên thập giá, để tỏ tình liên đới với đàn chiên khổ đau, và nhất là để cứu tất cả những con chiên còn đang lầm đường lạc lối.

Hẳn chúng ta còn nhớ câu chuyện về cha thánh Đamiêng, vị tông đồ người hủi. Ngài là một linh mục đạo đức, thánh thiện và nhiệt thánh. Ngài đã từ bỏ mọi sự, để lại sau lưng tất cả, dấn bước tới hải đảo Molokai, một hải đảo xa côi và hẻo lánh, một hải đảo biệt lập và được dành riêng cho những người mắc phong cùi. Ngài đã đến với họ, đã sồng giữa họ, đã chăm sóc và giúp đỡ họ, những người bất hạnh bị xã hội khai trừ. Cuối cùng chính ngài cũng đã mắc phải chứng bệnh này và đã chết ở giữa họ.

Chúa Giêsu vị mục tử nhân lành cũng đã đến với chúng ta, sống giữa chúng ta, đã chăm sóc và giúp đỡ chúng ta. Tất cả chúng ta đều được Ngài yêu thương, bởi vì tất cả chúng ta đều là con cái Chúa Cha, tất cả chúng ta đều là em của Ngài. Tất cả chúng ta đều là con chiên trong đàn chiên mà Ngài là vị mục tử nhân lành. Đồng thời, Ngài còn muốn tất cả chúng ta cũng lãnh nhận và chia sẽ trách nhiệm mục tử với Ngài. Có nghĩa là mỗi người chúng ta trong phạm vi và khả năng của mình, cố gắng chăm sóc, yêu thương, giúp đỡ và phục vụ anh em, góp phần xây dựng một thế giới công bình và hạnh phúc, đề rồi chỉ còn một đàn chiên và một chủ chiên.

2. Chúa Chiên Lành

Từ ông Abraham cho tới vua Đavid, biết bao tổ phụ của dân Do Thái đã từng là những người chăn chiên. Họ không được huấn luyện trong những trường hành chánh hay trường đào tạo cán bộ, cũng chẳng được qua những lớp bổ túc văn hoá, nhưng chỉ được học từ kinh nghiệm duy nhất của nghề chăn chiên để có thể đứng ra lãnh đạo dân tộc. Hơn thế nữa, chính quan niệm của họ về Thiên Chúa cũng đã từng dựa trên kinh nghiệm đó, cho nên họ gọi Thiên Chúa là mục tử và tự coi mình là đàn chiên của Ngài.

Chúa Giêsu làm người, sinh trưởng trong môi trường xã hội Do Thái, cũng đã thừa hưởng một nền văn hoá và một quan niệm tôn giáo Do Thái, nên cũng đã sử dụng ngôn ngữ, hình ảnh cùng những khái niệm Do Thái, để công bố cho họ thông điệp cứu độ của Thiên Chúa. Nếu từ thời các tiên tri, dân Do Thái vẫn mong chờ ngày Thiên Chúa đích thân đến chăn dắt họ như mục tử chăn dắt đoàn chiên, thì ngày hôm nay, Chúa Giêsu đã xác quyết với họ rằng: Ngài là vị mục tử. Điều đó có nghĩa là Ngài tỏ lộ cho họ biết Ngài chính là hiện thân của Thiên Chúa.

Tuy nhiên Ngài còn đi xa hơn nữa. Đúng thế, Ngài đến không phải chỉ để chăn dắt đoàn chiên, mà còn hiến mạng sống mình vì đoàn chiên. Đây là điều vượt ra ngoài sự tưởng tượng của chúng ta. Bởi vì ngoài mầu nhiệm Thiên Chúa làm người, chúng ta khó có thể nghĩ tới chuyện Thiên Chúa chịu chết. Thực vậy, tự bản tính Thiên Chúa là Đấng vĩnh cửu, Đấng trường tồn bất biến, nơi Ngài chỉ có sự sống mà thôi, thế nhưng vì yêu thương chúng ta, Ngài đã chấp nhận cái chết ê chề nhục nhã trên thập giá để giải thoát chúng ta khỏi án phạt đời đời của tội lỗi và sự chết.

Cùng với Đức Kitô, thì đoàn chiên của Ngài không còn bị giới hạn trong phạm vi dân Do Thái, mà đã mở rộng cho toàn thể nhân loại, như lời Ngài đã nói: Thiên Chúa đã yêu thương thế gian đến nỗi đã ban Con Một Người để tất cả những ai tin vào Người Con ấy thì sẽ không phải chết, nhưng được sống đời đời. Như thế là đã rõ: Chúa Giêsu đã đến trần gian, đã sống, đã yêu thương và đã chết, không phải chỉ cho dân tộc Do Thái mà thôi, nhưng còn cho toàn thể loài người.

Tình yêu thương không chỉ thôi thúc Chúa Giêsu đi tìm cứu những con chiên lạc, cũng không dừng lại ở việc hy sinh mạng sống để cứu chuộc đoàn chiên, mà còn chủ yếu là quy tụ những con chiên đã được tìm thấy, đã được cứu chuộc, để chúng làm thành một đoàn chiên, quây quần chung quanh một vị mục tử duy nhất, để rồi dưới sự chăn dắt của Ngài, chúng sẽ được sống trong tình yêu thương, hợp nhất và bình an.

3. Nghe-Biết-Theo – Lm Trịnh Ngọc Danh

Những dấu hiệu để nhận ra người thân quen là gương mặt và giọng nói.

Tuy cách nhau, nhưng nhớ đến ai, ta vẫn hình dung ra được gương mặt người ấy; nghe giọng nói qua diện thoại, ta nhận ra ngay người thân quen của ta là ai.

Chính Chúa Giêsu đã xác nhận: “Các chiên Ta thì nghe tiếng Ta, Ta biết chúng và chúng theo Ta” (Ga. 10,27), hay “Ta biết các chiên Ta và các chiên Ta biết Ta” (Ga. 10,14).

Động từ “biết” trong Kinh Thánh có một ý nghiã đặc thù diễn tả tình yêu thương kết hợp nơi thân xác của vợ chồng để cả hai trở nên một như Chúa Cha biết Chúa Con và Chúa Con biết Chúa Cha. Khi nghe Thiên Thần báo tin: “Này Trinh nữ sẽ thụ thai, sinh hạ một con trai và đặt tên là Giêsu…”, Trinh nữ Maria đã trả lời: “Việc đó xảy đến thế nào được, vì tôi không biết đến người nam?”

Như thế “biết” là không chỉ có ý nghiã thuần túy thuộc phạm trù nhận thức mà còn bao gồm cả về phương diện tình cảm. Biết là thân thương, trìu mến, gắn bó, kết hợp.

Ta biết các chiên Ta

Chúa Giêsu đã tự xác nhận mình là Mục Tử. Ngài là chủ đàn chiên chứ không phải người chăn thuê và là một Mục Tử Nhân Lành. Khác với chủ chăn đích thực, người chăn thuê, vì đàn chiên không thuộc về anh ta, anh ta không thiết gì đến đàn chiên, nên khi thấy sói đến, anh ta bỏ chiên mà chạy, mặc cho sói vồ lấy chiên và làm cho chúng chạy tán loạn.

Người Chăn Chiên Nhân Lành ấy biết đàn chiên của mình là con cái cùng một Cha, cùng chung một mái nhà, là anh em, là bạn hữu chứ không phải là tôi tớ…, biết từng con chiên một, biết đàn chiên yếu đuối hay sa ngã, biết chúng đang phải sống một kiếp sống hủy diệt vì tội lỗi, biết chiên đang khát vọng tìm một đồng cỏ xanh tươi, một dòng suối mát cho cuộc sống để nghỉ ngơi…

Vì yêu thương đàn chiên, muốn giải cứu chúng khỏi kiếp sống diệt vong ấy để được sống hạnh phúc viên mãn nơi Nhà Cha trên trời, người Mục Tử Nhân Lành ấy đã xuống thế mang thân phận thấp hèn của con chiên, đã hy sinh mạng sống vì đàn chiên để từ sự phục sinh của người Mục tử Nhân Lành ấy, đàn chiên được sống trong an bình và hy vọng.

Chúa Giêsu chịu chết và phục sinh, Mục Tử Nhân Lành đã trở nên nguồn ơn cứu độ cho toàn thể nhân loại, cho từng con người. Ngài muốn chăn dắt, gìn giữ, nuôi sống từng con chiên một trong đàn chiên. Mục Tử Nhân lành biết các chiên của mình là như thế đó! Và dung mạo của Chủ Chăn ấy là nhân lành , yêu thương, biết các chiên, hy sinh mạng sống vì đàn chiên và bảo vệ đàn chiên là như thế đó!

Là con chiên thuộc đàn chiên của Mục Tử Nhân Lành, ta đã biết chủ chăn, nghe tiếng Đấng ấy như thế nào? đã cảm nhận được sự hy sinh, bảo vệ, chăm sóc qua cái “ biết” của Mục Tử ấy chưa?

và các chiên Ta biết Ta, chúng nghe tiếng Ta

Nhờ dấu hiệu nào giúp chúng ta “ biết” Chủ Chăn?

Qua Kinh Thánh và nhất là qua Tin Mừng và phép Thánh Thể, ta biết Ngài, nghe tiếng Ngài kêu gọi. Ngài là Đấng Phục Sinh, nghĩa là Đấng Hằng Sống. Ta sẽ biết rõ Ngài hơn, nhiều hơn, thân mật hơn, nếu ta sống và đi vào cuộc sống với, sống cùng các chiên khác.

Chúng ta đọc Kinh Thánh để nhận biết Người Chăn Chiên, để nghe tiếng Đấng ấy kêu gọi, nhưng ta nhận biết và nghe được tiếng gọi ấy bằng cách nào? Bằng phân tích, lý luận hay bằng tình cảm tin yêu?

Ba người ngồi trao đổi với nhau về bản dịch Kinh Thánh.

Ông thứ nhất nói:

- Tôi thích bản dịch A. Nó sáng sủa hơn những bản dịch trước. Bản dịch này đọc dễ hiểu hơn.

Ông thứ hai nhận định:

- Tôi thì thích bản dịch B hơn. Bản dịch vừa rõ ràng lại vừa văn chương, rất thích hợp cho chúng ta cầu nguyện.

Ông cuối cùng nhỏ nhẹ nói:

- Phần tôi, tôi thích bản dịch của mẹ tôi nhất. Mẹ tôi dịch Thánh Kinh ra thực thế, làm cho Thánh Kinh dễ dàng áp dụng vào đời sống hằng ngày.

Mỗi ngày, có thể ta sẽ viết thêm một trang mới vào cuốn sách Tin Mừng sống của thời đại bằng chính những việc ta làm, bằng những lời ta nói.

Nếu những lời nói và hành động của ta không phản ảnh được những giá trị của Tin Mừng, thì những lời nói và hành động ấy cũng chẳng nói lên được gì cả.

Nói đến đây, có lẽ cũng là dịp để ta nhớ lại dụ ngôn người gieo giống.

Sống và thực hành lời Chủ Chăn kêu gọi: hãy sám hối và tin vào Tin Mừng, nhiệt thành tham dự Thánh Lễ để từ đó sống kết hợp với Ngài là ta biết và nghe tiếng Mục Tử Nhân Lành kêu gọi.

Bổn phận của con chiên là biết nghe tiếng của chủ chăn. Chỉ có một tiếng thôi, không có tiếng nào khác để chiên nghe theo mà được yên ổn, an vui, sống hạnh phúc ngoài tiếng Giêsu.

Nhưng chỉ có thế thôi thì chưa đủ, chưa trọn vẹn bổn phận mà còn phảibước theo sự dìu dắt của Mục Tử nhân lành.

và chúng theo Ta” (Ga. 10, 27)

Đã biết Chủ Chăn, và đã phân biệt được tiếng gọi của Ngài với tiếng gọi của người chăn chiên thuê, ta phải mau mắn, tin tưởng đi theo. Đi theo để được chăm sóc , được bảo vệ khỏi mọi hiểm nguy trong bất cứ hòan cảnh nào.

Không như người chăn thuê, khi thấy sói rừng đến thì bỏ mặc đàn chiên mà chạy thoát thân; trái lại, Mục Tử Nhân Lành của ta sẵn sàng thí mạng sống mình vì đàn chiên. Đi theo và tin tưởng phó thác vào sự bao bọc chở che của Chủ Chăn đã lấy mạng sống Ngài để bảo vệ, cứu thoát ta khỏi tội lỗi và cái chết hủy diệt để đưa ta vào sự sống Phục sinh vĩnh cửu như tác giả Thánh vịnh 22 đã cảm nghiệm:

Chúa là mục tử chăn dắt tôi, tôi chẳng thiếu thốn gì.

Trong đồng cỏ xanh tươi, Ngài cho tôi nằm nghỉ.

Ngài đưa tôi tới dòng nước trong lành và bổ sức cho tôi.

Ngài dẫn tôi trên đường ngay nẻo chính, vì danh dự của Ngài.

Lạy Chúa, dầu qua thung lũng tối tăm,

con sợ gì nguy khốn, vì có Chúa ở cùng.

Côn trượng Ngài bảo vệ, con vững dạ an tâm…

Thế nhưng, ta có sẵn sàng chịu nghe tiếng của Chủ Chăn để tìm về với Ngài mỗi khi đi lạc đường, có sẵn sàng đi theo Ngài để cho Ngài bảo vệ, chăm sóc hay lại tìm cách tách rời đàn chiên để đi tìm những bãi cỏ tiền tài, danh vọng, bãi cỏ ý riêng…thay vì gặm cỏ xanh tươi, uống nước dòng suối mát nơi đồng Tin Mừng và Thánh Thể!

Phải coi chừng chủ chăn giả hay người chăn thuê, vì đàn chiên không thuộc về ngưới ấy, nên họ thiếu trách nhiệm với đàn chiên, ích kỷ sợ nguy hại đến bản thân mình hơn đến số phận của đàn chiên..

Ngược lại, Mục Tử nhân lành là người yêu thương, bảo vệ, chăm sóc đàn chiên, biết từng con chiên một.

Tiêu chuẩn cuối cùng để phân biệt chủ chăn đích thực và ngươì chăn chiên thuê là thí mạng sống vì đàn chiên. Chỉ có Mục Tử Nhân Lành Giêsu là Đấng đã làm như thế cho đàn chiên của mình.

Là chiên trong đàn chiên của Chúa, có ba điều ta cần phải suy xét và thực hành trong cuộc sống của mình là:

Chiên Ta nghe tiếng Ta, chúng biết Ta và chúng theo Ta. Sống và thực hành ba điều đó không phải chỉ để mưu tìm hạnh phúc cho riêng mình mà còn phải cùng Mục Tử nhân Lành thực hiện một sứ vụ khác, một nỗi trăn trở khác là:“Ta còn những chiên khác không thuộc đàn này, cả những chiên đó ta cũng phải mang về đàn, chúng sẽ nghe tiếng ta. Và sẽ chỉ có một đàn chiên và một chủ chiên”

Khi gặm cỏ, gặp những chiên khác chưa thuộc đàn chiên của Chủ Chăn Giêsu, chúng ta có thái độ nào? Đố kỵ hay thân thiện, nhường nhịn chia sẻ hay ganh ghét tranh phần, yêu thương hay thù hận, tiếp đón giúp đỡ hay làm ngơ bỏ mặc, cộng tác hay dửng dưng, đối thoại hay khép kín?

Ghen ghét, đố kỵ, phân cách, tự mãn, tự kiêu, ích kỷ... có giúp gì được cho mong ước quy tụ những chiên khác chưa thuộc về đàn chiên của Mục Tử Giêsu thành một đàn chiên duy nhất và chỉ một chủ chiên mà thôi không?

4. Chân dung mục tử Giêsu – Lm Ignatiô Trần Ngà

Hình ảnh mục tử sống giữa đàn chiên là hình ảnh rất thân quen đối với dân Do Thái ngày xưa chuyên sống đời du mục. Hình ảnh nầy được Thánh Kinh Cựu Ước sử dụng nhiều lần để diễn tả tình yêu của Thiên Chúa dành cho dân Người.

Qua Tin Mừng hôm nay, Chúa Giêsu dùng lại hình ảnh nầy như một biểu tượng cao đẹp để diễn tả tình thương cao vời Người dành cho nhân loại với những nét lớn sau đây:

1. Mục tử Giêsu sống hoà mình thân mật với đoàn chiên.

Thiên Chúa Ngôi Hai là Đấng quyền năng cao cả, còn loài người chỉ là tạo vật thấp hèn. Cách biệt giữa đôi bên thật là quá lớn.

Thế nhưng Ngôi Hai Thiên Chúa đã vượt qua mọi cách biệt để sống hoà đồng với con người. Người không muốn duy trì quan hệ đẳng cấp kiểu vua-tôi, chủ-tớ với con người nhưng muốn sống hài hoà thân mật với hết thảy chúng ta.

Qua biểu tượng mục tử với đàn chiên, Chúa Giêsu tỏ cho thấy Người vui sống chan hoà với mọi người và tương quan giữa đôi bên hết sức thân mật không còn khoảng cách.

Người đã từng hoà mình với dòng người tội lỗi chờ được thanh tẩy bên bờ sông Gio-đan (Mát-thêu 3, 13-16). Người cùng ăn uống đồng bàn và trọ nhà những người tội lỗi. (Lc 19,7). Người nâng li rượu chúc mừng đôi tân hôn trong tiệc cưới Ca-na (Ga 2, 1-11). Người khóc thương La-da-rô bạc mệnh (Ga 11,35). Người cứu chữa kẻ bệnh tật, vui đùa với các trẻ thơ… Nói tóm lại, tất cả mọi người đều có chỗ đứng đặc biệt trong trái tim Mục tử Giêsu.

2. Mục tử Giêsu cho chiên được sống dồi dào.

Thánh vịnh 23 phác hoạ chân dung Chúa Giêsu như Vị Mục Tử nhân lành tận tình nuôi dưỡng đoàn chiên cách chu đáo, chẳng để chiên phải thiếu thốn điều gì.

“Chúa là Mục Tử chăn dắt tôi, tôi chẳng thiếu thốn gì.

Trong đồng cỏ xanh tươi, Người cho tôi nằm nghỉ.

Người đưa tôi tới dòng nước trong lành và bổ sức cho tôi” (Tv 23, 1-3)

Các mục tử trên đời nầy nuôi chiên nhằm khai thác chiên: xén lông, xẻ thịt hoặc bán chiên lấy tiền, còn Mục Tử Giêsu thay vì khai thác trục lợi đoàn chiên thì lại hiến thân mình làm lương thực để chiên được dồi dào sức sống: “Phần tôi, tôi đến để cho chiên tôi được sống và sống dồi dào” (Gioan 10, 10)

Người chấp nhận trao ban chính mình làm lương thực nuôi sống đoàn chiên đang lầm than đói khát: “Chính tôi là bánh trường sinh. Ai đến với tôi, không hề phải đói; ai tin vào tôi, chẳng khát bao giờ!” (Gioan 6, 35),

3. Mục tử Giêsu chăm sóc từng con chiên một, không bỏ rơi bất cứ con chiên nào.

Lời tiên báo của ngôn sứ Ê-dê-ki-en đã được ứng nghiệm từng chữ nơi Mục tử Giêsu: “Chính Ta sẽ chăn dắt chiên của Ta. Chính Ta sẽ cho chúng nằm nghỉ. Con nào bị mất, Ta sẽ đi tìm; con nào đi lạc, Ta sẽ đưa về; con nào bị thương, Ta sẽ băng bó; con nào bệnh tật, Ta sẽ làm cho mạnh” (Edekien 34, 15-16)

Qua dụ ngôn mục tử bỏ 99 con chiên nơi hoang địa để đi tìm con chiên lạc, Chúa Giêsu tỏ cho thấy Người chăm sóc chi li từng người một, không muốn bất kỳ một ai phải hư vong. (Luca 15, 4-7)

4. Mục Tử Giêsu hiến thân mình cho chiên được sống.

Khác xa người chăn thuê cao chạy xa bay khi thấy đàn sói hung tàn xông tới vồ xé bầy chiên, Mục tử Giêsu chấp nhận hy sinh mạng sống mình để bảo vệ đến cùng: “Tôi chính là Mục Tử nhân lành. Mục Tử nhân lành hy sinh mạng sống mình cho đoàn chiên. Người làm thuê, vì không phải là mục tử, và vì chiên không thuộc về anh, nên khi thấy sói đến, anh bỏ chiên mà chạy. Sói vồ lấy chiên và làm cho chiên tán loạn, vì anh ta là kẻ làm thuê, và không thiết gì đến chiên. Tôi chính là Mục Tử nhân lành... tôi hy sinh mạng sống mình cho đoàn chiên.” (Gioan 10, 11-15)

Lạy Chúa Giêsu, Chúa là Mục tử có một không hai trên đời: Chúa sống hoà mình thân mật với chiên, nuôi chiên sống dồi dào, chăm lo cho từng con một, không bỏ rơi bất cứ con nào và thậm chí sẵn sàng hy sinh mạng sống để bảo vệ đoàn chiên.

Xin cho gương sống tuyệt vời nầy sẽ mãi mãi là lời mời gọi và là động cơ thúc đẩy chúng con trở nên mục tử nhân lành như Chúa.

Xin thương giúp cho các bậc cha mẹ trở thành mục tử tốt trong gia đình, các linh mục trở thành mục tử nhân lành trong giáo xứ, Thầy Cô trở thành mục tử cao quý ở trường học… để mỗi người chúng con tuỳ theo chức phận mình, biết tận tình nuôi dưỡng, chăm sóc, bảo vệ đoàn chiên Chúa trao cho chúng con theo gương người Mục Tử nhân lành là chính Chúa. Amen.

5. Tình người mục tử – Lm. Giuse Tạ Duy Tuyền

Có một thai nhi sắp được chào đời. Nó mới hỏi Thượng đế rằng: “Thưa Ngài, có phải ngày mai Ngài sẽ đưa con vào đời không?

Thượng đế trả lời: Đúng đó con ạ!

Đứa bé đáp: Nhưng làm sao con sống nổi ở đó khi mà con quá nhỏ bé và bất lực như thế này?”.

Thượng đế đáp: “Hãy yên tâm, trong số những thiên thần, ta đã chọn cho con một người. Thiên thần của con sẽ ở bên con và chăm sóc con chu đáo”.

Đứa bé lại hỏi: “Và làm sao con có thể hiểu được khi họ nói chuyện với con bằng ngôn ngữ mà con chưa hề biết đến?”

Thượng đế trả lời: “Thiên thần của con sẽ nói với con bằng những lời ngọt ngào và đẹp đẽ nhất mà con chưa từng được nghe, đồng thời với sự nhẫn nại và cẩn trọng, thiên thần của con sẽ dậy con biết nói những điều hay lẽ phải”.

- Con nghe nói chốn trần gian lắm kẻ xấu xa. Vậy, ai sẽ bảo vệ con?

- Thiên thần của con sẽ hộ trì con ngay cả khi điều đó đe dọa đến tính mạng của mình.

- Nhưng con sẽ rất buồn vì không còn được thấy ngài nữa.

- Thiên thần của con sẽ luôn nói với con về Ta, và dạy con cách thức quay về với Ta mỗi khi lạc lối.

- Vậy thưa Ngài, nếu con phải đi ngay bây giờ, xin hãy cho con biết tên thiên thần hộ mạng của con là gì?

- Tên của người không quan trọng, con chỉ giản đơn gọi người là Mẹ.

Nếu người mẹ cần thiết cho con cái thế nào, thì người mục tử cũng cần thiết cho đàn chiên như vậy. Lời Chúa hôm nay cho chúng ta thấy chân dung của người mục tử tốt lành. Người mục từ luôn sống vì lợi ích đàn chiên, luôn sống cho và vì đàn chiên. Người mục tử gắn liền đời mình với đàn chiên tựa như người mẹ gắn liền với định mệnh đời con. Người mẹ được Thiên Chúa sắp đặt để bảo vệ đứa con, chăm sóc đứa con, dậy dỗ và gìn giữ đứa con khỏi những nguy hiểm trong suốt hành trình cuộc đời. Không có mẹ đứa con sẽ không lớn nổi thành người. Đàn chiên cũng không thể có đồng cỏ xanh tươi, có suối mát ngọt ngào nếu không được người mục tử miệt mài tìm kiếm cho đàn chiên. Đàn chiên sẽ không thể sống an toàn khỏi cạm bãy, khỏi thú dữ rình chờ, nếu không có chủ chiên canh phòng với đầy đủ trách nhiệm và đầy yêu thương.

Chúa Giêsu sánh ví tình thương của mình như tình thương của người mục tử dành cho đàn chiên. Ngài yêu thương con người nên đã mang lấy thân phận con người để cùng đồng hành với con người. Ngài đã cùng chia vui sẻ buồn với con người qua những thăng trầm của cuộc sống. Ngài đã sống một cuộc đời yêu thương và phục vụ như một người đầy tớ phục vụ chủ nhân. Ngài đã đi đến tận cùng của tình yêu là chết cho đàn chiên được sống. Ngài còn hiến mình thành lương thực nuôi dưỡng đàn chiên qua bàn tiệc Thánh Thể mỗi ngày. Ngài chính là vị mục tử mà bài đáp ca đã ca ngợi rằng: Chúa là mục tử chăn dắt tôi, tôi chẳng thiếu thốn gì. Trong đồng cỏ xanh tuơi, Người cho tôi nằm nghỉ. Người đưa tôi tới dòng nước trong lành và bổ sức cho tôi. Người dẫn tôi trên đường ngay nẻo chính. Lạy Chúa, dầu qua thung lũng âm u con sợ gì nguy khốn, vì có chúa ở cùng con”.

Hình ảnh người mục tử còn là hình ảnh của những người cha, người mẹ đang ngày đêm lo lắng bảo vệ con con cái. Các ngài đã hy sinh cuộc đời vì hạnh phúc các con. Các ngài đã trải qua những mưa nắng khắc nghiệt của dòng đời để mang lại cơm no áo ấm cho đàn con. Các ngài đã chấp nhận chịu tiêu hao như hạt lúa chịu mục nát đời mình cho con cái lớn khôn.

Hôm nay lễ Chúa chiên lành, chúng ta hãy dâng lời cảm tạ Thiên Chúa đã ban cho Giáo hội luôn có những mục tử hết lòng vì đàn chiên. Cảm tạ Chúa đã ban cho chúng ta có cha, có mẹ luôn hết mình hy sinh cho chúng ta. Cám tạ Chúa đã thương chăm sóc, chở che và gìn giữ cuộc đời chúng ta bằng muôn nghìn cách. Cám ơn Chúa vẫn nuôi dưỡng chúng ta trên đồng cỏ xanh tươi là bàn tiệc Thánh thể, nhờ đó mà ta được no thoả ân tình của Chúa. Ước gì mỗi người chúng ta biết siêng năng đến với bàn tiệc Thánh Thể. Xin đừng bao giờ để tâm hồn mình bị chết đói, chết khát ngay bên nguồn nước trong lành với đồng cỏ xanh tươi là Bàn tiệc Thánh Thể mà Chúa Giêsu với tình mục tử đã dọn sẵn cho chúng ta. Amen.

6. Đóa hoa yêu thương

(Suy niệm của Lm. Jos Tạ Duy Tuyền)

Cuộc sống cho ta những cái đẹp để mang lại niềm vui hạnh phúc cho ta. Cái đẹp của thiên nhiên cho ta thư thái bình an. Cái đẹp của tình người cho ta niềm vui hạnh phúc. Cái đẹp của tâm hồn cho ta tin tưởng lạc quan. Một trong những cái đẹp để lại cho ta những ấn tượng nhất không hẳn là cái đẹp hoàn mỹ, sắc xảo của thể xác mà là cái đẹp của những nghĩa cử hy sinh đầy ắp tình người. Hy sinh càng nhiều thì nghĩa cử càng cao đẹp bấy nhiêu.

Cư dân mạng vừa qua có dịp trầm trồ về tình yêu lứa đôi. Tại làng Liangwang thuộc Tế Nam, Sơn Đông, Trung Quốc, có một câu chuyện tình yêu khiến nhiều người không khỏi rung động. Sun Guofang, một người vợ chưa cưới đã dũng cảm hiến tặng một bên thận của mình để cứu sống người yêu bị nhiễm độc đường niệu cần cấy ghép. Cô nói rằng: "Đây là món quà giá trị nhất tôi có thể mang lại cho anh ấy trong ngày Valentine”.

Đây là một tình yêu đẹp. Đẹp như một đóa hoa mà ai đó nói rằng:

Sắc là dâng hiến

Hương là hy sinh

Thiên Chúa đã yêu thương con người bằng một tình yêu cao đẹp hơn thế! Ngài yêu thương không phải dành tặng cho con người một quả thận, một đôi tay, một đôi mắt... ; Ngài dành tặng cho con người cả mạng sống hiến thân vì anh em. Tình yêu của Ngài là tình yêu dâng hiến đến hy sinh cả tính mạng cho con người. Tình yêu của Ngài rực rỡ như một sắc hoa và tỏa lan hương thơm nhờ hy sinh đến quên cả chình mình.

Tình yêu ấy hôm nay Ngài ví tựa như tình yêu của người mục tử dành cho đàn chiên. Một tình yêu vượt lên trên trách nhiệm để có thể lo cho đàn chiên. Thức ăn nước uống và nhất là canh thức để bảo vệ đàn chiên khỏi hiểm nguy của thú rừng luôn rình chờ. Thiên Chúa yêu con người. Tình yêu của Ngài luôn mang con người trong trái tim đến nỗi biết từng con chiên, lo lắng cho từng con chiên, chăm sóc cho từng con chiên. Ngài biết từng nỗi khổ của con người vì từng “sợi tóc trên đầu rơi xuống Ngài cũng biết”. Cái biết của Ngài là cái biết thông cảm, thương xót. Cái biết kèm theo sự dấn thân để xoa dịu nổi khổ của con người.

Xin cho chúng ta biết nhận ra tình yêu của Thiên Chúa luôn ban tặng cho thế gian. Tình yêu của Ngài vẫn đong đầy trên cuộc đời chúng ta. Một tình yêu quan phòng, chở che, nâng đỡ chúng ta. Xin cho chúng ta cũng biết đền đáp tình yêu ấy bằng cả một đời họa lại chân dung đầy yêu thương của Chúa cho anh em. Nhất là nơi gia đình chúng ta, nơi mà ai cũng từng được yêu thương và cũng cần thể hiện tình yêu thương. Tình yêu nơi vợ chồng luôn hy sinh dâng hiến cho nhau. Tình yêu nơi cha mẹ luôn tận tụy cho con cái. Tình yêu nơi con cái luôn sống hiếu thảo với mẹ cha... Mỗi một tình yêu dâng hiến nơi gia đình là một đóa hoa đang trang trí cho gia đình thêm rạng rỡ và thơm hương. Ước gì mỗi người chúng ta luôn là một đóa hoa yêu thương dâng tặng gia đình như tình yêu của Thiên Chúa hiến dâng vì chúng ta. Amen.

7. Chúa Nhật Chúa Chiên Lành

(Suy niệm của Lm. Giuse Vũ Tiến Tặng)

Chúa Nhật thứ 4 Phục Sinh còn được gọi là Chúa Nhật Chúa Chiên Lành. Chính Đức Kitô là Vị Mục Tử nhân lành đã hiến mạng sống mình vì đàn chiên (Ga10,11). Ngài đến trong thế gian với sứ mệnh quy tụ tất cả các con chiên về một mối: ngõ hầu chỉ có một Chủ chiên duy nhất và một đàn chiên duy nhất.

Qua thánh Phêrô Tông Đồ, Chúa Giêsu Phục Sinh đã trao phó nhiệm vụ chăn dắt đàn chiên của Người cho Giáo Hội (xem Ga 21,15-17). Theo gương Chúa Kitô Mục Tử, Giáo Hội không ngừng dấn thân trong việc chăm sóc đàn chiên. Vào mọi nơi mọi thời, không thiếu những tấm gương của những vị mục tử trong Giáo Hội đã cống hiến trọn vẹn cuộc đời của mình để sống chết vì đàn chiên.

Ý thức được trách nhiệm cao cả của mình, Giáo Hội luôn luôn kêu mời các bạn trẻ nam nữ đáp lại lời mời gọi của Vị Mục Tử nhân lành biết quảng đại dấn thân trên con đường tận hiến để phục vụ Giáo Hội của Chúa Kitô và tha nhân. Vì vậy, Giáo Hội dành riêng Chúa Nhật thứ tư Phục Sinh hàng năm để cầu nguyện cho ơn gọi thánh hiến nói chung và ơn gọi linh mục nói riêng.

Việc Chúa chọn gọi luôn đồng nghĩa với việc Chúa trao phó một sứ mạng đi kèm. Ngay từ khi bắt đầu cuộc sống công khai, Chúa Giêsu đã gọi các môn đệ để các ông đến ở với Người và được Người sai đi rao giảng (xem Mc 2,14). Được Chúa gọi luôn là một màu nhiệm vượt qua sự so đo tính toán của con người. Chúa gọi ai đó cộng tác với Người không phải vì họ tài giỏi. Người đã chọn các Tông Đồ vốn là những kẻ chài lưới tầm thường và ít học. Nơi họ vẫn còn mang nặng tính vụ lợi hơn thiệt (xem Mt 19,27), tranh cãi về địa vị thứ bậc (xem Mc 9,34), ham hố danh vọng (xem Mt 20,21), và thậm chí cũng có cả tội bất trung như Phêrô chối Chúa (xem Mc 14,71). Việc chọn và gọi luôn là sáng kiếng riêng của Chúa và cũng là cách thức để Chúa chia sẻ sứ mạng của Ngài với những người được yêu mến và được tuyển chọn.

Việc Chúa trao phó sứ mệnh cho ai đó luôn đi kèm theo lời hứa và phương tiện để thi hành (xem Mt 28, 19-20). Các Tông Đồ đã được Chúa Giêsu hứa sai phái Thánh Thần đến để thánh hóa, dạy dỗ, ban sức mạnh cũng như ơn khôn ngoan hiểu biết (xem Ga 16,13).

Điều này đã được kiểm chứng nơi bài đọc thứ nhất. Tác giả sách Công Vụ Tông Đồ thuật lại việc thánh Phêrô và Gioan bị điệu ra trước Thượng Hội Đồng. Hai ông bị kết án với tội danh vì đã chữa lành cho một người què từ khi lọt lòng mẹ ngay tại cửa Đền Thờ và vì đã lôi kéo được chừng năm ngàn người tin vào lời rao giảng của các ông. Chính nhờ tác động của Chúa Thánh Thần mà một Phêrô khiếp đảm ẩn mình trong gian phòng cửa đóng then cài thành một Phêrô can đảm xuất hiện trước dân chúng. Cũng nhờ Chúa Thánh Thần, từ một anh chàng chài lưới quê mùa năm xưa, Phêrô đã trở nên người người giảng giải hết sức lưu loát thu hút được rất nhiều người theo đạo. Chúa Thánh Thần cũng biến đổi một Phêrô chối Thầy thành một

Phêrô dõng dạc làm chứng về Đức Kitô bị đóng đinh và nay đã phục sinh để trở nên nguồn ơn cứu độ duy nhất cho nhân loại.

Thật kỳ diệu. Chúa Thánh Thần đã hoán chuyển vị trí của một Phêrô bị cáo trong phiên tòa người đời thành một Phêrô thẩm phán để vạch tội giết Đấng Công Chính của họ, để kêu gọi họ sám hối và đặt niềm tin vào Đấng mà chính họ đã đóng đinh vào thập giá.

Khi lãnh nhận bí tích Rửa Tội, chúng ta được sát nhập vào thân thể của Chúa Kitô Phục Sinh. Chúng ta được sinh ra trong Thánh Thần để tham gia vào sứ mệnh và các chức năng ngôn sứ, tư tế và vương đế của Chúa Kitô. Trung tâm điểm của đời sống Kitô hữu là được mời gọi để trở nên những chứng nhân cho một Đức Kitô đã bị kết án, bị đóng đinh trên thập giá, đã chết một cách bi thảm và đã Phục Sinh vinh hiển.

Lạy Chúa Thánh Thần xin hãy ngự đến để sửa lại mọi sự trong ngoài chúng con. Xin soi lòng mở trí chúng con để ánh sáng Phục Sinh xua tan mọi u mê tăm tối. Xin hãy canh tân bộ mặt trái đất. Lạy Ngôi Ba Thiên Chúa xin hãy ngự đến vì chúng con đang mong chờ Ngài.

8. Chúa chiên lành – Anmai, CSsR

Hình ảnh của những người Pharisêu quá quen thuộc với mỗi người chúng ta. Chúa Giêsu vẫn thường lên án, chỉ trích thái độ của người Pharisiêu. Lẽ ra, người Pharisiêu có nhiệm vụ hướng dẫn anh mù nhưng họ lại khai trừ anh. Đức Giêsu khác những người Pharisiêu, Đức Giêsu đã hướng dẫn anh mù. Những người Pharisiêu chỉ là những người chăn thuê còn chính Đức Giêsu mới là mục tử gương mẫu. Người mục tử gương mẫu như Chúa Giêsu ấy đã giữ gìn cho chiên khỏi chết và hiệp nhất các chiên lại. Đặc tính của Chúa Giêsu là làm cho chiên được sống và được sống dồi dào và gìn giữ cho đoàn chiên được hiệp nhất.

Thánh lễ Chúa Chiên Lành ngày hôm nay rất ý nghĩa cho mỗi người chúng ta vì lẽ chúng ta, người ở vai trò con chiên, người ở vai trò mục tử.

Mục tử là một hình ảnh quen thuộc đối với dân Israel cả trong thời kỳ họ còn sống nghề du mục lẫn trong thời kỳ họ đã định cư: thời du mục thì họ chuyên chăn nuôi; đến thời định cư hẳn trong xừ Palestina thì tuy họ đã chuyển sang nghề nông nhưng vẫn còn giữ nghề chăn nuôi.

Trong chăn nuôi, vai trò và nhiệm vụ của mục tử rất quan trọng và khó khăn: a/ Không phải chỉ nuôi vài ba con chiên mà cả đàn lên tới mấy trăm hoặc mấy ngàn con; b/ Muốn nuôi sống một mớ chiên đông như thế, không phải chỉ cần đi cắt một mớ cỏ đem về là đủ, mà phải tìm những đồng cỏ lớn, phải tính sẵn trong đầu xem khi đoàn chiên ăn hết đồng cỏ này thì phải dẫn chúng tới đồng cỏ khác ngay; phải chọn những chỗ vừa có cỏ xanh vừa có bóng mát vừa có nước uống (x. St 13,1-9: đầy tớ của Loth và của Abraham dành nhau những đồng cỏ và giếng nước); c/ Ngoài ra còn phải bảo vệ chiên khỏi những nguy hiểm thường xuyên đe dọa như trộm cướp và thú dữ. Có khi phải chiến đấu đến bị thương hoặc bị chết.

Trong bối cảnh trên, hình ảnh mục tử rất đẹp: thân thiết, tận tụy, can trường, chu đáo v.v. Bởi đó Thánh Kinh thường dùng hình ảnh này để mô tả những nhân vật quan trọng như Môisê (Xh 3,1-2 15,22-27...), các nhà lãnh đạo dân như vua, tư tế, thẩm phán, ngôn sứ (Gr 10,21; 12,10; Ed 34; Is 36,11 Dcr 11,15-17...). Đặc biệt nhất chính Thiên Chúa tự mô tả mình là mục tử (Tv 23 80), dân Israel được coi là đoàn chiên của Ngài (Tv 80,2), cuộc Xuất hành là việc Thiên Chúa dẫn dắt đoàn chiên Israel ấy qua những nơi khó khăn để tới chốn an lành (Tv 78,52, 77; Is 63,11-14). Và sau cùng Đấng Messia cũng được mô tả là mục tử (Ed 34; Dcr 13,7-9...)

Mô tả Thiên Chúa và Đấng Messia bằng hình ảnh mục tử thì rất đẹp, nhưng mô tả dân Thiên Chúa như đoàn chiên thì không được đẹp lắm vì hình ảnh đoàn chiên gợi lên ý tưởng một đám đông trong đó những cá nhân không có cá tính mà chỉ như một con số bị mất hút trong đa số. Bởi thế trong đoạn Tin Mừng này Đức Giêsu cũng dùng hình ảnh đoàn chiên nhưng Ngài làm nổi bật tính cá nhân riêng biệt của từng con chiên: "Ta biết các chiên của ta và các chiên của Ta biết Ta" (c 14).

"Ta là mục tử": Trong Tin Mừng Ga nhiều lần Đức Giêsu dùng công thức "Ta là". Những lần như thế không phải chỉ là một lời tự xưng suông mà còn hàm chứa một mặc khải cho người ta hiểu thêm về bản thân Ngài. Hơn nữa công thức này mang âm hưởng lời Giavê tự mặc khải (St 3,13-14). Như vậy khi Đức Giêsu nói "Ta là mục tử" thì ý nghĩa là bản chất của Ngài chính là mục tử, vì thế Ngài đã, đang và sẽ mãi mãi là mục tử.

"Ta là mục tử tốt": Tính từ hy lạp kalos vừa có nghĩa "tốt" (bon) vừa có nghĩa "đẹp" (beau). "Tốt" diễn tả tấm lòng, còn "đẹp" diễn tả một hình ảnh tuyệt vời, mẫu mực, lý tưởng. Vì thế ta cũng có thể dịch "Ta là mục tử đẹp".- - - "Mục tử đẹp thí mạng sống mình vì chiên": Nét đặc thù phân biệt ai là mục tử đẹp là nếu người đó dám thí mạng sống mình vì đàn chiên. Ý tưởng này được lặp lại tới 4 lần trong đoạn Tin Mừng ngắn này (cc 11.15.17.18). Chính khi thí mạng sống mình, mục tử đẹp chứng tỏ được tinh thần trách nhiệm và lòng vô vụ lợi tuyệt đối khi đón nhận và chăm sóc đàn chiên. Đán chiên này chính là "xương bởi xương tôi, thịt bởi thịt tôi", do đó bất cứ điều gì đụng tới đàn chiên đều đụng tới bản thân mục tử, bất cứ nguy hiểm nào đe dọa đàn chiên đều động viên toàn thể con người mục tử, vì người mục tử đẹp phục vụ đàn chiên, chứ không phải là kẻ chăn thuê.

Kẻ chăn thuê không phải là chủ đàn chiên nên khi gặp nguy hiểm thì lo bảo vệ thân mình chứ không bảo vệ đàn chiên, không dám thí mạng vì đàn chiên. Cũng như ở Êd 34, ở đây Đức Giêsu ám chỉ các nhà lãnh đạo dân Israel (tư tế, luật sĩ v.v.) Họ khư khư bám lấy quyền lãnh đạo dân chỉ vì tư lợi. Họ không phục vụ chiên trái lại bắt chiên phục vụ họ. Khi gặp nguy hiểm, họ không màng chi sự an toàn của chiên mà chỉ lo cho sự an toàn của họ, như lời thượng tế Caipha tuyên bố về Đức Giêsu "Nếu ta cứ để yên như thế thì thiên hạ sẽ tin vào ông ấy hết, rồi quân Rôma sẽ đến tiêu trừ cả nơi thánh của ta và dân ta nữa" (11,48).

Mục tử nhân lành (hoặc, đúng hơn phải nói là, gương mẫu) đi trước đàn chiên, hứng lấy mọi nguy hiểm, để cứu vớt đàn chiên, dù phải hy sinh mạng sống. Như vậy, Đa-vít là một mục tử gương mẫu: khi sư tử đến bắt một con chiên, ông đã rượt theo, đánh sư tử và giựt con chiên lại (1 Sm 17,34-35).

Hình ảnh "mục tử nhân lành" là một hình ảnh quen thuộc trong Thánh kinh. Trong Cựu Ước, hình ảnh ấy được áp dụng khi thì cho Thiên Chúa (Tv 23,1; Is 40,11). Khi thì cho vua Mêsia (2 Sm 7,8; Tv 78,70-72), khi lại cho những nhà chức trách trong dân Israel (Gr 2,8; 10,21; 23,1-8; Ed 34). Trong các sách nhất lãm, chúng ta cũng gặp những hình ảnh ấy (Mc 6,34; 14,27; Mt 9,36; 18,12-14; 25,32; 26,31; Lc 15,3-7).

Đức Giê-su thực hiện một cách hoàn hảo chức năng mục tử, vì Người là Con Người chia sẻ thân phận con người để dẫn đưa họ đến cuộc sống vĩnh cửu.

Chúa Giêsu chính là mẫu gương tuyệt vời cho các mục tử.

Cuộc sống muôn màu muôn vẻ, có những mục tử sống hết mình vì đàn chiên nhưng cũng có những mục tử chăn thuê.

Tạ ơn Chúa, cám ơn Đức Mẹ vì tôi đang được sống với một vị mục tử "chính hiệu con nai vàng" ở mảnh đất truyền giáo nghèo. Phải nói rằng Ngài không có cái tội gì ngoài cái tội thương người nghèo. Cuộc sống của Ngài đơn sơ đạm bạc, chỉ với chiếc xe cọc cạch là phương tiện tới lui. Nhiều lần nhiều lúc bảo Ngài đổi xe nhưng cứ khất lần khất lựa.

Lần nọ, đoàn cứu trợ từ thiện kia gửi 100 phần quà cho vùng truyền giáo nghèo. Xin thêm thì ngại mà thiếu thì người dân so bì, thế là Ngài đã cố gắng hết sức để tìm thêm 50 phần nữa để lo cho tạm gọi là nhu cầu của người nghèo tại chỗ.

Nhìn dáng hao gầy của cha đặc trách giáo điểm truyền giáo chắc có lẽ mọi người nhìn thấy được đó là kết qủa của một cuộc đời sống cho chiên và vì chiên.

Nói đến cha đặc trách mà không nói đến giáo dân quả là một điều thiếu sót lớn. Có thể nói cha đặc trách của tôi là một mục tử tuyệt vời nhưng đối lại, con chiên của Ngài ở đây làm sao ấy!

Ngài vốn dĩ hiền lành, chịu thương chịu khó và chịu đựng thế nhưng vào ngày Thứ Năm Tuần Thánh - ngày Giáo Hội kỷ niệm việc Chúa Giêsu lập phép Thánh Thể và truyền sứ vụ linh mục - nhưng khi nhìn tới nhìn lui nhà thờ chỉ có 80 giáo dân (tổng số giáo dân là 600) Ngài mới buông miệng nói một câu là Ngài cảm thấy buồn! Không buồn sao được khi mà cả cuộc đời của Ngài, Ngài đã gần như hiến mạng sống của mình ở vùng đất nghèo này mà giáo dân cư xử với Ngài như vậy. Những ngày Ngài đau yếu bệnh tật chẳng thấy ai ngó ngàng gì đến. Dường như con chiên chỉ đến để nhận tình thương từ mục tử và không có chiều ngược lại.

Đau đớn hơn là lần nọ, Cha đặc trách xây cái nhà mát ở, có vài mạng vào phụ Ngài để dựng cái nhà mát ấy. Ít lâu sau, cha đặc trách cũ cũng làm nhà mát và một mớ giáo dân hăng hái xuống để giúp cha xứ cũ dù hai giáo điểm cách nhau trên dưới 50 km. Nhìn cách hành xử của con chiên ở đây tôi thấy làm sao đấy, còn Ngài, Ngài bảo là "cổ võ cho họ đi để sống tinh thần truyền giáo!".

Vâng! Một linh mục thánh thiện như Ngài thì có cái nhìn như thế nhưng thật sự đau đấy chứ! Giáo điểm nhà thì không thấy vào giúp mà đi giúp giáo điểm bạn!

Không chỉ có như vậy, Tết Nguyên Đán vừa rồi, sau khi nhận quà, vừa bước ra khỏi cửa nhà thờ thì lời ra tiếng vào ngay. Nào là cha cho nhiều, cha cho ít... Nào là người này không xứng đáng để nhận, người kia mới đáng để nhận... Có để đi cho cũng phức tạp chứ không phải cứ có là cho một cách vô tư.

Và không chỉ dừng lại ở chuyện hơn thua nhưng còn chuyện miệt thị người này siêng đi lễ, người kia bỏ nhà thờ cũng là điểm nổi bật ở vùng truyền giáo nghèo này. Những ai lỡ bận công chuyện bỏ nhà thờ chừng vài lần là sẽ nghe lời ra tiếng vào ngay.

Hình ảnh của con chiên xứ đạo này bỗng nhiên lại tô điểm thêm nét hiền lành và khiêm nhường của vị mục tử nhân lành. Không phải ca tụng cha đặc trách là thánh hay phong thánh cho Ngài nhưng thật sự khi nhìn vào đời sống của Ngài, Ngài quả là vị mục tử nhân lành như lòng Chúa mong muốn.

Hình ảnh của cha đặc trách đây có lẽ là một mẫu gương nho nhỏ cho những ai sống đời mục tử.

Hình ảnh của giáo dân giáo điểm này cũng là một bài học cho những con chiên.

Sống trên đời ai cũng cần vật chất cả, đành biết là vậy, nhất là với những người nghèo nhưng cùng đích cuộc đời này đâu phải là vật chất. Cuộc đời này người ta đâu chỉ "sống bằng cơm bánh" như Chúa Giêsu đã từng nói. Cuộc đời này còn đó đời sống của tâm linh, đời sống của tinh thần.

Chỉ vì yêu, Cha đặc trách giáo điểm mới sống xả thân hết mình như vậy. Thật ra thì Cha đặc trách cũng đâu có làm gì ra tiền, Cha đặc trách cũng chạy đầu này đầu kia để kiếm chút gì đó về cho con cái. Tất cả là vì yêu và vì yêu.

Ngược lại, với giáo dân nghèo, ta có thể nghèo vật chất nhưng không thể nào nghèo tinh thần, không thể nào nghèo tình yêu được. Một lời thăm hỏi, một nụ cười, một chút việc nho nhỏ trong nhà thờ cũng đủ để an ủi cho vị truyền giáo đơn sơ này. Thế nhưng làm gì có! Cha đặc trách đau lưng, đau bao tử giáo dân nào có biết. Ngày mỗi ngày, Cha đặc trách vẫn âm thầm lặng lẽ làm công việc của một ông từ đi đóng cổng thờ, đi quét chuông...

Cha đặc trách đã làm hết lòng mình, đã sống hết sức mình nhưng chưa bao giờ Ngài than thân trách phận. Tất cả cũng xuề xoà cho xong vì lòng thương dân nghèo.

Bài học chủ chăn nhân lành của vị truyền giáo ở giáo điểm truyền giáo này là một bài học hay của sự dấn thân, sự chịu đựng. Ngày mỗi ngày, Cha đặc trách sống như một "con chiên hiền lành bị đem đi làm thịt".

Nguyện xin Chúa Giêsu là vị Mục tử tối cao ban nhiều ơn lành để Giáo Hội ngày càng có thêm những vị mục tử sống hết mình vì con chiên như vị mục tử ở vùng truyền giáo nghèo này.

Và cũng nguyện xin Chúa Giêsu biến đổi lòng con chiên ở mảnh đất này để họ ngày mỗi ngày yêu thương đùm bọc lẫn nhau hơn và nhất là yêu thương vị chủ chăn hết lòng yêu thương họ hơn.

9. Chủ chăn và đoàn chiên.

Chúa Giêsu muốn nói gì qua hình ảnh chủ chăn và đoàn chiên? Tôi xin thưa đó là sự gắn bó mật thiết.

Thực vậy, giữa chủ chiên và đoàn chiên có một sự gắn bó mật thiết với nhau thế nào, thì giữa Chúa Giêsu và những người được Chúa Cha trao cho Ngài cũng có một sự gắn bó mật thiết với nhau như vậy, bởi vì họ thuộc về Ngài và Ngài biết tên họ. Điều này cũng có nghĩa là Ngài biết tường tận từng người một với những ưu điểm và khuyết điểm, với những suy tư và tính toán, với những âu lo và khát vọng. Giữa Ngài và những người tin vào Ngài đã tạo nên được một sự cảm thông chân thành. Họ nhận ra tiếng Ngài và bước đi theo Ngài. Điều ấy không thể xảy ra cho những kẻ xa lạ.

Tất cả những sự kiện kể trên đều là những biểu hiện của tình yêu thương. Chúng ta không thể hồ nghi về những lời khẳng định của Chúa Giêsu, bởi lẽ Ngài đã chết để bảo vệ đoàn chiên của Ngài như một người mục tử tốt lành và nhân hậu. Ngài phán: Không ai yêu hơn người dám hy sinh mạng sống vì bạn hữu. Hay như thánh Phêrô đã viết trong: Chính Ngài đã gánh lấy tội lỗi chúng ta nơi thân xác của Ngài trên cây thập giá, để một khi đã chết cho tội lỗi, chúng ta sống cho sự công chính. Nhờ vết thương của Ngài, anh em đã được chữa lành. Xưa kia anh em như những con chiên lạc, thì giờ đây anh em đã trở về cùng vị mục tử, Đấng canh giữ linh hồn anh em.

Thế nhưng điều quan trọng hơn đó là mỗi người chúng ta phải làm gì và phải sống như thế nào, để được xứng đáng là những con chiên trong đoàn chiên của Chúa? Khi người chủ chăn đứng ngoài cửa và vên tiếng gọi, lập tức những con chiên nhận biết tiếng họ, chúng liền tụ lại quanh người ấy và bước đi theo sự hướng dẫn của người ấy. Và người ấy sẽ dẫn đoàn chiên của mình tới đồng cỏ xanh và tới dòng suối mát.

Với chúng ta cũng thế, là những con chiên trong đoàn chiên của Chúa, chúng ta phải biết nhận ra tiếng Chúa mời gọi. Nhưng nhận ra tiếng Chúa mời gọi mà thôi chưa đủ, điều quan trọng hơn, đó là chúng ta còn phải tụ lại bên Ngài và bước đi dưới sự hướng dẫn của Ngài bằng cách thực thi những điều Ngài truyền dạy, bằng cách tuân giữ những giới luật của Ngài.

Bởi vì chỉ bước đi theo sự hướng dẫn của Ngài, chúng ta mới có thể đạt tới miền đất hứa là quê hương Nước Trời mà thôi.

10. Mục tử tốt lành – Thiên Phúc

(Trích trong “Như Thầy Đã Yêu”)

Dưới thời bạo Chúa Nêrô bắt đạo. Rôma ngập tràn máu lửa, biết bao tín hữu đã chết dưới tay ông vua điên loạn, bạo tàn.

Giáo hội non trẻ do Đức Giêsu thiết lập như sắp rã rời tan tác. Phêrô là con chim đầu đàn, là trụ cột của Giáo hội. Các tín hữu tha thiết xin Phêrô trốn khỏi Rôma, để tiếp tục dẫn dắt đoàn chiên. Người anh cả một thoáng phân vân, chần chừ. Quả thật đoàn chiên đang nao núng vì sợ thiếu vắng đầu đàn, sao có thể giữ vững niềm tin? Thầy đã chẳng khuyên khi người ta bắt bớ chúng con ở thành này, thì hãy trốn sang thành khác sao? Phêrô xách bị gậy đi trốn. Đụng Thầy ở cổng thành, Phêrô hỏi:

- Quo vadis, Domine? Thưa Thầy, Thầy đi đâu?

- Nếu con bỏ các Kitô hữu của Thầy thì Thầy sẽ quay lại để chịu đóng đinh cho họ một lần nữa.

- Phêrô hiểu ngay lời Thầy, quay trở lại Rôma để an ủi khích lệ đoàn chiên, và để chịu đóng đinh thập giá như Thầy.

"Ta là mục tử tốt lành. Mục tử tốt lành thí mạng sống vì đoàn chiên" (Ga.10,11). Đức Giêsu ví mình như một mục tử tốt lành khác với người chăn thuê, vì người đã dám hy sinh mạng sống cho đoàn chiên. Cái chết của Người không bất ngờ, cũng không đầu hàng bạo lực, nhưng là một cái chết tự hiến. Đức Giêsu chết để nói nên lời yêu thương. Một tình yêu tột đỉnh, yêu cho đến cùng. Thánh Gioan viết: "Không có tình yêu nào cao cả hơn tình yêu của người đã hy sinh tính mạng vì bạn hữu mình" (Ga.15,13).

Chính tình yêu đã tạo nên mối dây gắn bó giữa chủ chiên và từng con chiên, khiến Người nói: "Ta biết các chiên Ta, và các chiên Ta biết Ta" (Ga.10,14-15). Đó là sự hiểu biết nhau sâu xa, sự trân quí giữa mục tử và đoàn chiên.

Đức Giêsu là mục tử duy nhất, tối cao và gương mẫu. Các mục tử khác chỉ là phụ tá giúp chăn dắt đoàn chiên của Người. Mọi mục tử phải noi gương Người, dám chết cho đoàn chiên được sống. Phêrô là người mục tử đầu tiên. Phêrô có thể trốn bắt bớ, tù tội, chết chóc. Nhưng chính khi đổ máu, Phêrô đã giữ vững đoàn chiên. Cái chết của Phêrô đã có sức thuyết phục hơn bất cứ lời rao giảng nào: "Thầy làm vững đức tin của con. Rồi đến lượt con, con sẽ làm vững đức tin của anh em con". Các mục tử tiếp bước Phêrô vui lòng nằm xuống để nên nhân chứng, và củng cố niềm tin cho các anh em.

Dụ ngôn người "Mục tử tốt lành" cho thấy tình yêu sâu sắc của Thiên Chúa:

- Người yêu thương mỗi người một cách cá biệt, không yêu cách chung chung.

- Người yêu thương vô điều kiện, ngay cả khi chúng ta lầm đường lạc lối.

- Người yêu thương bằng tình yêu vui mừng, chứ không la rầy khiển trách khi tìm thấy chiên lạc.

Ngày nay, Đức Giêsu vẫn cần những vị mục tử tốt lành lo cho đoàn chiên trên thế giới. Người rất cần các bạn trẻ hiến thân cho sứ mạng mục tử này. Người mời gọi chúng ta hãy nhìn bằng trái tim yêu thương, để thấy những cơn đói Lời Chúa, đói tình thương, đói của ăn, đói ý nghĩa cuộc sống. Người kêu gọi chúng ta hãy tha thiết xin Cha cho nhiều mục tử tận tụy hơn, thanh khiết hơn, vô vị lợi hơn, và thánh đức hơn. Những mục tử sẵn lòng âm thầm chết từng ngày cho đoàn chiên.

***

Lạy Chúa, xin gởi đến cho chúng con những mục tử có trái tim của Chúa: luôn say mê Thiên Chúa và yêu thương con người, có tình bạn thân thiết với Chúa, dám hy sinh cho đoàn chiên, dẫn đưa chúng con về với Cha là nguồn hạnh phúc thật của chúng con. Amen.

11. Tôi biết chiên của Tôi - ViKiNi

(Suy niệm của Lm. Giuse Vũ Khắc Nghiêm – trong ‘Xây Nhà Trên Đá’)

Câu nói có vẻ tầm thường, nhưng thật lạ lùng.

Nếu một ông thủ tướng trong sạch, biết rõ từng bộ trưởng, từng tỉnh trưởng, từng giám đốc, bí thư, thì không một ai dám tham nhũng, hối lộ.

Nếu cha mẹ tốt lành, biết rõ từng đứa con, sẽ dễ dàng dạy con ngoan chăm con giỏi, và không có con nào dám qua mặt làm điều hỗn láo.

Nếu người trên nhân hậu biết rõ người dưới, chắc chắn sẽ dễ cảm thương cho số phận khổ sở kẻ dưới và sẽ hết mình giúp đỡ họ.

Vậy làm sao có thể biết rõ được?

Muốn biết rõ người phải xuyên suốt bốn giai đoạn sau:

Thứ nhất, biết những hành động bên ngoài, từ lời nói, cử chỉ đến việc làm.

Thứ hai, biết những hành động bên trong, là những tâm tư, tình cảm, nguyện vọng, ước muốn và ý định.

Thứ ba, biết quá khứ, hiện tại, tương lai xẩy ra sao.

Thứ bốn, biết số phận, vận mệnh may rủi sống chết thế nào?

Thường người ta, dù người tài giỏi, thông thái hay gần gũi như cha mẹ sống với con cái, cũng chỉ biết được người khác qua những hành động bên ngoài. Những nhà tâm lý giáo dục biết được tâm tính con người thường dùng phương pháp quan sát ba yếu tố: cảm xúc (Emotivité: E), hoạt động (Activité: A) và xem phản ứng sơ khởi hay sâu lắng (retentivité primaire ou secondaire) để xếp xem người đó thuộc loại tính tình nào trong tám loại tính tình.

Thực ra, con người chỉ có thể biết nhau ở giai đoạn thứ nhất, tới giai đoạn thứ hai chỉ là đoán mò, nên mới có câu: “Sông sâu còn có người dò, lòng người nham hiểm ai đo cho cùng”.

Khi Chúa Giêsu nói với ta: “Tôi biết chiên của Tôi” thì Người biết hết mọi sự: từ hành động bên ngoài đến bên trong ta, từ quá khứ hiện tại đến số phận đời đời của ta, Người thấu suốt cả cuộc đời ta.

Người biết rõ Nathanael ở đâu, đang làm gì.

Người biết rõ Pharisiêu nghĩ gì, biết rõ âm mưu của Giuđa và các thượng tế. Người biết rõ quá khứ của người đàn bà xa lạ đến kín nước giếng Giacóp có bảy đời chồng và kẻ đang sống với bà không phải là chồng bà. Người biết rõ tương lai của các môn đệ sẽ bị bắt bớ, tù đầy, xét xử và bị giết đi vì làm chứng về Người, và Người khuyên các ông đừng sợ vì họ chỉ giết được xác mà không giết được hồn. Người biết rõ phần thưởng Chúa Cha ban cho các ông bội hậu trên trời.

Người biết rõ số phận của thành Giêrusalem sẽ không còn hòn đá nào trên hòn đá nào và Người khóc thương họ.

Chính vì biết rõ thân phận con người như thế mà Người cảm thương ta vô cùng.

Khi ta nhìn một người quằn quại trên vũng máu vì tai nạn hay một người rên xiết trên giường bệnh, ta không cầm được nước mắt. Ta chỉ biết được chút bên ngoài chốc lát thôi, ta còn biết mủi lòng, huống chi là Thiên Chúa biết quá rõ số phận ta từ đời đời, Thiên Chúa còn phải thương yêu ta đến thế nào! Người đã thấy thân phận ta như “con chiên ở giữa sói rừng, sói liền bắt và làm tan tác đoàn chiên”. Vì thế, không lạ gì Thiên Chúa Cha đã phải hy sinh Con Một yêu dấu của Ngài, xuống thế làm người, sống lăn lộn cứu chữa con người cho đến chết và bị chết đóng đinh trên thập giá. Hôm nay chúng ta thấy: tại sao Người nói: Tôi biết chiên Tôi và Tôi hy sinh mạng sống Tôi cho đoàn chiên. Tôi còn có những chiên khác không thuộc ràn này. Tôi cũng phải đưa chúng về. Chúng sẽ nghe tiếng Tôi. Và sẽ chỉ có một đoàn chiên và một người mục tử”.

Trong bài đọc một, thánh Phêrô đã chứng tỏ cho thượng hội đồng thấy: “Chính nhờ danh Đức Giêsu Kitô, người Nagiarét, Đấng mà quý vị đã đóng đinh vào thập giá, và Thiên Chúa đã cho Người chỗi dậy, từ cõi chết, đã cứu chữa người tàn tật này được lành mạnh”.

Trước tình yêu của Đấng chăn chiên nhân lành như thế, thánh Gioan kêu gọi chúng ta: “Anh em hãy xem Thiên Chúa yêu ta dường nào để ta được gọi làm con Thiên Chúa. Và được nên giống như Người”.

Lạy Chúa, xin cho chúng con biết cố gắng nên giống Người Mục Tử nhân lành, biết nhận trách nhiệm chăm sóc, giáo dục, thánh hóa đoàn chiên, chúng con mới được giống Người trong vinh quang.

12. Chúa Nhật 4 Phục Sinh

Anh chị em thân mến.

Người Việt Nam chúng ta thường thì ai cũng biết đến câu chuyện cổ tích: Cái Đực rựa. Câu chuyện nói lên đời sống của hai anh em được người cha rất thương yêu.

Chính vì thế ông đã chuẩn bị tất cả, không để cho con của mình phải thiếu thốn điều gì. Khi ông nhắm mắt lìa đời, ông đã để lại một tài sản xứng đáng cho hai người con của mình. Không chỉ để lại mà thôi, ông còn dạy bảo nhắc nhở: Anh em phải yêu thương lo lắng cho nhau. Nhưng rồi, những điều lo lắng, những điều chỉ dạy và lời trối sau cùng của người cha kính yêu, không được thực hiện chu đáo.

Người anh cả khôn ngoan hơn, lại thêm tính tham lam, nên cuối cùng, người em hiền từ đơn sơ chỉ còn nhận được Cái đực rựa. Người em phải rời khỏi nhà cùng với gia tài mình được chia, gia tài mà người cha đã để lại, giờ đây anh chỉ nhận được có thế. Anh đã bị chính người thân thuộc nhất của mình tước đoạt tất cả. Anh cũng không có quyền ở trong nhà cha của mình, vì chính người con của cha mình, người anh ruột của mình, người thân nhất của mình, lại là người loại trừ anh ra khỏi cuộc sống. Đoạn kết câu chuyện, mọi người chúng ta đều biết: Ở hiền gặp lành.

Qua câu chuyện, tôi suy nghĩ: người cha rất thương yêu con của mình, nên ông đã dạy dỗ, chuẩn bị tất cả. Đáng lẽ những người con của ông đều được sung sướng. Nhưng cũng vì con ông không biết thương nhau, nên có những người phải cơ cực. Mặc dù ông đã làm tròn bổn phận của mình, nhưng ông không khỏi phiền lòng khi nhìn thấy những đứa con của mình đối xử với nhau như thế. "Chiên của Tôi thì nghe tiếng Tôi, Tôi biết chúng và chúng theo Tôi." Chúa Giêsu là chủ đàn chiên của Ngài. Ngài là Người Cha nhân hậu, Ngài đã chuẩn bị tất cả những gì cần thiết cho đàn chiên của Ngài được hạnh phúc, được sung sướng. Chính vì thương yêu đàn chiên nhỏ bé, còn bơ vơ chưa thể tự mình đạt tới hạnh phúc được, nên Ngài dám hy sinh mạng sống mình để bảo vệ đàn chiên. Ngài biết từng con chiên, lo lắng cho từng con một. Ngài chỉ có mong ước duy nhất là làm sao các chiên của Ngài đều nghe tiếng để bước đi theo Ngài.

Chúng ta là con cái Thiên Chúa, chúng ta thuộc về đàn chiên của Chúa Kitô. Mỗi người trong chúng ta được Ngài yêu thương, chăm sóc, giữ gìn, và mỗi người cũng được bảo vệ bằng chính mạng sống của Ngài. Những con chiên trong đàn có được một Người chủ chăn tuyệt vời, thế mà cũng vẫn còn có nhiều con chiên ăn không đủ no, nó cũng không thể nào chống chọi lại nỗi với những cơn giá rét luôn ập xuống trên mình. Đôi khi còn tệ hại hơn nữa, nó phải đành chấp nhận nỗi cô đơn mà tách khỏi đàn để đối mặt với bao nhiêu nguy hiểm đang chờ đón.

Nó đói không phải vì trong đàn chiên thiếu thức ăn, trái lại, thức ăn vẫn đầy đủ và phần của nó vẫn còn đó. Nó lạnh, nó cô đơn, nó gặp nguy hiểm, không phải vì chủ không quan tâm. Nhưng nó phải chịu tất cả những điều bất hạnh đó, vì nó không tìm được sự cảm thông của những con chiên đồng loại. Nó cũng không tìm thấy được một sự quảng đại, nó cũng chẵng nhận được những cử chỉ yêu thương chân thành, mà nó chỉ thấy trước mắt nó những điều làm nó đau lòng. Trước một thực tế như thế, cùng với sự hiểu biết nông cạn, nó không thể nào nhận ra được tình yêu của Người Chủ Chăn Tuyệt Vời qua những chú chiên bạn bên cạnh nó được.

Câu chuyện cổ tích ở trên, chúng ta ngở rằng nó đã cổ xưa, đã đi vào quá khứ, nhưng thực ra nó rất hiện đại và vẫn là một câu chuyện thời sự nóng bỏng của ngày hôm nay. Cũng vẫn những tham lam, vẫn những tranh giành, vẫn những thủ đoạn loại trừ nhau. Cho dù tiếng chủ chăn vẫn vang lên thống thiết, còn những con chiên thì vẫn cứ mặc tình, vẫn cứ ồn ào náo nhiệt, vẫn cứ tranh chấp nhau, nên không thể nào nghe được hết những gì chủ chăn muốn nói.

Tiếng vị Chủ Chăn tuyệt vời cũng vang bên tai mỗi người chúng ta. Chúng ta có phải là con chiên trong đàn của Chúa Kitô thật sự không? chúng ta đã nghe tiếng Ngài, và bước đi theo Ngài như thế nào trong cách sống của mình?

Xin Chúa ban ơn cho chúng ta biết lắng nghe Lời Chúa, lời của vị Chủ Chăn Tốt Lành, để chúng ta luôn là con chiên ngoan trong đàn của chủ chăn, và là một bạn chiên tốt của các chiên.

13. Nơi bạn thuộc về – Peter Feldmeier

(Lm. GB. Văn Hào SDB, chuyển ngữ)

“Tôi là mục tử nhân lành. Tôi biết các chiên tôi và các chiên của tôi biết tôi” (Ga 10,14)

Vài năm trước, tôi có dịp nói chuyện với một anh bạn. Vợ anh ta vừa chết và mới được chôn cất. Cuộc sống của anh ta trước đây khá bệ rạc, và anh đã đối xử với vợ con rất tồi tệ. Anh ta hỏi tôi, theo tôi nghĩ, liệu anh ta có được lên thiên đàng hay không. Đây không phải là một câu hỏi khó trả lời, vì việc cứu rỗi chẳng phải là vấn đề quá nan giải. Chính Đức Giêsu đã quả quyết ai tin sẽ được sống đời đời. Hiển nhiên, không phải như nhiều người cứ đinh ninh rằng ơn cứu rỗi sẽ được tặng ban một cách nhưng không, chẳng cần con người cộng tác chút nào.

Sau khi đã hiểu khá rõ cuộc sống của anh, tôi trả lời. Nhưng trước hết tôi hỏi lại anh ta: Thế bây giờ anh sống ra sao, có biến chuyển khá hơn trước hay không? Anh trả lời “Tôi nghĩ, khó thay đổi. Tôi còn có nhiều buồn bực và vẫn hay uống rượu để giải khuây”. Tôi hỏi tiếp “Anh có đến nhà thờ thường xuyên không? Anh ta đáp: “Không. Trừ hôm an táng vợ tôi, đã 30 năm nay, tôi không đến nhà thờ nũa. Tôi nghĩ cuộc sống tôi vẫn vậy, chẳng thể thay đổi”. Tôi hỏi vặn lại “Nhưng vì anh đã bỏ nhà thờ, bỏ cả Chúa? Trước đây cuộc sống anh có tồi tệ như thế đâu.” Anh ta nói “Tôi biết, cuộc sống tôi hiện nay như là hỏa ngục thực sự, không phải như nhà thờ mà tôi đã bỏ suốt 30 năm qua”. Tôi tiếp tục hỏi anh “Thế ít nhất, anh có cầu nguyện không?” Anh trả lời “Hầu như không, tôi cũng chẳng còn tha thiết cầu nguyện như trước đây nữa.”

Tôi động viên anh hãy đến tòa cáo giải và trình bày tất cả. Tôi nhẹ nhàng khuyên anh hãy cố gắng sửa chữa và hàn gắn lại những đổ vỡ trong những tháng ngày còn lại của cuộc đời. Tôi gợi mở cho anh con đường trở về, song từ trong thâm tâm, tôi cũng lấy làm lạ và tự hỏi, tại sao một con người chẳng thiết tha gì đến Thiên Chúa như thế, nhưng vẫn mong muốn được vào thiên đàng. Họ không hiểu rằng thiên đàng chính là tình trạng con người gắn kết với Thiên Chúa và thuộc về Ngài trọn vẹn hay sao.

Trong bài đọc thứ hai của phụng vụ hôm nay, Thánh Gioan đã viết “Anh em thân mến, hiện giờ chúng ta là con cái Thiên Chúa, nhưng chúng ta sẽ như thế nào, điều ấy chưa được bày tỏ. Chúng ta biết rằng khi Đức Kitô xuất hiện, chúng ta sẽ nên giống như Người, vì Người thế nào, chúng ta sẽ thấy Người như vậy (1Ga 3,2). Đó chính là thiên đàng thực sự của chúng ta, là tình trạng con người kết hiệp với Thiên Chúa và trở nên giống Ngài.

Thánh Phêrô tông đồ diễn tả trạng thái căn bản về việc Thiên Chúa hiện thực tròn đầy lời hứa cứu độ, khi Ngài viết “Chúng ta sẽ được thông phần bản tính Thiên Chúa (2Ph 1,4). Giáo hội gọi đó là sự “Thần hóa” Theosis, một khi chúng ta qua ân sủng được sống chính sự sống của Thiên Chúa, sống như Ngài đã sống, và yêu như Ngài đã yêu.

Nếu cách diễn đạt này xem ra có vẻ trừu tượng và khó hiểu, chúng ta sẽ dễ thấu triệt hơn khi đọc lại bài Tin mừng hôm nay. Đức Giêsu nói cho đám đông, Ngài là Mục Tử Nhân Lành. Không như các mục tử bất cẩn khác đã bỏ chiên để tháo chạy vào những thời khắc nguy hiểm, vị Mục Tử tốt lành đã liều cả mạng sống để bảo vệ đoàn chiên của mình. Chủ đề về chăn chiên được nói đến khá nhiều, và dàn trải đều khắp trong cựu ước. Ezekiel chương 34 là một đoạn văn cổ, qua đó vị tiên tri nặng nề cảnh báo các mục tử xấu xa, ám chỉ các vị lãnh đạo tôn giáo lúc bấy giờ, đã bỏ rơi các con chiên, tức dân Israel, và chểnh mảng việc chăm sóc chúng. Ezekiel tiên báo rằng chính Thiên Chúa sẽ chăn dắt và săn sóc đàn chiên của Ngài (Ez 34,15-23). Đức Giêsu là Đấng sẽ thực hiện lời hứa đó, và Ngài sẽ là mục tử đích thực về cả hai phương diện: Chăn dắt và nuôi sống đoàn chiên.

Đức Giêsu đã đến và nuôi dưỡng chúng ta. Ngài bảo vệ, dẫn dắt và yêu thương chúng ta. Điều đánh động chúng ta sâu xa nhất, chính là Đức Giêsu đã hai lần nhắc đến sự tương giao thân tình giữa Ngài và các học trò, tức giữa người chăn chiên và các con chiên trong đàn. Ngài nói “Tôi biết chiên tôi và chiên của tôi biết tôi”, đồng thời Ngài nói tiếp “Chúng sẽ nghe tiếng tôi”. Qua hình ảnh người chăn chiên nhân lành, Đức Giêsu bộc lộ sự hiền dịu sâu xa nơi chính Ngài. Về phía chúng ta, khi chúng ta biết Ngài và để Ngài biết chúng ta, chúng ta sẽ đi vào sự gắn kết sâu xa với Ngài, và thuộc trọn về Ngài.

Khi còn là sinh viên, có lần tôi được trao cho một quyển sổ nhỏ có ghi một câu hỏi để tôi trả lời: “Khi đến trước cổng thiên đàng, để được đón nhận vào, bạn phải nói điều gì?” Chắc chắn câu trả lời là “Tôi tin, vì Đức Giêsu đã chết cho tôi”. Bài Tin mừng hôm nay còn vạch dẫn cho ta một câu trả lời khác: “Vì nơi đó chính là chỗ tôi thuộc về”. Cũng như đối với gã đàn ông ngược ngạo kia đã hỏi tôi như tôi nói ở đầu, tôi sẽ trả lời cho anh ta “thế thì bạn, bạn đang thuộc về đâu?”

14. Ý nghĩa của cuộc sống

Bài đọc I (Cv 4, 8-12): Thánh Phêrô tuyên bố trước những nhà lãnh đạo Do thái rằng: Chúa Giêsu Phục Sinh là Đấng Cứu Độ duy nhất. Ngài chính là chính là viên đá góc tường của toà nhà mới mà người ta loại bỏ. Động lực nào đã làm cho thánh nhân can đảm lạ thường? Phải chăng ông đã cảm nhận được tình yêu mà Chúa Giêsu đối với ông, một người phản bội!

Bài đọc II (1Ga 3, 1-2): Vì yêu thương mà Thiên Chúa đã chọn gọi chúng ta làm con Chúa trong Chúa Giêsu. Để chúng ta được thông phần hạnh phúc với Chúa, đồng thời mời gọi chúng ta hãy vui mừng và biết chia sẻ niềm hạnh phúc lớn lao ấy cho nhân loại.Vì chưng, ơn gọi của người Kitô hữu là ơn gọi để yêu thương.

Bài Tin Mừng (Ga 10, 11-18): Cho thấy Chúa Giêsu là mục tử nhân lành, Ngài biết chiên của Ngài, và chúng cũng nhận ra Ngài. Không giống như người chăn thuê, Chúa Giêsu sẵn sàng hiến mạng sống của mình để bảo vệ đoàn chiên.

Ba bài đọc đã cho ta một cái nhìn mới về ý nghĩa của cuộc đời. Cuộc sống của chúng ta hôm nay phần lớn được bao bọc bởi công việc. Vì vậy chúng ta hãy xem công việc hiện nay của tôi đang làm có tầm quan trọng và có ý nghĩa như thế nào? Nếu công việc tôi đang làm thật sự có ý nghĩa cho xã hội, thì quả thật đây là một diễm phúc cho ta. Còn nếu nó không mang một ý nghĩa nào, hay có nhưng rất ít thì thật là vô phúc.

Người ta nói: vấn đề đầu tiên của chúng ta trong cuộc sống là hãy tìm một việc làm có ý nghĩa. Khi đó nó sẽ thay đổi cuộc đời chúng ta. Trong Tin Mừng hôm nay, Chúa Giêsu lặp đi lặp lại hai danh từ đối lập: Chủ chăn và người chăn thuê. Vậy đâu là sự khác biệt giữa vị mục tử nhân lành và người chăn thuê? Đó chính là hai thái độ hoàn toàn trái ngược nhau trong sứ mạng chăn dắt đoàn chiên. Người chăn thuê làm công việc này vì đây là một sự bắt buộc, làm để lãnh lương. Đối với anh ta đây chỉ là cái nghề, vì thế anh ta không đặt con tim của mình vào trong công việc. Còn vị mục tử nhân lành làm công việc chăn dắt đoàn chiên vì anh ta yêu mến nó, đó chính là lý tưởng của anh. Vì vậy, anh ta làm với một con tim nhiệt thành và hoàn toàn tự nguyện.

Người ta yêu vị mục tử nhân lành vì cuộc sống của anh ta hoàn toàn vì lợi ích của đoàn chiên. Đối với vị chủ chăn nhân hậu, anh ta tìm thấy một cái gì quý giá thật sự khi được chăm sóc đoàn chiên. Đối với anh ta đây không chỉ là công việc mà còn là một ơn gọi, một lý tưởng của cuộc đời.

Vì vậy anh ta đặt tất cả mọi tâm quyết cho công việc và làm hết khả năng. Khi đó anh ta sẽ có đủ sáng kiến để thực hiện hoài bảo, nhờ đó mà tài năng bắt đầu được nở rộ. Dù cho công việc có nhiều khó khăn trắc trở nhưng nhờ có lý tưởng và có động lực là tình yêu nên mọi chuyện đều trở nên nhẹ nhàng và đơn giản không gì là nặng nhọc. Chúng ta không thể có được hạnh phúc từ cuộc sống dễ dãi. Trách nhiệm nặng nề trong việc tự nguyện phục vụ tha nhân sẽ làm cho cuộc sống yêu thương sẽ càng có giá trị.

Chúa Giêsu đã tìm thấy lý tưởng của Ngài Khi Ngài khẳng định: Ta là mục tử nhân lành của đoàn chiên mà Chúa Cha trao phó. Hai đặc tính nổi bật trong sự liên hệ giữa chủ chăn và đoàn chiên là: Ngài chăm sóc đoàn chiên tận tình, sẵn sàng hiến mạng sống để bảo vệ đoàn chiên. Và Ngài biết các chiên của Ngài và chúng cũng biết Ngài. Đây là sự gần gũi giữa chủ chăn và đoàn chiên. Thiếu điểm này thì sự lãnh đạo trở thành sự áp bức.

Mỗi người chúng ta cũng phải chọn cho mình một lý tưởng. Khi có lý tưởng chúng ta sống và làm việc với một thái độ hoàn toàn khác hẳn với người không có định hướng, không có lý tưởng. Khi chúng ta thực hiện một công việc hay một bổn phận với một con tim héo úa mà không có động lực yêu thương chắc chắn chúng ta sẽ thất bại. Và quả thật, đây là một nỗi bất hạnh lớn nhất trong cuộc sống. Vì chúng ta không tìm thấy niềm vui và hạnh phúc từ trong công việc, và khi đó cuộc sống quả là gánh nặng.

Nhưng để chọn cho mình một lý tưởng không phải là vấn đề đơn giản. Vì chọn lựa nào cũng phải từ bỏ, chọn lựa nào cũng làm cho chúng ta phải nuối tiếc và mang lại đau thương. Nhưng chúng ta phải can đảm chấp nhận vì hiểu rằng chúng ta chỉ có hạnh phúc thật sự khi đi đúng con đường, đúng lý tưởng.

Khi đó chúng ta mới yêu mến công việc của mình. Vì chưng thánh giá nào cũng nặng, nhưng điều quan trọng là thái độ của chúng ta đối với thánh giá cuộc đời. Nếu chúng ta nhìn công việc của mình như là quà tặng và phương tiện nên thánh thì mọi chuyện sẽ trở nên nhẹ nhàng. Chúa Giêsu là người sống có định hướng và lý tưởng hơn ai hết, khi Ngài đưa ra dụ ngôn mục tử nhân hậu và người chăn thuê. Người mục tử thì yêu mến công việc của mình, đảm nhận cônmg việc chăn dắt vì tình yêu. Đây không phải là điều dễ dàng. Nhưng cho dù gặp nhiều khó khăn gian khổ anh cũng dễ dàng vượt qua. Vì tình yêu đã cho anh sức mạnh.

Mỗi người chúng ta đều là mục tử trong địa vị và bổn phận của mình. Vì vậy chúng ta phải đối xử với nhau cách có trách nhiệm và hoàn toàn vì yêu thương. Tránh thái độ thờ ơ đối với nổi khổ của anh em, cũng như hành quyền trên người khác. Vì Chúa Giêsu đã chết và phục sinh cho tất cả chúng ta. Ngài là Thiên Chúa, là vị mục tử nhưng Ngài lãnh đạo dân Ngài bằng tình yêu chớ không bằng quyền lực.

Lạy Chúa là Đấng nhân hậu và hay thương xót. Xin cho chúng con vững tin vào tình yêu của Đức Kitô phục sinh, vị mục tử nhân hậu đã thí mạng vì chúng con. Xin cho chúng con tỏ lòng biết ơn Chúa qua việc đối xử tốt với anh em. Xin Chúa cũng ban thêm cho chúng con có nhiều vị mục tử biết quảng đại dấn thân hoàn toàn vì lòng yêu mến Chúa và các linh hồn. Amen.

15. Mục tử tốt – Lm. Giuse Trần Việt Hùng

Tình yêu Chúa cao vời biết bao, ngút cao như mây trời và mênh mang như biển cả. Chúa yêu thương con người qúa bội. Thiên Chúa đã hứa ban ơn cứu độ và đã thực hiện trọn vẹn lời hứa. Chúa Giêsu đã xuống thế mang thân phận con người để hoà nhập cuộc sống. Thiên Chúa làm người để cùng chia sẻ mọi nỗi truân chuyên, cơ cực, khổ đau, chối bỏ và ruồng rẫy trong thân phận người. Ngài đã dám hy sinh xả thân vì đàn chiên. Hình ảnh người mục tử chăn chiên thật ấn tượng. Chủ chiên đi trước và đoàn chiên theo sau. Chủ chiên mong tìm nguồn suối mát để chiên được giải khát. Chủ chiên đi tìm cánh đồng cỏ xanh tươi để chiên bồi dưỡng, nghỉ ngơi. Chúa Giêsu ví Ngài như người Chủ Chiên nhân lành.

Người mục tử tốt lành lo chu đáo cho mọi nhu cầu của đoàn chiên. Đối với người Dothái, hình ảnh người chăn chiên rất quen thuộc. Họ hiểu trọn vẹn ý nghĩa về vai trò của người chủ chiên và người làm thuê. Chúa Giêsu đã truyền dạy: “Tôi chính là Mục Tử nhân lành. Mục Tử nhân lành hy sinh mạng sống mình cho đoàn chiên” (Ga 10,11). Tác giả sách Tông đồ Công vụ đã viết về Chúa Giêsu chủ chiên tốt lành: “Chính Người là viên đá đã bị chư vị là thợ xây loại ra, đã trở thành viên đá góc tường”. Để được ơn cứu độ sẽ không có một Danh nào khác, mà chỉ nhờ Danh Chúa Giêsu Kitô.

Thư của Thánh Gioan Tông Đồ đã minh chứng rằng Thiên Chúa đã yêu thương chúng ta là dường nào. Ngài cho chúng ta được quyền làm con cái Thiên Chúa và hưởng nhờ ơn cứu độ. Ngài chăn dắt chúng ta như mục tử chăn dắt đoàn chiên mình. Thánh Gioan đã viết: “Chúa phán: Ta là mục tử tốt lành, Ta biết các chiên Ta và các chiên Ta biết Ta” (Ga 10,14). Chúa biết nhu cầu tâm linh của từng con chiên. Mục đích tối hậu là dẫn dắt mọi người về chung hưởng hạnh phúc viên mãn trong một đàn chiên theo một Chúa Chiên: “Tôi còn có những chiên khác không thuộc ràn này. Tôi cũng phải đưa chúng về. Chúng sẽ nghe tiếng tôi. Và sẽ chỉ có một đoàn chiên và một mục tử” (Ga 10,16).

Chúng ta biết rằng nhu cầu cuộc sống thì vô vàn và sức lực cùng khả năng của con người thì giới hạn. Sống giữa một xã hội đổi thay và hỗn hợp văn hoá, tuyền thống, ngôn ngữ và tôn giáo, chúng ta khó có thể đáp ứng thoả đáng mọi nhu cầu của con người. Để tìm một một nguồn dưỡng nuôi thích đáng, mỗi người đều phải cộng tác nâng đỡ và mở cửa tâm hồn đón nhận. Sống trong một nền văn hoá đa dạng có các phương tiện truyền thông tốc độ, người có trách nhiệm giáo dục và hướng dẫn cần tỉnh thức nhiều hơn. Đàn chiên không đơn thuần nhập đàn theo nhau tìm đến dòng suối mát hay cánh đồng tươi xanh để cùng ăn uống thoả thuê. Nhu cầu cuộc sống không đơn giản đi theo bầy đàn.

Sứ mệnh mục tử được lan trải và áp dụng trong các vai trò cụ thể qua sự dưỡng nuôi và giáo dục. Chúng ta đang cần có các mục tử tốt trong mọi bước đi của cuộc đời. Chúng ta cùng chia sẻ vai trò quan trọng này trong chức vụ là cha mẹ, huynh trưởng, nhà giáo dục, các thầy thuốc, bác sĩ, các công nhân viên, các quan chức chính phủ và các nhà giáo dục tôn giáo.

Tại gia đình, vai trò giáo dục chủ yếu là của cha mẹ, phụ huynh lo lắng cho con cái về mọi mặt. Hãy yêu thương và dùng thời gian ở bên để chia sẻ buồn vui và những khó khăn với con cái. Đôi khi có những đứa con ngỗ nghịch, chúng ta cần kiên nhẫn dạy bảo với tình thương bao dung. Cha mẹ phải luôn là mục tử gương mẫu dám hy sinh cho đàn con.

Nơi nhà trường, chúng ta cần các thầy cô. Các thầy cô cần học biết hoàn cảnh và nhu cầu của từng học sinh. Các em không phải là một đám học trò nhưng là từng cá vị có những khả năng riêng biệt cần phát triển. Kiến thức, văn hoá và đạo đức là tinh hoa cần được trau dồi và truyền đạt cho các thế hệ tiếp nối.

Trong nhà thương, cần có các bác sĩ và y tá như là từ mẫu. Các bác sĩ chăm sóc và chữa lành bệnh nhân và đối xử với họ đầy phẩm chất của một con người. Đem tình yêu thương để phục vụ đồng loại với lương tâm ngay chính. Chữa lành và cứu sống chứ không huỷ hoại và tiêu diệt.

Nơi công cộng và xã hội, chúng ta cần các nhân viên công chức lo cho sự an ninh trật tự, an vui và hạnh phúc chung của mọi người hơn là chỉ vì lợi ích riêng tư. Các nhân viên chính quyền lo cho dân như phụ mẫu.

Trong Giáo Hội, nơi nhà thờ và các trung tâm mục vụ, cần các tu sĩ nam nữ, các giám mục và linh mục phục vụ mọi người trong yêu thương. Hướng dẫn con đường tâm linh chính thật. Không gây hoang mang mập mờ làm lung lạc đức tin. Biết nêu gương sáng và chăm sóc lo lắng đời sống tâm linh cho các tín hữu. Đời sống phải đi đôi với lời giảng dạy. Giáo dân cần thấy bài giảng hơn là nghe bài giảng. Sống niềm tin một cách chân thành và trong sáng. Dám hy sinh xả thân vì anh chị em.

Trong gia đình nhân loại, mỗi thành viên đều nhận những vai trò khác nhau từ đời sống trong gia đình ra ngoài xã hội. Chúng ta không phân biệt giai cấp, chức vụ hay nguồn gốc, mỗi người đều có trách nhiệm và bổn phận lo xây dựng một cuộc sống xã hội tốt đẹp chung. Vì thế, chúng ta không thể đổ trách nhiệm cho riêng một thành phần nào. Ai cũng được kêu gọi đóng góp công sức và khả năng của mình để làm cho cuộc sống con người tươi đẹp hơn.

Chúng ta thường có khuynh hướng gán trách nhiệm, những lời trách móc và đổ lỗi cho người khác hơn là quy chiếu trách nhiệm cho chúng ta. Dễ dàng so sánh và phê bình người khác hơn là xét lại những ngôn hành của chính mình. Chúng ta nên nhớ rằng từ sự suy tư, lời nói đi tới hành động có một khoảng cách rất lớn. Mỗi người cần có một sự dấn thân tu tâm và quyết chí thực thi lời dạy hằng ngày. Nếu lời nói không đi đôi với việc làm thì ngôn hành trở thành bất nhất. Chỉ nói mà không làm. Ai trong chúng ta cũng có những kinh nghiệm tiêu cực này.

Chúa Giêsu là Chúa Chiên Lành. Chúng ta gẫm suy về những lời truyền dạy và thực hành của Chúa. Chúa Giêsu là mẫu gương tuyệt vời giúp chúng ta tu tập sống đạo. Chúa đã giảng và sống lời giảng qua sự cầu nguyện, yêu thương, hy sinh, tha thứ, khiêm nhường, từ bỏ và công bằng chân thật. Chúng ta cần tu tâm tích đức, tu tâm luyện tính và tu tâm hành đạo. Chúng ta đặt niềm tin vào Chúa Giêsu là Chúa, là Mục Tử và là Đấng Cứu Độ. Bước theo Chúa Chiên, chúng ta sẽ tìm được nguồn sống thật và no thoả trong nguồn suối ân tình.

Chúa Giêsu là Chủ Chiên và là cửa chuồng chiên. Đức Giêsu nói: “Thật, tôi bảo thật các ông: Tôi là cửa cho chiên ra vào” (Ga 10,7). Trong cuộc sống, có rất nhiều cánh cửa mở rộng đón mời chúng ta vào. Có những cánh cửa dẫn chúng ta vào con đường lầm lạc và hư mất. Có những cánh cửa đưa dẫn chúng ta xa lạc trong thế giới tục hoá với nền văn minh sự chết. Có những cánh cửa mở ra cho chúng ta tìm những thoả mãn hưởng lạc và vui thú truỵ lạc. Có những cánh cửa đưa chúng ta vào chung hưởng nguồn vui an lạc thật sự. Chúa Giêsu nói: “Tôi là cửa. Ai qua tôi mà vào thì sẽ được cứu. Người ấy sẽ ra vào và gặp được đồng cỏ” (Ga 10,9). Chúa Giêsu là cửa. Cửa của sự sống và sự sống lại. Đến với Chúa Giêsu và qua Ngài, chúng ta sẽ tìm được nguồn sống chan hoà trong niềm an vui, hy vọng và hoan lạc muôn đời.

16. Thái độ đối với công việc

Tin Mừng Chúa Nhật 4 Phục Sinh cho chúng ta hai cái nhìn của hai con người về cùng một công việc. Đó là chủ chăn là người chăn thuê.

Chúa Giêsu đưa ra hai tiêu chuẩn để phân biệt đâu là chủ chăn thật sự và người chăn thuê. Chủ chăn thật sự thì sẵn sàng hiến mạng sống mình để bảo vệ đàn chiên. Còn người chăn thuê thì không. Anh ta chỉ làm công. Và tiền lương là động lực duy nhất để lôi kéo anh ở lại với đàn chiên. Khi gặp nguy hiiểm, anh ta lập tức quay đi mặc tình cho đàn chiên phải đối diện với nguy hiểm.Cùng một công việc là chăn chiên. Nhưng hai người có hai thái độ hoàn toàn trái ngược nhau.

Vậy động lực nào đã làm cho người chủ chăn thật có thể quên mình vì đoàn chiên? Tôi thiết nghĩ, có lẽ vì anh ta yêu mến công việc của mình, và xem nó như là một hoài bảo, một phần của cuộc sống, một ơn gọi trong cuộc đời mà anh hằng tìm kiếm. Chăm sóc đoàn chiên đối với anh không phải là cái nghề, cũng không vì lương bổng nhưng tất cả chỉ vì lý tưởng.

Còn người chăn thuê thì không như vậy. Trong thâm tâm anh chỉ là người làm thuê. Nên hay xo đo, tính toán, ngại khó khại khổ... Nên công việc đối với anh luôn là gánh nặng.

Chúng ta thấy, cùng một công việc là chăn chiên nhưng hai người có hai cách nhìn hoàn toàn trái ngược nhau. Không phải công việc nặng nhọc nhưng nặng hay nhẹ là do tự mình cảm nhận. Người ta kể rằng: có anh chàng kia vác thập giá về thiên đàng. Cùng đi với anh là cả một đoàn người. Không ai bảo ai. Với cây thập tự trên vai. Mọi người cứ âm thầm tiến bước.

Nhưng anh chàng này thấy những người kia vác thập giá như mình sao họ lại đi cách nhanh nhẹn và vui vẻ. Nên anh cằn nhằn Chúa vì nghĩ rằng: Thiên Chúa thật bất công khi trao cho anh một thánh giá nặng hơn thánh giá của những người khác. Cứ thế, đi một quảng, anh dừng lại và tỏ thái độ không bằng lòng với Thiên Chúa. Cuối cùng Chúa hiện ra với anh và bảo: Không phải thánh giá của con nặng hơn của nhưng người kia đâu. Thánh giá của mọi người đều như nhau cả. Con hãy cố gắng lên.

Nhưng anh ta vẫn không chịu, nhất quyết cho là thánh giá của mình nặng hơn. Cuối cùng Chúa chìu anh ta nên Ngài nói: nếu con cảm thấy nặng thì con hãy cưa bớt đi. Vẻ mặt anh ta trở nên vui tươi hớn hở và anh nói: nếu Chúa cho phép con sẽ làm ngay. Ngay lập tức anh ta cưa bớt thánh giá của mình một khúc. Rồi anh vui vẻ lên đường.

Khi đến trước cổng thiên đàng mọi người đều dừng lại vì phía trước họ là một con sông. Muốn qua sông để vào thiên đàng thì mọi người phải lấy thánh giá của mình làm cầu để đi qua. tất cả đã qua sông và vào được thiên đàng. Sau cùng anh chàng này cũng đến. Anh dùng thánh giá định bắc qua sông để vào thiên đàng. Nhưng hỡi ôi! Vì bị cưa đi một khúc nên thánh giá của anh không thể nào chạm được bờ bên kia của thiên đàng nên anh đành đau khổ khi thấy những người khác vui vẻ ở bên kia.

Trong cuộc sống, nhiều lúc chúng ta giống như anh thanh niên trong câu chuyện trên. Chúng ta hay phiền trách Chúa tại sao để cho tôi đau khổ như thế này? Hay tại sao Chúa gởi thánh giá cho con nặng như vậy?

Lời Chúa hôm nay sẽ giúp cho chúng ta hiểu vấn đề này một cách thấu đáo. Vấn đề quan trọng không phải là thánh giá nặng hay nhẹ nhưng là ở thái độ của chúng ta đối với thánh giá. Nếu chúng ta đón nhận công việc với thái độ tự nguyện, vui tươi thì cho dù có nặng nề nhưng nhưng ta cũng cảm thấy nhẹ.

Vì hiểu rằng công việc làm tăng phẩm giá con người, làm cho con người trưởng thành hơn. Chính nhờ lao động mà con người phát huy hết tiềm năng mà Thiên Chúa đã ban.

Lạy Chúa! Xin cho chúng con hiểu rằng thánh giá là cái giá phải trả cho sự nên thánh. Xin cho con đón nhận tất cả nhưng gì Chúa gởi đế với tinh thần tự nguyện, chấp nhận tất cả với thái độ vui tươi, nhờ đó mà mỗi ngày chúng con được lớn lên.

17. Chủ chăn hoàn hảo – AM Trần Bình An

Người ta đã nghe các lời Đavít nói và thuật lại cho vua Sa un. Vua cho gọi Đavít đến. Đavít nói với vua Sa un: “Đừng ai ngã lòng vì nó. Tôi tớ ngài đây sẽ đi chiến đấu với tên Philitinh ấy.” Vua Sa un nói với Đavít: “Con không thể đến với tên Philitinh ấy để chiến đấu với nó, vì con chỉ là một đứa trẻ, còn nó là một chiến binh từ khi còn trẻ.”

Đavít thưa với vua Saun: “Tôi tớ ngài là người chăn chiên dê cho cha. Khi sư tử hay gấu đến tha đi một con chiên trong bầy gia súc, thì con ra đuổi theo nó và giật con chiên khỏi mõm nó. Nó mà chồm lên con, thì con nắm lấy râu nó, đánh cho nó chết. Tôi tớ ngài đã đánh cả sư tử lẫn gấu, thì tên Philitinh không cắt bì này cũng sẽ như một trong các con vật đó, vì nó đã thách thức các hàng ngũ của Thiên Chúa hằng sống.” Đavít nói: “Đức Chúa là Đấng đã giật con khỏi vuốt sư tử và vuốt gấu, chính Người sẽ giật con khỏi tay Philitinh này.” Vua Sa un nói với Đavít: ”Con hãy đi, xin Đức Chúa ở với con!” Vua Sa un lấy y phục của mình mặc cho Đavít, đội mũ chiến bằng đồng lên đầu và mặc áo giáp cho cậu. Đavít đeo gươm của vua ngoài y phục, rồi thử bước đi, vì cậu không quen. Đavít nói với vua Sa un: “Con không thể bước đi với những thứ này được, vì con không quen.” Rồi Đavít bỏ những thứ đó ra. Cậu cầm gậy trong tay, chọn lấy năm hòn đá cuội dưới suối, bỏ vào túi chăn chiên, vào bị của cậu, rồi tay cầm dây phóng đá, cậu tiến về phía tên Philitinh. (1 Sm 17, 31- 40)

Trích đoạn trong sách Samuen thứ nhất phác họa phần nào chân dung mục tử nhân lành. Đavít thuở thiếu thời đã dũng cảm chiến đấu với sư tử và gấu, để bảo vệ đoàn chiên chăn dắt. Nay sẵn sàng thân chinh giết Philitinh, Đavít dám hy sinh mạng sống cứu đoàn chiên của Thiên Chúa. Trong Tin Mừng của Thánh Gioan hôm nay, Đức Giêsu tuyên xưng là Mục Tử nhân lành với tất cả tình cảm, trách nhiệm và chịu chết để cứu đoàn chiên. “Tôi biết chiên của tôi, và chiên của tôi biết tôi, như Chúa Cha biết tôi, và tôi biết Chúa Cha, và tôi hy sinh mạng sống mình cho đoàn chiên.” (Ga 10, 14)

Đức Giêsu hiểu biết rành mạch từng con chiên trong đoàn chiên đông đảo vô số. Không những biết mặt mũi, vóc dáng, tên tuổi từng con, mà còn thấu hiểu cả tâm tính, đức hạnh để kỹ lưỡng chăm sóc, băng bó, dìu dắt, cứu giúp và hy sinh để chiên sống khỏe mạnh: “Ta đến để chúng được sống và sống dồi dào.” (Ga 10, 10)

Chủ Chiên phục vụ

Dĩ thực vi tiên, được ăn no đã là sung sướng như được ở cõi tiên rồi. Thế gian vẫn quan tâm nhiều đến cái ăn cái mặc, dĩ nhiên đó là nhu cầu chính đáng, nhưng sự lo lắng thái quá sẽ dễ quên đi điều còn vô cùng quan trọng và cấp bách hơn, như Đức Giêsu đã khẳng định với ma quỷ cám dỗ: “Người ta sống không chỉ nhờ cơm bánh, nhưng còn nhờ mọi lời miệng Thiên Chúa phán ra.” (Mt 4, 4)

Tuy nhiên, Đức Giêsu đã không nỡ để những ai theo Người chịu mãi cảnh đói khát, một khi đã bỏ mọi sự mà theo Người. Hai lần Người hóa bánh và cá ra nhiều cho hằng ngàn người được ăn no nê. Một lần sau khi Phục Sinh, Người cũng hóa bánh và cá phục vụ các môn đệ được sau đêm chài lưới đói khát, mệt nhọc, vất vả.

Đức Giêsu đã chăm lo đoàn chiên toàn tâm toàn ý với trách nhiệm rất cao, như sách Êdêkien đã ghi sấm ngôn của Đức Chúa: “Ta sẽ chăn dắt chúng trong đồng cỏ tốt tươi và chuồng của chúng sẽ ở trên các núi cao. Tại đó chúng sẽ nằm nghỉ trong chuồng êm ái, sẽ đi ăn trong những đồng cỏ mầu mỡ.” (Ed 34, 14)

Người ân cần chăm sóc mọi bề, sao cho đoàn chiên luôn ấm no, hạnh phúc: “Chúa chăn dắt tôi, tôi chẳng thiếu thốn gì.” (Tv 23,1)

Từ lương thực và nước uống vật chất, hữu hình, Đức Giêsu, Mục Tử Nhân Lành dẫn dắt tín hữu, con chiên đến nước trường sinh: “Ai uống nước tôi cho sẽ không bao giờ khát nữa. Và nước tôi cho sẽ trở thành nơi người ấy một mạch nước vọt lên, đem lại sự sống đời đời.” (Ga 4, 14) và lương thực đến sự sống đời đời là vâng phục theo Thánh Ý Thiên Chúa: “Lương thực của Thầy là thực hành ý muốn của Đấng đã sai Thầy, và hoàn tất công trình của Người.” (Ga 14, 34)

Chủ Chiên yêu thương

Mục Tử Nhân Lành chan chứa tình yêu, tận tụy với đoàn chiên: “Chúa tập trung cả đàn chiên dưới cánh tay: lũ chiên con, Người ấp ủ vào lòng, bầy chiên mẹ, cũng tận tình dẫn dắt.” (Is 40, 11)

Với tình yêu nồng nhiệt, Chủ Chiên đích thực không chỉ chăm lo, nuôi nấng, mà còn tận tình chăm sóc, quan tâm đến con đi lạc bầy, đau yếu, bệnh hoạn, để đi tìm về, cứu chữa, dưỡng nuôi, bảo vệ, gìn giữ: “Con nào bị mất, Ta sẽ đi tìm; con nào đi lạc, Ta sẽ đưa về; con nào bị thương, Ta sẽ băng bó; con nào bệnh tật, Ta sẽ làm cho mạnh; con nào béo mập, con nào khoẻ mạnh, Ta sẽ canh chừng.” (Ed 34, 16)

Đoàn chiên luôn được Chủ Chăn bảo vệ bình an, yên lành, trước những cơn bão táp cuộc đời hung hăng, dữ tợn, hiểm nguy, ào ạt đe dọa tràn đến: “Dầu qua lũng âm u con sợ gì nguy khốn, vì có Chúa ở cùng. Côn trượng Ngài bảo vệ, con vững dạ an tâm.” (Tv 23,4)

Mục Tử chân chính không chạy theo số đông, mà quên đi một con chiên đi lạc. Một con chiên lạc đối với Người cũng giá trị không kém chín mươi chín con ở lại: “Ai có một trăm con chiên mà có một con đi lạc, lại không để chín mươi chín con kia trên núi mà đi tìm con chiên lạc sao? Và nếu may mà tìm được, người ấy vui mừng vì con chiên đó, hơn là vì chín mươi chín con không bị lạc.” (Mt 18, 12-13)

Với trái tim nhân ái, vị Mục Tử Nhân Lành không muốn bất cứ ai bị hư mất. Nên Người quan tâm chiên đi lạc, chăm sóc chiên ốm yếu, bệnh tật, hoạn nạn, thương tích: “Tôi không đến để kêu gọi người công chính, mà để kêu gọi người tội lỗi sám hối ăn năn.” (Lc 5, 32). Mặc dù, Chủ Chiên nhìn thấu suốt đáy lòng những con chiên giả hình, kiêu ngạo, tham lam, cố chấp, ỷ lại, bất nghĩa, bất tín, bất trung, nhưng Người thương xót, không phạt vạ ngay, mà chỉ ân cần kêu gọi sám hối, ăn năn, cải tà quy chánh, với lòng thương xót để hồi phục và chữa lành.

Chủ Chiên hy sinh

Sấm ngôn của Thiên Chúa qua ngôn sứ Dacaria đã khẳng định: “Thiên Chúa sẽ cứu thoát dân Người, như mục tử cứu thoát đàn chiên.” (Dcr 9, 16) Nay Mục Tử nhân lành đã chu toàn thực hiện lời Thiên Chúa hứa ngàn xưa: "Ta là mục tử tốt lành. Mục tử tốt lành thí mạng sống vì chiên. Kẻ làm thuê không phải là chủ chiên, và các chiên không phải là của người ấy, nên khi thấy sói đến, nó bỏ chiên mà trốn.” (Ga 10, 11)

Thế nhưng muốn sống đời đời, con chiên phải dứt khoát quyết định đi qua cửa Chủ Chiên Nhân Lành: “Tôi là cửa. Ai qua tôi mà vào sẽ được cứu. Người ấy sẽ ra vào và gặp được đồng cỏ.” (Ga 10, 7) Dĩ nhiên, con chiên phải bỏ lại sau lưng những thứ hư ảo, phù phiếm kềnh càng, cả chính bản thân hẹp hòi, ích kỷ, nặng nề, mà cố gắng vác thập giá, trách nhiệm, bổn phận với gia đình , cộng đoàn, tha nhân, mới được cứu rỗi vĩnh cửu.

Hơn nữa Người còn tự nguyện trở nên lương thực cho đoàn chiên được no đủ, mạnh khoẻ, giầu sinh lực, can đảm thẳng tiến trên đường hy vọng: "Chính Ta là bánh ban sự sống. Ai đến với Ta, sẽ không hề đói; ai tin vào Ta, sẽ không hề khát bao giờ." (Ga 6, 24-35)

Tuyệt đỉnh chính là cuộc khổ nạn và Phục Sinh của Mục Tử Nhân Lành đã giải thoát đoàn chiên khỏi sự chết, mà dẫn vào cõi sống viên mãn muôn đời. Người chính là Chủ Chăn hoàn hảo độc nhất vô song, Người đích thực là Mục tử tốt lành thí mạng sống vì chiên.

“Chúa không sinh con để làm đàn cừu, đàn vịt, nhưng để lãnh đạo môi trường của con. Lãnh đạo là thúc đẩy, là lôi cuốn.” (Đường Hy Vọng, số 214)

Lạy Chúa Chiên Lành, Mục Tử chí nhân chí ái, xin luôn mãi kiếm tìm chúng con trở về đoàn tụ với đoàn chiên, mỗi khi chúng con đi lạc, ham vui đi hoang. Xin dạy bảo chúng con noi gương Người, cũng trở nên chủ chiên tốt lành từ gia đình, cộng đoàn, đến xã hội, hầu dẫn dắt mọi người về với Chúa.

Lạy Mẹ Maria nhân từ, Hiền Mẫu của chúng con, xin giúp chúng con biết yêu thương, phục vụ và hy sinh, hầu dẫn dắt mọi người về đường ngay nẻo chính, hiệp nhất trong Đoàn Chiên duy nhất của Chúa Giêsu. Amen.

18. Chúa Nhật 4 Phục Sinh

Chăn chiên là một nghề rất thịnh hành ở Palestina từ thời Cựu Ước cho tới thời Tân Ước. Người ta nuôi chiên vì nó mang lại nhiều nguồn lợi như sữa, thịt, lông... nên người Mục tử là hình ảnh rất quen thuộc đối với dân Israel.

Trong chăn nuôi vai trò và nhiệm vụ của mục tử rất quan trọng và khó khăn: vì không phải chỉ nuôi vài ba con chiên mà cả đàn lên tới mấy trăm hoặc mấy ngàn con chiên, muốn nuôi tốt một đàn chiên đông đúc như thế không phải chỉ cần đi cắt một mớ cỏ đem về là đủ, mà phải đi tìm những đồng cỏ lớn, và phải tiên liệu khi đàn chiên ăn hết đồng cỏ này thì phải dẫn đến đồng cỏ khác ngay; phải chọn những chỗ vừa có cỏ xanh vừa có bóng mát vừa có nước uống, ngoài ra còn phải bảo vệ chiên khỏi những nguy hiểm thường xuyên đe doạ như trộm cướp và thú dữ.

Có khi phải chiến đấu đến bị thương hoặc chết để bảo vệ đàn chiên, phải vất vả đi tìm những con chiên lạc. Người mục tử gắng bó mật thiết với đàn chiên nên phát sinh những tình cảm giữa chủ chăn và đàn chiên: người chăn chiên biết rõ từng con chiên với những đặc tính của nó, các con chiên cũng biết ai là chủ chăn của mình. Các chủ chăn thường đặt tên cho những con chiên làm "trưởng", ông chỉ cần gọi tên những con này, khi chúng đi theo chủ thì các con chiên khác cũng đi theo.

Ban đêm các mục tử thường nhốt chiên lại chung với nhau trên một khoảng đất trống có rào xung quanh, đến sáng các mục tử vào gọi tên các con chiên "tổ trưởng", chúng đi ra các chiên khác cùng đàn sẽ đi theo. Khi đếm đủ số, mục tử đi đầu dẫn đoàn chiên của mình ra đồng cỏ. Những con chiên không bao giờ nghe tiếng người lạ, nhưng sẽ bỏ chạy tán loạn.

Kinh Thánh thường dùng hình ảnh Mục tử hay chủ chăn để áp dụng cho những nhân vật lãnh đạo quan trọng trong Israel như Môisen, các Vua, các thẩm phán, các ngôn sứ. Đặc biệt nhất chính Thiên Chúa tự mô tả mình là mục tử (Tv 23, 80) và sau cùng Đấng Messia cũng được mô tả là Mục tử.

Quả thật, Chúa Giêsu là mục tử nhân lành, mục tử tốt, mục tử chăm sóc từng con chiên một, nhất là những con chiên yếu kém. Chúa Giêsu nhiều lần đã rơi lệ xót thương dân Do thái, vì họ như đàn chiên bơ vơ không người chăn dắt. Chúa giảng dạy, chỉ cho họ đường đi để có được hạnh phúc thật sự. Chúa cho họ ăn uống no nê trong những lần hoá bánh ra nhiều và dân chúng đã muốn tôn Ngài lên làm vua.

Chúa yêu thương những con chiên tật nguyền và chữa cho họ được lành bệnh chỉ nhờ vào lòng tin của họ. Đó là người mù từ thuở mới sinh, những người bị bại liệt, bị phong hủi, người đàn bà bị băng huyết, tất cả đều được Chúa Giêsu là mục tử chăm sóc chữa lành.

Những con chiên bị chết được Chúa cứu sống cho lành mạnh: đứa con gái ông Gairô, đứa con trai bà góa thành Naim, anh chàng Lagiarô bạn của Chúa, Chúa cứu chữa và thương xót những con chiên bị bệnh tật tinh thần như người phụ nữ phạm tội ngoại tình bị bắt quả tan, Chúa đến để cho chiên được sống và sống dồi dào.

Không những là chăm lo, cứu chữa mà Chúa còn hiến mạng sống vì đàn chiên của mình "không có tình yêu nào cao quý hơn là chết cho người mình yêu."

Ngày hôm nay, Chúa Giêsu vẫn là mục tử tốt đối với chúng ta. Chúa không ngừng ban ơn chăm sóc chúng ta qua các Bí tích. Chúng ta hãy cảm tạ Chúa không ngừng bằng đời sống thờ phượng Chúa hết lòng và yêu thương anh chị em chung quanh như Lời Chúa dạy.

19. Chủ chăn nhân lành – AM Trần Bình An

Trong đàn, thường có chiên chưa ngoan, nghịch ngợm, hay dại dột ham vui, mải mê đuổi theo những cánh bướm lả lướt, sặc sỡ, quyến rũ, hoặc thích lân la tìm kiếm hoa thơm cỏ lạ. Rồi lang thang vui chân lạc bầy, vô tình sa vào vòng vây sói dữ. Chủ Chăn Nhân Lành liền vội vã chạy đến che chở, giải thoát, cất tiếng an ủi, vỗ về đừng sợ, ngọt ngào gọi chiên trở về. Chẳng hề chần chừ, phân vân, bối rối, hay giả đui giả điếc, giả dại làm ngây, lưỡng lự lên tiếng hay không lên tiếng?

1. Chủ Chăn luôn âu yếm gọi tên và chăm sóc từng con chiên.

Người không thích chạy theo đám đông, không hoa mắt với những dãy số dài ngoằng, không hề mặn mà chạy theo thành tích tập hợp số đông xô bồ, mà mỗi cá thể chỉ được hiển thị bằng một con số lạnh lùng. Trái lại, Người quan tâm đến từng thân phận nhỏ nhoi, hèn mọn, chăm lo, gần gũi và thân mật gọi tên từng con, rổi dẫn chúng ra(Ga 10, 3)

Thậm chí, khi thấy một chiên bị lạc, Người không nỡ bỏ rơi, mà vội vàng tìm về cho bằng được. “Người nào trong các ông có một trăm con chiên mà bị mất một con, lại không để chín mươi chín con kia ngoài đồng hoang, để đi tìm cho kỳ được con chiên bị mất? Tìm được rồi, người ấy mừng rỡ vác lên vai. Về đến nhà, người ấy mời bạn bè, hàng xóm lại, và nói: "Xin chung vui với tôi, vì tôi đã tìm được con chiên của tôi, con chiên bị mất đó. (Lc 15, 4-6)

2. Chủ Chăn luôn bảo vệ và dưỡng nuôi chiên

Người luôn yêu thương, chu đáo bảo vệ và dẫn dắt chiên khỏi lạc lối, khỏi nguy hiểm đồi cao, vực thẳm, khỏi lang sói hung tàn, khỏi dã thú đe dọa, khỏi cạm bẫy ác nhân thù địch. Khi đã cho chiên ra hết, anh ta đi trước và chiên đi theo sau. (Ga 10, 4) Chiên muốn được an toàn, khỏe mạnh, hồi sinh, phải cậy nhờ Người nuôi dưỡng, bằng những thảo dược thần linh. Tôi là cửa. Ai qua tôi mà vào thì sẽ được cứu. Người ấy sẽ ra vào và gặp được đồng cỏ. (Ga 10, 9)

3. Chủ Chăn luôn luôn thấu hiểu và chiên luôn trông cậy Chủ.

Người luôn đồng hành, đồng cảm với chiên. Biết rõ những nhu cầu cấp bách của chiên, biết rành rẽ sức khỏe, sinh lực, lẫn năng lực, đồng thời biết cả những nhược điểm, yếu đuối, đam mê, dục vọng của chiên, để chăm sóc, giúp đỡ, vỗ về, hay bắt mạch kê toa chữa chạy. Ngược lại, nếu muốn tồn tại, sống còn, chiên cũng chỉ biết cậy trông vào Chủ Chăn Nhân Lành.

Chiên xa lánh chủ chăn giả mạo, kẻ chăn thuê, hoặc kẻ lạ nói tiếng lạ, bẻo mép, xảo ngôn, ngụy biện, nham hiểm đầu độc chiên bằng những tà thuyết, tà đạo phản nghịch với Tin Mừng. Vì thế, ngôn sứ Êdêkien đã phải nhắc lại cơn cuồng nộ của Thiên Chúa:

Đức Chúa là Chúa Thượng phán thế này: Khốn cho các mục tử Israel, những kẻ chỉ biết lo cho mình! Nào mục tử không chăn dắt đàn chiên sao? Sữa các ngươi uống, len các ngươi mặc, chiên béo tốt các người làm thịt; nhưng các ngươi lại không lo chăn dắt đàn chiên. Chiên đau yếu các người không làm cho mạnh. Chiên bệnh tật, các ngươi không chữa cho lành. Chiên bị thương các ngươi không băng bó. Chiên đi lạc các ngươi không đưa về. Chiên bị mất, các ngươi không chịu đi tìm. Các ngươi thống trị chúng một cách tàn bạo và hà khắc. Chiên của Ta tán loạn vì thiếu mục tử và biến thành mồi cho mọi thú dữ…

Vì thế, hỡi các mục tử, hãy nghe lời Đức Chúa. Ta lấy mạng sống Ta mà thề.- sấm ngôn của Đức Chúa là Chúa Thượng-, bởi chiên của Ta bị cướp phá và biến thành mồi cho mọi dã thú vì thiếu mục tử, bởi các mục tử chỉ biết lo cho mình, mà không chăn dắt đàn chiên cũa Ta, nên các mục tử hãy nghe Lời Đức Chúa, Đức Chúa là Chúa Thượng phán thế này: Đây Ta chống lại các mục tử. Ta sẽ đòi lại chiên của Ta; Ta sẽ không để chúng chăn dắt chiên…Ta sẽ giải thoát các chiên khỏi miệng chúng, để chiên Ta không còn làm mồi cho chúng nữa.(Ed 34, 2-10)

Chiên hiểu tấm lòng từ bi nhân ái của Chủ Chăn, cũng như đặt hết niềm trông cậy, phó thác vào Chủ Chăn. Chúng nhận biết tiếng của anh. Chúng sẽ không theo người lạ, nhưng sẽ chạy trốn, vì không nhận biết tiếng người lạ. (Ga 10, 5) Kẻ trộm chỉ đến để ăn trộm, giết hại và phá hủy.( Ga 10, 10) Người làm thuê, vì không phải là Mục Tử, và vì chiên không thuộc về anh, nên khi thấy sói đến, anh bỏ chiên mà chạy. Sói vồ lấy chiên và làm cho chiên tán loạn, vì anh ta là kẻ làm thuê, không thiết gì đến chiên.(Ga 10, 12-13) Tôi biết Chiên của tôi, và chiên của tôi biết tôi.(Ga 10, 14)

4. Chủ Chăn luôn tìm các chiên khác đem về chung một đàn.

Người không chỉ hài lòng với chiên ngoan đang chăn dắt, mà còn sẵn lòng tìm kiếm những chiên khác còn bơ vơ, lạc loài, đem về chung đàn. Sứ vụ muôn thuở của Chủ Chăn Nhân Lành, là quy tụ lại muôn chiên tứ phương, hầu chúng đều được no thỏa trong đồng cỏ xanh tươi, được sống viên mãn. Tôi còn có những chiên khác không thuộc ràn này. Tôi cũng phải đưa chúng về. Chúng sẽ ghe tiếng tôi. Và sẽ chỉ có một đòan chiên và một mục tử. (Ga 10, 16)

5. Chủ Chăn hy sinh để cứu rỗi chiên

Người chẳng tiếc mạng sống, mà sẵn lòng chịu hy sinh, chịu khổ nạn, chịu chết đi, để cứu vớt chiên được sống, thoát khỏi kiếp trầm luân vĩnh viễn. Phần tôi, tôi đến để cho chiên được sống và sống dồi dào. (Ga 10, 10) Tôi chính là Mục Tử nhân lành. Mục Tử nhân lành hy sinh mạng sống vì đoàn chiên. Tôi hy sinh mạng sống mình cho đoàn chiên. (Ga 10, 15)

Lạy Chúa Giêsu, xin cho con biết lắng nghe tiếng Chúa gọi, mỗi khi con lỡ bước lạc bầy, để con tỉnh ngộ, nhận biết và đi theo Chúa luôn mãi.

Lạy Mẹ xin cho nhiều người mở lòng đón nhận tiếng Chúa mời gọi, để dâng hiến phục vụ tích cực Nước Chúa, cũng như nhắc nhở con luôn cộng tác vào việc chăm sóc Ơn Gọi. Amen.

20. Chúa Nhật 4 Phục Sinh

Chúa nhật thứ tư Phục sinh bao giờ cũng là Chúa nhật Chúa Chiên Lành.

Có bao giờ anh chị em và các bạn tự dặt cho mình câu hỏi này: Bạn là ai? Tôi là ai? Tôi từ đâu đến? Tôi sẽ đi về đâu? Cuộc sống này có ý nghĩa gì?.....Có lẽ khi đặt câu hỏi như thế, chúng ta sẽ cho rằng đấy là vấn đề xa lạ, trừu tượng, không ăn nhập gì đến cuộc sống hiện tại của tôi. Không xa lạ đâu. Có chăng là vì chúng ta quen sống thực dụng quá, cho nên chúng ta không để ý đến thôi. Nhưng đấy lại là một câu hỏi rất căn bản. Hay nói một cách khác Chúa Giêsu là ai đối với tôi?

Và Ngài đã trả lời chúng ta trong Chúa Nhật 4 Phục Sinh nầy: "Ta là Mục tử tốt lành. Ta biết các chiên ta " ( x.Yn 10,14). Nhưng cái biết của Chúa Giesu không phải chỉ là cái biết thuần tuý, mà là cái biết của con tim và bằng con tim. Khi Chúa Giêsu nói rằng: " Tôi biết chiên của tôi ", thì đấy không phải chỉ là cái biết thuần tuý của lý trí mà là cái biết của tình yêu. Cái biết của một người không ngại chung chạ, gần gũi với những kẻ tội lỗi và những kẻ bị loại trừ ra khỏi xã hội để cảm thông, chia sẻ và cứu chữa họ. Cái biết của một người cha đang đợi chờ dứa con đi hoang trở về. Cái biết của một người không cầm được nước mắt khi đứng trước cái chết của đứa con một bà goá thành Naim. Cái biết của một vì Thiên Chúa không ngại để quỳ xuống rửa chân cho đám học trò của mình như một tên đầy tớ vậy. Cái biết của một người chấp nhận hy sinh mạng sống mình vì người khác và cho người khác được sống... Chính vì thế mà Ngài nói thêm: "Ta đến để cho chiên được sống và sống dồi dào." (Ga 10,10)

Chúa Giêsu là đấng duy nhất đem lại cho ta câu trả lời trọn vẹn nhất.

Như vậy, anh chị em và các bạn hỏi tôi, làm sao tôi có thể cảm nhận được chức năng Mục tử của Chúa Giêsu đây, khi mà cuộc sống tôi có biết bao nhiêu là khó khăn từ vật chất cho đến tinh thần? Làm sao chức năng mục tử của Chúa Giêsu được tiếp nối trong lịch sử nhân loại và trong mọi hoàn cảnh cửa cuộc sống con người. Chúa Giêsu đã nghĩ đến điều đó từ lâu. Cho nên Ngài đã để lại trong Hội Thánh những con người có khả năng chia sẻ và tiếp tục sứ mạng mục tử ấy.

Đó là các Giám mục, các Linh mục. Đúng như thế. Các Ngài là những người được mời gọi sống theo tinh thần của Vị Mục Tử nhân lành để dẫn dắt đàn chiên Chúa hôm nay.

Sống tinh thần của Vị Mục Tử nhân lành còn là tất cả những ai có trách nhiệm với cộng đoàn của mình: Cha mẹ không phải là mục tử cho con cái mình sao? Các giáo viên lại chẳng phải là những mục tử cho học trò của mình à? Và trong mối hiệp thông của Hội Thánh, của con người, chúng lại không có trách nhiệm với người bên cạnh mình hay sao. Nói cách khác, chúng ta lại chẳng phải là mục tử của họ hay sao? Một lời thăm hỏi, một lời dộng viên khích lệ, một ánh mắt cảm thông, một con tim biết rung động và thổn thức, một hành vi chia sẻ, một cử chỉ bái ái yêu thương... Tất cả chẳng là gì so với người khác, nhưng đấy lại là con tim, ánh mắt, việc làm cho một thế giới đang thiếu vắng tình yêu và một xã hội đang đói tình người

Thưa anh chị em và các bạn, Chúa nhật hôm nay được gọi là Chúa nhật Chúa Chiên nhân lành, nhân dịp xin anh chị em hãy chiêm ngắm lại chân dung của vị mục tử nhân lành Giêsu để chúng ta biến đổi cái nhìn và cách sống sao cho cuộc đời này được đẹp hơn cho mình và cho tha nhân.

21. Mục tử tốt lành & Kẻ làm thuê

(Suy niệm của John W. Martens - Văn Chính, SDB chuyển ngữ)

“Người làm thuê, vì không phải là mục tử, và vì chiên không thuộc về anh, nên khi thấy sói đến, anh bỏ chiên mà chạy. Sói vồ lấy chiên và làm cho chiên tán loạn, vì anh ta là kẻ làm thuê, và không thiết gì đến chiên” (Ga 10,12-13).

Trong 4 Ezra 5,19, một bản văn khải huyền Do thái vào thế kỷ thứ 1 sau Công nguyên, Ezra bị chất vấn bởi “Phaltiel, một thủ lãnh của dân” về việc ông có biết rằng “dân Ít-ra-en đã được ủy thác cho ông trong miền đất lưu đày không? Vậy hãy đứng lên và ăn chút bánh, đừng bỏ rơi chúng tôi như một người mục tử bỏ rơi đàn chiên trước sự tấn công của đàn sói dữ tợn”. Hình ảnh ở đây tương tự với hình ảnh người mục tử mà Tin mừng Gio-an đã viết, trong đó Đức Giê-su nói: “Ta là Mục tử tốt lành. Người mục tử tốt lành hy sinh mạng sống mình vì đàn chiên. Người làm thuê, vì không phải là mục tử, và vì chiên không thuộc về anh, nên khi thấy sói đến, anh bỏ chiên mà chạy. Sói vồ lấy chiên và làm cho chiên tán loạn, vì anh ta là kẻ làm thuê, và không thiết gì đến chiên”.

Trong tác phẩm “Hãy để các trẻ em đến với Ta”, Cornelia Horn và tôi đã viết “Trình thuật về Người Mục tử tốt lành trong Tin mừng Gioan chương 10 đã phác họa cho chúng ta thấy một dung mạo thần học về Tình yêu của Đức Giê-su đối với dân của Ngài, thế nhưng lối ám chỉ về Tình yêu của Đức Giê-su lại được lấy từ những gì rất quen thuộc trong cuộc sống. Đức Giê-su không phải là một “kẻ làm thuê” (misthotos), nhưng là một người biết chăm sóc đàn chiên, một người dám hy sinh mạng sống mình vì đàn chiên (Ga 10,11-15). Trái lại, những kẻ làm thuê thì sẽ làm gì khi sói dữ đến tấn công? Nó sẽ chạy trốn”.

Những kẻ làm thuê được Đức Giê-su xác định rõ ràng trong lối ám dụ này. Vậy nếu Đức Giê-su là Mục Tử tốt lành, vậy ai là kẻ làm thuê? Đó là những kẻ mà trong 4 Ezra mô tả, những nhà lãnh đạo tôn giáo Do thái đã không chăm lo cho đàn chiên như một người mục tử tốt lành. Một khi dùng thứ hình ảnh thực tế trong đời sống nông nghiệp và chăn nuôi rất quen thuộc với dân chúng, hẳn dân chúng sẽ hiểu ngay lập tức, và lên án những kẻ chăn thuê.

Đức Giê-su chăm sóc, lo lắng cho dân chúng là đàn chiên, vì họ là chiên của Ngài và Ngài sẽ bảo vệ họ. Chuyện này thật hiển nhiên, tuy thế hình ảnh người mục tử này xem ra có vẻ kỳ lạ, khi Đức Giê-su nói: “Và Tôi sẽ hiến mạng sống mình vì đàn chiên”. Những con chiên có xứng đáng với việc này không? Đàn chiên có đáng để người mục tử hy sinh mạng sống của mình không? Nếu người mục tử chết vì đàn chiên, thì ai sẽ bảo vệ chúng? Hình ảnh này xem ra có sự phi lý nào đó trong việc Đức Giê-su hy sinh mạng sống vì nhân loại. Thật ra, sự hy sinh này chỉ thực sự có nghĩa nếu như nhờ đó mà đàn chiên sẽ được bảo vệ tốt hơn nữa.

Đức Giê-su dùng chính trường hợp này để nói về cái chết của Ngài, một cái chết sẽ “đưa về những chiên khác không thuộc về ràn này… Như thế, sẽ chỉ có một đàn chiên và một mục tử.” Đức Giê-su nói về việc hy sinh mạng sống của Ngài, nhưng “để rồi lấy lại. Mạng sống của tôi, không ai lấy đi được, nhưng chính tôi tự ý hy sinh mạmg sống mình. Tôi có quyền hy sinh và có quyền lấy lại mạng sống ấy. Đó là mệnh lệnh của Cha tôi mà tôi đã nhận được.” Như vậy thoạt đầu, việc chết cho đàn chiên dường như để nhằm tới mục đích là chăm sóc đàn chiên, thế nhưng đó cũng chính là lý do để cho đàn chiên được phát triển và lan rộng như ngày nay ở trên khắp thế giới.

Khi “các thủ lãnh trong dân và các kỳ mục” chất vấn Phê-rô để xem ông đã làm thế nào khiến người què được chữa lành; Phê-rô trả lời rằng chuyện đó là “do danh Đức Giê-su Na-da-rét, Đấng mà các ông đã đóng đinh vào thập giá, nhưng Thiên Chúa đã làm cho Ngài trỗi dậy từ cõi chết. Chính Đức Giê-su là ‘viên đá bị các ông là thợ xây loại bỏ, nhưng lại trở thành đá góc tường’. Ngoài Ngài ra, không ai đem lại ơn cứu độ; vì dưới gầm trời này, không có một danh nào khác đã được ban cho nhân loại, để chúng ta phải nhờ vào danh đó mà được cứu độ” (Cv 4,8-12).

Vị mục tử tốt lành không chỉ cứu đàn chiên qua việc hy sinh mạng sống mình cho chúng, nhưng có khả năng làm cho chúng không còn là những con chiên nữa, mà “tất cả chúng ta được gọi là con Thiên Chúa – mà thật sự chúng ta là con Thiên Chúa… Anh em thân mến, hiện giờ chúng ta là con Thiên Chúa; nhưng chúng ta sẽ như thế nào, điều ấy chưa được bày tỏ. Chúng ta biết rằng khi Đức Ki-tô xuất hiện, chúng ta sẽ nên giống như Người, vì Người thế nào, chúng ta sẽ thấy Người như vậy” (1Ga 3,1-2). Tất cả chúng ta được cứu độ và trở thành con cái Thiên Chúa, nhưng mục tiêu tối hậu, một điều chúng ta không tưởng tượng ra được, là chúng ta trở nên giống như vị Mục Tử Tốt Lành.

Suy nghĩ: Trở thành chiên trong đàn chiên của Đức Giê-su có nghĩa là thế nào? Trở thành con cái Thiên Chúa có nghĩa ra sao?

22. Hiến mạng vì đoàn chiên

(Suy niệm của Lm. Minh Vận, CMC)

Tại San Salvador ngày 24.3.1980, Đức Tổng Giám Mục Oscar Romeno đang sốt sắng dâng Thánh Lễ, thì bỗng nhiên một phát súng từ một kẻ sát nhân nào đó, bay tới trúng trái tim ngài, khiến ngài tắt thở ngay tại chỗ. Chỉ trước đó vài phút, ngài đã giảng một bài thật hùng hồn về niềm hy vọng tràn đầy vào hạnh phúc vĩnh cửu của con cái Chúa; trong đó, ngài tha thiết khuyên Giáo Dân hãy hy sinh phục vụ tha nhân theo mẫu gương hy sinh bác ái của Chúa Kitô.

Sau lúc đọc lời truyền phép, biến đổi bánh rượu trở nên Mình Máu Thánh Chúa, ngài được tràn đầy sung sướng thốt lên những lời sau hết này: "Chớ gì Thân Thể đã chịu sát tế và Máu Thánh đã đổ ra vì nhân loại, tăng thêm sức mạnh cho thân xác và khí huyết chúng ta, để chúng ta có thể hy sinh bản thân chúng ta, chịu đau khổ và tử nạn như Chúa Kitô, để có thể trao tặng cho Dân Chúa một viễn tượng công lý và Hòa Bình".

Từ ngày Đức Tổng Giám Mục Romeno tranh đấu đòi nhân quyền cho Giáo Dân của ngài đang bị áp bức, ngài đã quá biết rằng tính mạng ngài đang bị đe dọa. Dầu vậy, Ngài vẫn cương quyết hô hào dân chúng chống lại sự áp bức bất công và đòi quyền tự do cho con người. Một lần kia đầy lòng tin tưởng ngài đã quả quyết với các phóng viên báo chí rằng: "Mặc dầu kẻ thù có giết chết tôi, tôi cũng sẽ "Chỗi dậy" giữa dân của tôi". Bởi vì Đức Tổng Giám Mục rất thương mến Giáo Dân của Ngài tại San Salvador, và chính bởi thế, ngài đã chịu chết để bênh vực quyền lợi cho họ. Ngài đã thực sự làm ứng nghiệm nơi bản thân ngài lời Chúa phán trong bài Tin Mừng chúng ta vừa nghe: "Ta là Mục Tử nhân lành, Mục Tử nhân lành đã hiến mạng sống mình vì Đoàn Chiên... Ta biết chiên của Ta và Ta hy hiến mạng sống Ta vì chiên của Ta".

I. MẪU GƯƠNG CỦA CÁC VỊ CHỦ CHĂN

Chúa Kitô tự xưng mình là Mục Tử Nhân Lành. Chúa đã dùng một hình ảnh rất quen thuộc trong đời sống người Do Thái: Đó là hình ảnh người chăn chiên, để mặc khải cho chúng ta nhận biết tình thương của Thiên Chúa đối với nhân loại. Vì thương yêu, Thiên Chúa đã tạo dựng con người, như một thụ tạo đặc biệt giống hình ảnh Chúa và giống bản tính Người. Chúa còn quan phòng, săn sóc, bảo vệ, che chở và dưỡng nuôi; cung cấp mọi nhu cầu cần thiết để chúng ta sống mà phụng sự Người, hầu có thể đạt tới cùng đích tối hậu là hạnh phúc vĩnh cửu Người đã sắm sẵn cho chúng ta trên Quê Trời.

Sau khi nguyên tổ phạm tội bất tuân lệnh Thiên Chúa, Người đã sai Đấng Cứu Thế đến trần gian, như hiện thân của lòng nhân từ, như Mục Tử Nhân Lành chăn dắt Đoàn Chiên của Người là tất cả chúng ta, ban lời giáo huấn làm lẽ sống hướng dẫn cuộc đời, rộng tay ban phát mọi ơn lành. Sau cùng, Người đã hiến chính mạng sống mình để đền tạ phép công bình Thiên Chúa, đền phạt tội lỗi chúng ta, lập nên Giá Ơn Cứu Độ cho chúng ta và cho tất cả những ai thành tâm thiện chí, muốn hưởng nhờ công Ơn Cứu Độ của Người.

Chúa còn thiết lập Giáo Hội, chỉ định Hàng Giáo Phẩm như các vị Chủ Chăn, trao quyền chăn dắt Đoàn Chiên Chúa, cai quản, giáo huấn và thánh hóa Đoàn Chiên Chúa trao phó cho các Ngài, đặt mình như mẫu gương trọn hảo cho các ngài noi theo bắt chước trong khi thi hành sứ mạng Ngài đã trao phó.

II. CHỦ TRƯƠNG CỦA GIÁO HỘI CÔNG GIÁO

Chính vì thấu hiểu giáo huấn của Chúa Kitô, nên Giáo Hội Công Giáo chúng ta đã thiết lập luật độc thân cho Hàng Giáo Phẩm, để các ngài được theo sát mẫu gương của Thầy Chí Thánh, Đấng thiết lập Giáo Hội, hy hiến tất cả bản thân và cả cuộc sống để phục vụ Đoàn Chiên đã được ủy thác cho các ngài. Nhưng ngày nay có nhiều người đã đưa ra những luận điệu có vẻ xây dựng, đề nghị cho các Linh Mục được lập gia đình giống như các Mục Sư Tin Lành, để cứu vãn tình trạng thiếu ơn gọi, khan hiếm Linh Mục, vì sợ rằng mai ngày không còn đủ Tông Đồ làm việc cho Chúa, thiệt hại cho các linh hồn.

Nhưng chúng ta hãy nghe thuật lại những phức tạp sau đây, đã được chính các vị Chủ Chăn tiết lộ về tình trạng của các giáo phái có luật cho phép Linh Mục lập gia đình và Mục Sư có đôi bạn.

Đây là những nhận định của các vị hữu trách trong các giáo phái, đã chân thành chia sẻ với các vị Chủ Chăn Công Giáo trong một phiên họp thân mật:

1. Mục Sư Jungmann nói: "Qúi vị đừng nghĩ rằng chỉ có Giáo Hội Công Giáo của quí vị gặp khủng hoảng, bên Tin Lành chúng tôi còn gặp khủng hoảng nặng hơn bên quí vị rất nhiều.

2. Trong một cuộc họp mặt giữa Linh Mục Công Giáo và Mục Sư Tin Lành, một Mục Sư phát biểu về đời sống độc thân: "Tôi bắt đầu hiểu giá trị đời sống độc thân nơi Giáo Hội Công Giáo. Tôi cảm thấy các Cha là anh em với nhau, và tạo nên một gia đình thực sự, chúng tôi không thể nói được như thế đối với chúng tôi... Nếu một Mục Sư nào đó thành công, tôi không sung sướng gì; nếu một Mục Sư nào đó thất bại, tôi cũng không đau xót gì với ông. Giữa chúng tôi không có bầu khí gia đình, họa chăng cũng chỉ có giữa vợ chồng chúng tôi thôi".

3. Đức Tổng Giám Mục Công Giáo ở Beyrouth (Liban) tâm sự: "Các Đức Cha hãy cố giữ lấy kho tàng quí báu của Giáo Hội Latinh, tức là luật Linh Mục độc thân. Tôi đã có nhiều kinh nghiệm trong vấn đề này; vì Giáo Phận tôi, một Giáo Phận theo nghi lễ Đông Phương: Có Linh Mục độc thân và có Linh Mục lập gia đình. Lắm vấn đề phức tạp mà quí vị không thể tưởng tượng được".

4. Giáo Hội Công Giáo chúng tôi cũng như bên Chính Thống Giáo luôn nuôi ở tòa Giám Mục vài Cha sống độc thân, để dự phòng sau này làm Giám Mục kế vị chúng tôi, vì Giáo Luật đòi buộc Giám Mục phải sống độc thân.

5. Lại còn phức tạp do luật buộc Linh Mục chỉ được kết hôn một lần trước khi chịu Chức Thánh. Có những trường hợp Linh Mục mới có 30 hoặc 35 tuổi, vợ ông đã chết, tay bồng tay bế, lũ con nheo nhóc, không ai nuôi dưỡng, thật nan giải.

6. Trong việc mục vụ càng phức tạp hơn: Mặc dầu tập quán Linh Mục lập gia đình đã có từ xưa truyền lại, Giáo Dân vẫn quí mến Linh Mục độc thân hơn, các ngài dù ở xa hoặc đi đến đâu, họ cũng tìm cách gặp gỡ, để xưng tội và xin lễ.

7. Linh Mục có gia đình chỉ phục vụ trọn vẹn ngày Chúa Nhật, còn các ngày khác họ phải lo làm ăn để nuôi sống gia đình. Như thế làm sao tiếp xúc được với mọi người.

8. Thuyên chuyển một Linh Mục có gia đình thật là một vấn đề khó khăn. Được lệnh ông sẽ bảo: "Con sẵn sàng, nhưng vợ con mắc làm ở sở kia, các cháu lại đang học ở trường nọ, gia đình con không cùng đồng tâm đến địa phương đó".

9. Có khi Linh Mục thì tốt, nhưng bà vợ hoặc con cái chưa nói là xấu, chỉ không được Giáo Dân trong xứ có thiện cảm, thì cũng đủ để họ ghét luôn cả Linh Mục, rồi dần dà xa việc đạo. Trường hợp mà xảy ra thù hằn thì còn mất cả Đức Tin nữa. Nếu thuyên chuyển Linh Mục ấy không được, thì cha truyền con nối, tiếp tục giữ Giáo Xứ từ thế hệ này qua thế hệ khác, làm cho cả Xứ Đạo phải chịu sự áp bức của một gia đình, nên đời sống đạo hạnh sa sút không thể lường được.

Kết Luận

Là con cái Chúa và Giáo Hội, chúng ta hãy nên giống Chúa sẵn sàng hy sinh tư lợi, tư kỷ, tư kiến, để hy hiến bản thân phục vụ tha nhân, đem Ơn Cứu Độ của Chúa đến cho họ, an ủi những người sầu khổ, nâng đỡ kẻ túng thiếu nghèo nàn, cầu nguyện cho những người bị bách hại, tha thứ cho kẻ chống đối mình, nâng dậy kẻ yếu đuối sa ngã.

Đặc biệt cầu cho mọi thành phần của Giáo Hội được luôn trung kiên noi theo gương Chúa Kitô, để Hàng Giáo Phẩm, Giáo Sĩ giữ vững truyền thống luật độc thân thánh thiện của chức Linh Mục, hầu các Vị Chủ Chăn có thể chu toàn sứ mạng chăn dắt Đoàn Chiên và nên gương mẫu đời sống trong sạch, thánh thiện cho Đoàn Chiên Chúa trao phó cho các Ngài.

23. Mục tử tốt lành thí mạng sống vì chiên

(Suy niệm của Lm. Antôn Nguyễn Văn Độ)

Lễ “Chúa Chiên lành” là lễ của Chúa Giêsu, Đấng đã tự xưng "Ta là mục tử tốt lành" (Ga 10, 11). “Mục tử” là một hình ảnh rất quen thuộc của nền văn minh nông nghiệp còn trong trạng thái thô sơ của thời du mục vùng Trung Đông. "Người chăn chiên" được Chúa Giêsu dùng để diễn tả tương quan vừa mật thiết, vừa rất "dễ thương" giữa Người và chúng ta.

Chúa là mục tử

Thông thường, trong Cựu Ước, người ta gọi Thiên Chúa là mục tử của dân Ngài (St 49, 24 – 31; Gr 31, 10; Mk 7,14 v.v...) Sự so sánh này có nguồn từ đầu lịch sử thánh, vì dân được chọn là dân du mục trên hành trình về Đất Hứa, trước hết là Abraham từ Ur đến Canđê, thứ đến là Môisen, kẻ chăn cừu nhận được mạc khải từ bụi gai đang cháy trong sa mạc, cho tới Đavít cậu bé chăn cừu ở Belem.

Hình ảnh Chúa Giêsu Mục Tử nhân lành là một trong những hình ảnh lâu đời nhất của Kitô giáo. Hình ảnh này được tìm thấy trong các hang toại đạo, người ta khắc vẽ Chúa Giêsu với vẻ dịu dàng và trìu mến của người chăn chiên, vác chiên trên vai, tìm kiếm con chiên lạc, đưa chiên về với đàn của chúng để cùng chia sẻ một đồng cỏ xanh tươi. Khi lấy lại hình ảnh người mục tử và tự ví mình như thế, Chúa Giêsu đưa chúng ta về với hình ảnh cổ xưa trong Kinh Thánh, chứng tỏ Thiên Chúa không chỉ là Đấng dẫn dắt dân, hơn thế nữa còn là Đấng trao ban sự sống cho dân, sự sống ấy bắt nguồn từ tình yêu hỗ tương giữa Chúa Cha và Chúa Con, vì trong Người, mệnh lệnh và tự do đồng nhất với nhau: "Ta có quyền thí mạng sống và cũng có quyền lấy lại. Đó là mệnh lệnh Ta đã nhận nơi Cha Ta "(Ga 10, 18).

Mục tử tốt lành thí mạng sống vì chiên

Chúa Giêsu yêu thương con người bằng một tình yêu thí mạng khi tự ví mình là "mục tử tốt lành"sẵn sàng thí mạng vì đoàn chiên. Người nói thẳng: "Ta là mục tử tốt lành" (Ga 10, 11). Đối với Chúa Giêsu, tất cả là hiện tại, không có gì là quá khứ hay tương lai hết. Điều này đã được nói trong sách Khải Huyền: "Ta là Alpha và Ômêga chính là Ta, Chúa, Thiên Chúa phán, Ðấng đang có, đã có, và sẽ đến, Ðấng toàn năng!" (Kh 1,8). Và trong sách Xuất Hành: "Ngươi sẽ nói với con cái Israel thế này: "Ta có" đã sai tôi đến với các người!” (Xh 3,14).

"Ta là mục tử tốt lành". Từ "mục tử" có nguồn gốc từ động từ "chăn nuôi". Chúa Giêsu Kitô nuôi dưỡng chúng ta bằng chính thịt máu mình hằng ngày trong bí tích Mình Thánh. Khi Samuen hỏi Giêsê, cha của Đavít: "Các cậu này tất cả là con trai của ông sao?" Ông đáp: "Còn đứa nhỏ nhất nữa; này nó đang phải chăn cừu!" (1S 16,11). Đavít, một con người bé nhỏ và khiêm nhu, đã chăn sóc đoàn chiên mình như một người mục tử.

Chúng ta cũng đọc thấy trong sách Isaia: "Như mục tử, Người chăn đàn chiên của Người, cánh tay Người thâu họp chúng lại; Người bồng chiên con và dìu đi cừu mẹ nuôi con" (Is 40,11)... Quả thật, mục tử tốt lành dẫn chiễn tới đồng cỏ xanh tươi, tập hợp những con chiên yếu kém không thể đi được; vác chúng trên vai, ôm chúng vào lòng; như người mẹ bồng ẵm con thơ. Chúa Giêsu cũng làm như thế: hàng ngày, Người nuôi dưỡng chúng ta bằng những Lời Hằng Sống và các bí tích của Hội Thánh. Người giang cánh ta trên thập giá để thâu họp "con cái Thiên Chúa tản mác về lại làm một" (Ga 11,52). Người đón nhận chúng ta vào lòng nhân ái của Người, như mẹ hiền ấp ủ con thơ.

Thật là hình ảnh cụ thể tuyệt đẹp và đầy cảm động về một Vì Thiên Chúa, Đấng Tạo Hóa đã làm đối với chúng ta là những tạo vật, những con chiên của Ngài. Chúa Giêsu, Con Thiên Chúa làm người, được Chúa Cha phái đến, cũng tuyên bố: "Ta là mục tử tốt lành, Ta biết các chiên Ta và các chiên Ta biết Ta" (Ga 10, 14 ).

Hôm nay, mỗi người chúng ta tự hỏi: tôi có phải là chiên của Chúa không? Nếu phải thì tôi có biết Chúa không và nếu biết thì biết thế nào? "Biết" ở đây, không có nghĩa là "biết" nhờ đức tin, nhưng là "biết" nhờ đức mến. "Biết" không có nghĩa là "biết" được diễn tả qua thái độ tin, nhưng là "biết" được diễn tả qua việc làm. Chính thánh Gioan Tông Đồ đã viết điều này và làm chứng ở nơi khác: "Ai nói mình biết Thiên Chúa mà không tuân giữ các điều răn của Người, đó là kẻ nói dối"(1 Ga 2, 4).

Vậy, ai chân thành đi theo Chúa Giêsu thì được nuôi dưỡng nơi đồng cỏ xanh tươi muôn đời. Đồng cỏ của đoàn chiên đây là gì nếu không phải là cảnh thiên đàng luôn xanh ngắt, khiến tâm hồn ngập tràn niềm vui, nơi có Thiên Chúa luôn hiện diện, nơi đây chiên theo Chúa và làm theo ý Chúa sẽ được hân hoan mừng lễ cùng với bao công dân Nước Trời.

Trên đây là những lý do với nhiều lý do khác mà Giáo hội gọi Chúa nhật thứ IV Phục Sinh là Chúa nhật Chúa Chiên lành, đồng thời mời gọi con cái mình suy nghĩ đặc biệt về hình ảnh của Thiên Chúa, Chúa Giêsu Kitô, Vị Mục Tử Tối Cao đã hy sinh Mạng Sống Mình vì đoàn chiên.

Cầu cho các mục tử

Đối mặt với hiểm nguy, Chúa Giêsu không chạy trốn như lính đánh thuê, Người sẽ chết, nhưng cái chết của Người sẽ chiến thắng và sống mãi, Người sẽ thâu họp những con chiên tán mát khắc nơi về. Chúa Giêsu muốn không chỉ có các mục tử tiếp bước theo mình, Người còn muốn những người nam nữ dâng mình cho Chúa trong đời thánh hiến, đến lượt mình, cũng xả thân bảo vệ đàn chiên, đưa các con chiên lạc trở về. Người mong ước các mục tử với ơn Người trợ giúp sẽ hoàn thành trách nhiệm dẫn dắt đoàn chiên đến đồng cỏ Nước Trời.

Với chủ đề của Sứ Điệp Ngày Thế Giới Cầu Nguyện Cho Ơn Gọi Năm 2015: "Xuất hành, kinh nghiệm nền tảng của ơn gọi". Đức Thánh Cha Phanxicô mời gọi "những người trẻ bước đi theo dấu chân của Ðức Giêsu, trong việc phụng thờ mầu nhiệm Thiên Chúa và quảng đại hiến thân cho người khác! đừng sợ ra khỏi chính mình và đặt mình vào một cuộc hành trình! " Chúng ta hãy khẩn cầu xin Ðức Trinh Nữ Maria, mẫu gương của mọi ơn gọi, đã không sợ hãi khi thưa tiếng "xin vâng" trước lời mời gọi của Thiên Chúa, đồng hành với chúng ta và dẫn dắt chúng ta. Amen.

24. Chúa chiên lành.

Có một chàng sinh viên, sau khi tốt nghiệp đại học, đã không chọn cho mình một ngành nghề chuyên môn, nhưng lại đi chăn cừu thuê. Anh cho biết: Mỗi ngày anh phải làm việc tới mười tám tiếng đồng hồ và làm tất cả bảy ngày trong tuần. Suốt thời gian ở trên núi, anh hoàn toàn cô đơn, chỉ bầu bạn với chú chó, chú ngựa và hai ngàn con cừu.

Mỗi tuần một lần, người ta đem đến cho anh thực phẩm, thư từ và đạn dược. Công việc của anh là làm sao giữ cho đàn cừu được ở chung một chỗ, dẫn chúng đến nơi có cỏ và có nước, đồng thời bảo vệ chúng khỏi thú dữ.

Anh kể: một buổi sáng nọ, có một nhóm cừu tự rời khỏi bày, thế là tôi phải bỏ tất cả thời gian để lần theo dấu vết của chúng. Ngay khi vừa mới tìm thấy, thì một cơn mưa bão ập xuống, khiến tôi và những con cừu vừa ướt lại vừa bị lạnh cóng suốt đêm.

Câu chuyện trên cho chúng ta thấy nghề chăn cừu thời nay thật là khó khăn và cực nhọc. Nhưng ngày xưa, khi chưa có súng đạn thì công việc của họ không chỉ cực nhọc mà còn rất nguy hiểm nữa.

Trong sách Samuel, Đavid đã trả lời cho nhà vua trước lúc giao tranh với Goliath như sau: Tâu bệ hạ, thần đã từng chăm sóc đàn cừu của phụ thân, bất cứ khi nào có một con sư tử hay một con gấu cướp đi một con cừu, thì lập tức, thần rượt theo và tấn công nó để cứu con cừu. Nếu con sư tử hay con gấu ấy quay vào tấn công thần, thần sẽ xông tới, chộp cổ họng và đánh nó cho đến chết. Thần đã giết nhiều sư tử và gấu. Thần cũng sẽ làm như vậy với tên Philitinh ngoại đạo này.

Từ những mẩu chuyện trên chúng ta đi vào đoạn Tin mừng hôm nay, trong đó Chúa đã nói: Ta là mục tử nhân lành, sẵn sàng hiến mạng sống mình vì đàn chiên. Nói cách khác Chúa Giêsu chính là vị mục tử mà tiên tri Egiechiel đã loan báo: Ngài chăm sóc những con bơ vơ yếu đuối, chữa lành những con bệnh hoạn và đi tìm những con bị lạc. Chúa Giêsu còn làm hơn thế nữa, Ngài tự hiến mạng sống cho đoàn chiên. Và từ cõi chết sống lại, Ngài đã chia sẻ vinh quang Phục sinh cho đoàn chiên của Ngài. Từ đó chúng ta hãy rút ra một vài điểm thực hành:

Điểm thứ nhất, đó là hãy tỏ lòng biết ơn Ngài vì nhờ sự chết và Phục sinh, Ngài đã cứu chúng ta khỏi manh mối của thú dữ là ma quỷ và tội lỗi.

Điểm thứ hai, đó là hãy bước đi dưới sự dẫn dắt của Ngài, nhờ vậy mà chúng ta chẳng bao giờ bị lầm đường lạc lối. Trái lại, cuộc đời chúng ta sẽ được bảo đảm an toàn, bởi vì như lời thánh vịnh cũng đã xác quyết: Chúa là Mục tử, Ngài dẫn lối chỉ đường cho con đi. Đi trong tay Chúa nào con thiếu chi con sợ chi. Cỏ non rợn đồng xanh con không bao giờ thiếu suối nước trường sinh con nghỉ uống no đầy.

25. Mục Tử Nhân Lành- ĐTGM Giuse Ngô Quang Kiệt

Dân Do Thái là dân du mục. Cuộc đời họ gắn liền với đoàn vật và những đồng cỏ. Nên khi Đức Giêsu đưa ra hình ảnh người mục tử và đoàn chiên, người Do Thái hiểu ngay tức khắc. Đức Giêsu đã dùng hình ảnh quen thuộc ấy để nói lên mối liên hệ của ta với Người và của Người với ta. Người là Mục tử nhân lành. Ta là đoàn chiên của Người. Người lãnh đạo đoàn chiên không phải bằng uy quyền áp chế, bằng kỷ luật khắc nghiệt, nhưng bằng tình yêu tha thiết. Tình yêu của Người được biểu lộ qua ba khía cạnh: hiểu biết, quan tâm chăm sóc và hy sinh cho đoàn chiên.

Tình yêu của Đức Giêsu là tình yêu hiểu biết. Sự hiểu biết này không phát xuất từ lý trí, do học hỏi, nhưng phát xuất từ trái tim, do tình yêu. Khi yêu, trái tim trở nên vô cùng nhậy bén đến độ hiểu được hết những âm thanh của tâm hồn và tai người thường không nghe thấy, nhìn thấy hết những gì ẩn kín trong tâm hồn mà mắt thường không nhìn thấy, cảm nhận được hết những chiều sâu thăm thẳm của tâm hồn mà không một nhà tâm lý học nào có thể cảm được. Khi Đức Giêsu nói: “Ta biết chiên Ta” có nghĩa là Người hiểu biết từng người trong chúng ta. Người không chỉ hiểu rõ hoàn cảnh sinh sống của chúng ta, mà còn thấu rõ tâm tư tình cảm của ta. Người biết những gánh nặng mà ta đang phải gánh. Người thông cảm với những đau đớn mà ta đang phải chịu. Người đau những nỗi đau trong tâm hồn ta. Người khổ những nỗi khổ đang dày vò ta. Người nhức nhối trong vết thương của tâm hồn ta.

Tình yêu của Đức Giêsu là tình yêu quan tâm chăm sóc. Sự hiểu biết sâu xa đến từ sự quan tâm chăm sóc. Sự quan tâm chăm sóc cũng phát xuất từ tình yêu. Có yêu mới quan tâm. Có quan tâm mới hiểu biết nhu cầu. Có hiểu biết nhu cầu mới biết đường chăm sóc. Đức Giêsu yêu thương ta nên Người quan tâm đến ta. Người biết rõ những nhu cầu của ta. Người chăm sóc ta. Có những tình yêu muốn chiếm hữu. Đó là thứ tình yêu ích kỷ. Có những chăm sóc khiến ta trở nên ấu trĩ, yếu ớt, không lớn lên được. Đó là thứ chăm sóc độc đoán ràng buộc. Đức Giêsu chăm sóc không phải để ràng buộc ta nhưng để giúp ta sống trong tự do. Người chăm sóc ta không phải để ta trở nên ấu trĩ, nhưng là để giúp ta trưởng thành. Người chăm sóc ta không phải để ta trở nên yếu ớt nhút nhát, nhưng là để giúp ta mạnh mẽ, tự tin. Vì thế, Nguơì cung cấp cho ta những lương thực lành mạnh. Người đưa ta đến những đồng cỏ non, đến những giòng suối trong. Lương thực Người mang đến, đó là Lời Chúa, là Mình Máu Thánh Chúa, là Thánh ý Chúa Cha. Những lương thực ấy sẽ cho ta được sống và sống dồi dào.

Tình yêu của Đức Giêsu là tình yêu hy sinh. Đây chính là dấu chỉ chắc chắn nhất của một tình yêu. Càng yêu mến nhiều càng sẵn sàng hy sinh nhiều. Yêu đến sẵn sàng hy sinh mạng sống là một tình yêu cao cả không có gì sánh được. Đức Giêsu đã xác nhận điều ấy khi Người nói: “Không có tình yêu nào lớn lao hơn tình yêu của người dám hy sinh mạng sống mình cho bạn hữu” (Ga 15,13). Chính Người đã thực hiện điều ấy. Người là Mục tử nhân lành sẵn sàng liều mạng, một mình chống lại sói dữ để bảo vệ đoàn chiên. Người đã tự hiến mạng sống vì ta. Người đã chấp nhận chết đi để ta được sống.

Hạnh phúc cho ta được là đoàn chiên của Người. Ta được an ủi vì Người hiểu ta. Ta an tâm vì Người hằng quan tâm chăm sóc ta. Ta sung sướng vì Người yêu thương đến nỗi chết vì ta.

Người muốn ta chia sẻ hạnh phúc ấy cho mọi người. Người muốn ta lớn mạnh để đến lượt ta, chính ta trở thành mục tử nhân lành theo gương Người. Cha mẹ là mục tử của con cái. Thày cô giáo là mục tử của học sinh. Giám đốc là mục tử của công nhân. Y bác sĩ là mục tử của bệnh nhân. Anh chị lớn là mục tử của các em nhỏ.

Nhưng đặc biệt hơn hết, Người muốn có những người tiếp tục công việc của Người, chăm sóc đời sống tâm linh nhân loại. Chính vì thế, Giáo Hội dành ngày hôm nay để cầu nguyện cho ơn kêu gọi làm linh mục. Nhìn tình hình chung trên toàn thế giới, và riêng trong Giáo phận, ta thấy còn thiếu rất nhiều linh mục. Giáo dân cần linh mục như bệnh nhân cần bác sĩ. Giáo dân cần linh mục như học sinh cần thầy cô giáo. Giáo dân cần linh mục như một người bạn sẵn sàng cảm thông, chia sẻ vui buồn trong đời sống và như một người bạn đồng hành giúp đỡ trong cuộc hành trình tiến về đời sau.

Hãy cầu nguyện cho có nhiều thanh niên sẵn sàng hiến thân làm linh mục. Hãy khuyến khích con cháu dâng mình cho Chúa, làm linh mục để phục vụ anh em. Nhất là hãy cầu nguyện cho các linh mục được trở nên những mục tử như Đức Giêsu, vị Mục Tử nhân lành, biết yêu thương phục vụ đoàn chiên, hiểu biết tâm tư tình cảm của từng người, quan tâm chăm sóc từng con chiên và sẵn sàng hy sinh bản thân vì lợi ích của đoàn chiên.

Lạy Đức Giêsu, Mục Tử nhân lành, xin hãy ban cho chúng con nhiều mục tử tốt lành theo gương Chúa. Xin biến chúng con thành những mục tử tốt lành trong gia đình, trong khu phố, trong xã hội. Amen.

KIỂM ĐIỂM ĐỜI SỐNG

1- Đức Giêsu hướng dẫn đoàn chiên bằng cách nào? Bằng quyền lực hay bằng tình yêu thương?

2- Hãy kể ra những đặc tính của tình yêu của Đức Kitô.

3- Bạn có cảm thấy trách nhiệm là mục tử của mình không? Bạn đã đối xử với đoàn chiên của mình thế nào?

4- Bạn nghĩ gì về đời sống tu trì? Bạn có cầu nguyện cho cha Xứ của bạn không?

26. Suy niệm của Lm. Carôlô Hồ Bặc Xái

Chủ đề: TÌNH YÊU THIÊN CHÚA ĐỐI VỚI CHÚNG TA

I. DẪN VÀO THÁNH LỄ

Mỗi năm, Giáo Hội dành ngày Chúa nhật thứ IV mùa Phục sinh để nhắc cho chúng ta biết Đức Giêsu là mục tử nhân lành rất yêu thương chúng ta là những con chiên của Ngài. Ngài chăm sóc chúng ta và dẫn chúng ta đến cuộc sống hạnh phúc muôn đời.

Ngày hôm nay cũng là ngày Giáo Hội trên toàn thế giới cầu nguyện cho ơn thiên triệu.

Chúng ta hãy xin Chúa giúp chúng ta hiểu biết hơn về tình yêu của Ngài ; đồng thời chúng ta cũng cầu nguyện cho có nhiều người trẻ hiến thân làm Linh mục để tiếp nối sứ mạng Đức Giêsu là làm mục tử chăm sóc đoàn chiên Ngài.

II. GỢI Ý SÁM HỐI

 Chúng ta là những con chiên được Đức Giêsu là mục tử nhân lành dẫn dắt. Nhưng nhiều khi chúng ta không ý thức tình thương Chúa luôn bao bọc cuộc sống chúng ta.

 Đôi khi chúng ta còn tỏ ra là những con chiên bướng bỉnh không đi theo sự dẫn dắt của Chúa.

 Chúng ta ít quan tâm đến việc khuyến khích và nuôi dưỡng các ơn thiên triệu.

III. LỜI CHÚA

1. Bài đọc I: Cv 4,8-12

Sau khi Phêrô chữa cho một người què được khỏi, ông bị bắt dẫn ra trước Thượng Hội Đồng Do thái giáo cùng với bạn đồng hành là Gioan.

Trước Thượng Hội Đồng, Phêrô xác nhận người què ấy được khỏi không phải do quyền phép gì riêng của ông mà chỉ nhờ danh thánh Đức Giêsu.

Nhân dịp đó, Phêrô giảng về Đức Giêsu: Ngài đã bị các thủ lãnh do thái giết chết, nhưng Thiên Chúa đã cho Ngài sống lại và tôn vinh Ngài lên đến tuyệt định vinh quang. Nhờ danh Ngài mà mọi người được ơn cứu độ.

2. Đáp ca: Tv 117

(như Chúa nhật I Ps)

Thánh vịnh này là tâm tình của người đã cảm nghiệm được tình thương và quyền năng của Thiên Chúa. Quyền năng và tình thương ấy đã chiến thắng tất cả, cho dù là khổ đau, là chết chóc. Tác giả muốn sống mãi để có thể ca tụng Thiên Chúa đến muôn đời.

3. Tin Mừng: Ga 10,11-18

Đức Giêsu xưng mình là mục tử tốt lành. Ngài cũng phân biệt mục tử tốt lành và người chăn chiên thuê:

 Những đặc tính của Người mục tử tốt lành: a/ thí mạng sống vì chiên ; b/ biết các con chiên và được các con chiên biết ; c/ muốn quy tụ những con chiên khác ở ngoài vào đàn chiên mình, để rồi sẽ chỉ có một đàn chiên và một chủ chiên.

 Kẻ chăn chiên thuê chẳng tha thiết gì đến đàn chiên. Hắn ưu tiên lo cho bản thân nên khi gặp nguy hiểm thì bỏ mặc đàn chiên để chạy trốn.

4. Bài đọc II: 1 Ga 3,1-2

Thánh Gioan nói đến mức độ to lớn vô cùng của tình yêu Thiên Chúa dành cho tín hữu:

 Hiện nay Thiên Chúa cho chúng ta làm con của Ngài.

 Sau này Ngài còn cho chúng ta được giống như Ngài.

IV. GỢI Ý GIẢNG

* 1. Mục tử tốt lành

Dưới thời bạo Chúa Nêrô bắt đạo. Rôma ngập tràn máu lửa, biết bao tín hữu đã chết dưới tay ông vua điên loạn, bạo tàn.

Giáo hội non trẻ do Đức Giêsu thiết lập như sắp rã rời tan tác. Phêrô là con chim đầu đàn, là trụ cột của Giáo hội. Các tín hữu tha thiết xin Phêrô trốn khỏi Rôma, để tiếp tục dẫn dắt đoàn chiên. Người anh cả một thoáng phân vân, chần chừ. Quả thật đoàn chiên đang nao núng vì sợ thiếu vắng đầu đàn, sao có thể giữ vững niềm tin? Thầy đã chẳng khuyên khi người ta bắt bớ chúng con ở thành này, thì hãy trốn sang thành khác sao? Phêrô xách bị gậy đi trốn. Đụng Thầy ở cổng thành, Phêrô hỏi:

- Quo vadis, Domine? Thưa Thầy, Thầy đi đâu?

- Nếu con bỏ các Kitô hữu của Thầy thì Thầy sẽ quay lại để chịu đóng đinh cho họ một lần nữa.

Phêrô hiểu ngay lời Thầy, quay trở lại Rôma để an ủi khích lệ đoàn chiên, và để chịu đóng đinh thập giá như Thầy.

"Ta là mục tử tốt lành. Mục tử tốt lành thí mạng sống vì đoàn chiên" (Ga.10,11). Đức Giêsu ví mình như một mục tử tốt lành khác với người chăn thuê, vì người đã dám hy sinh mạng sống cho đoàn chiên. Cái chết của Người không bất ngờ, cũng không đầu hàng bạo lực, nhưng là một cái chết tự hiến. Đức Giêsu chết để nói nên lời yêu thương. Một tình yêu tột đỉnh, yêu cho đến cùng. Thánh Gioan viết: "Không có tình yêu nào cao cả hơn tình yêu của người đã hy sinh tính mạng vì bạn hữu mình" (Ga.15,13).

Chính tình yêu đã tạo nên mối dây gắn bó giữa chủ chiên và từng con chiên, khiến Người nói: "Ta biết các chiên Ta, và các chiên Ta biết Ta" (Ga.10,14-15). Đó là sự hiểu biết nhau sâu xa, sự trân quí giữa mục tử và đoàn chiên.

Đức Giêsu là mục tử duy nhất, tối cao và gương mẫu. Các mục tử khác chỉ là phụ tá giúp chăn dắt đoàn chiên của Người. Mọi mục tử phải noi gương Người, dám chết cho đoàn chiên được sống. Phêrô là người mục tử đầu tiên. Phêrô có thể trốn bắt bớ, tù tội, chết chóc. Nhưng chính khi đổ máu, Phêrô đã giữ vững đoàn chiên. Cái chết của Phêrô đã có sức thuyết phục hơn bất cứ lời rao giảng nào: "Thầy làm vững đức tin của con. Rồi đến lượt con, con sẽ làm vững đức tin của anh em con". Các mục tử tiếp bước Phêrô vui lòng nằm xuống để nên nhân chứng, và củng cố niềm tin cho các anh em.

Dụ ngôn người "Mục tử tốt lành" cho thấy tình yêu sâu sắc của Thiên Chúa.

 Người yêu thương mỗi người một cách cá biệt, không yêu cách chung chung.

 Người yêu thương vô điều kiện, ngay cả khi chúng ta lầm đường lạc lối.

 Người yêu thương bằng tình yêu vui mừng, chứ không la rầy khiển trách khi tìm thấy chiên lạc.

Ngày nay, Đức Giêsu vẫn cần những vị mục tử tốt lành lo cho đoàn chiên trên thế giới. Người rất cần các bạn trẻ hiến thân cho sứ mạng mục tử này. Người mời gọi chúng ta hãy nhìn bằng trái tim yêu thương, để thấy những cơn đói Lời Chúa, đói tình thương, đói của ăn, đói ý nghĩa cuộc sống. Người kêu gọi chúng ta hãy tha thiết xin Cha cho nhiều mục tử tận tụy hơn, thanh khiết hơn, vô vị lợi hơn, và thánh đức hơn. Những mục tử sẵn lòng âm thầm chết từng ngày cho đoàn chiên.

***

Lạy Chúa, xin gởi đến cho chúng con những mục tử có trái tim của Chúa: luôn say mê Thiên Chúa và yêu thương con người, có tình bạn thân thiết với Chúa, dám hy sinh cho đoàn chiên, dẫn đưa chúng con về với Cha là nguồn hạnh phúc thật của chúng con. Amen. (Thiên Phúc, "Như Thầy đã yêu")

* 2. Ngày cầu nguyện cho ơn gọi Linh mục và Tu sĩ

a/ Đối với người Việt chúng ta thì hình ảnh "chiên và người chăn chiên" không phải là một hình ảnh gần gũi, vì xứ sở chúng ta không thuộc vùng Cận Đông với nghề chăn nuôi chiên cừu như Pa-lét-tin xưa. Hơn nữa trong khi cả đất nước đang nói đến công nghiệp hóa, hiện đại hóa, mà chúng ta cứ nhắc đi nhắc lại câu chuyện "đàn chiên với mục tử", thì e rằng chúng ta bị coi là những người lạc hậu! Nhưng nếu đi sâu vào ý nghĩa và biểu tượng tôn giáo của hình ảnh "chiên và mục tử" thì chúng ta lại chẳng thấy lạc hậu tí nào. Vì chưng những người tin ở Thiên Chúa đều xác tín rằng họ luôn được Thiên Chúa và Chúa Ki-tô quan tâm và tận tình chăm sóc, không chỉ về phương diện tâm linh mà về mọi phương diện con người, không chỉ ở đời sau mà ở cả đời này lẫn đời sau. Mối tương quan gắn bó giữa người chăn và con chiên là hình ảnh sống động, cụ thể của mối tương quan giữa Thiên Chúa và người tín hữu.

b/ Những nét đặc trưng của Vị Mục Tử nhân lành

 Đức Giêsu đã công bố Người là Vị Mục Tử nhân lành, với những nét đặc trưng sau đây:

* Vị Mục tử nhân lành hết lòng yêu thương những người thuộc về mình. Vì yêu thương nên Người quan tâm đến mọi người và đến từng người. Càng quan tâm thì càng biết tường tận: biết họ muốn gì? họ cần gì? họ có thể gặp phải những nguy cơ cạm bẫy hay thử thách nào?

* Vị Mục tử nhân lành luôn đi đầu, đi trước tức hướng dẫn, lãnh đạo đoàn chiên, tức đứng mũi chịu sào, gánh chịu mọi khổ cực cho người thuộc về mình. Vị ấy sẽ đem chiên đến những miền an toàn, có suối mát và cỏ xanh, để chiên được ăn uống no nê, được nghỉ ngơi thoải mái. Chiên sẽ tăng trưởng cả về chất lượng lẫn số lượng. Thậm chí vị Mục tử sẽ hy sinh mạng sống vì chiên.

c/ Lý do Hội Thánh lấy ngày chủ nhật Chúa Chiên Lành làm ngày cầu nguyện cho ơn gọi linh mục tu sĩ:

Bản tin Hiệp Thông (tiếng nói của Hội đồng Giám Mục Việt Nam) số 11, ra ngày 15 tháng 02 năm 2002 (trang 8-9) cung cấp cho chúng ta những con số cụ thể và đáng chúng ta suy nghĩ trong ngày hôm nay:

(1): Tổng dân số của Việt Nam hiện là: 80.489.857 người (76.683.203 dân tộc kinh + 3.806.654 dân tộc thiểu số). (2): Tổng số công giáo của 25 giáo phận: 5.324.492 người (5.065.105 dân tộc kinh + 259.387 dân tộc thiểu số). (3): Tổng số linh mục của 25 giáo phận: 2.526 Lm (2.133 triều + 393 dòng). (4): Tổng số tu sĩ trong 25 giáo phận: 11.282 Ts (1.524 nam + 9.758 nữ). (5): Tổng số chủng sinh của 25 giáo phận: 1.765 Cs (1.044 đang học + 318 học xong + 403 dự bị). (6): Tổng số giáo lý viên của 25 giáo phận: 45.858 Glv (671 giáo phu + 219 có lương + 44.968 không có lương).

Nếu chia bình quân số giáo dân cho số linh mục (triều dòng, khoẻ yếu) thì một linh mục phải phục vụ 2.107 giáo dân. Nếu chia bình quân tổng số dân Việt Nam cho số linh mục (triều dòng, khoẻ yếu) thì một linh mục phải phục vụ 31.865 người. Nếu chia bình quân số giáo dân cho số tu sĩ (nam nữ, khoẻ yếu) thì một tu sĩ phải phục vụ 472 giáo dân. Nếu chia bình quân tổng số dân Việt Nam cho số tu sĩ (nam nữ, khoẻ yếu) thì một tu sĩ phải phục vụ 7.134 người. Nếu chia bình quân tổng số người VN không công giáo cho tổng số người VN công giáo thì một người VN công giáo phải giúp cho 14 người VN không công giáo biết Chúa và gia nhập Giáo hội.

Nguyên nhìn vào những con số trên, chúng ta cũng đã thấy được nhu cầu to lớn về nhân sự của Giáo hội Việt Nam trong sứ mệnh sống, làm chứng và loan báo Tin Mừng mà Giáo hội đã nhận được từ chính Chúa Giê-su. Đã đành rằng ngày nay trách nhiệm sống, làm chứng và loan báo Tin Mừng không chỉ của riêng các linh mục, tu sĩ mà của mọi Ki-tô hữu. Nhưng các linh mục, tu sĩ vẫn là lực lượng quan trọng nhất, là lực lượng nòng cốt và đầu tầu trong lãnh vực này. Thế nhưng ơn gọi linh mục, tu sĩ càng ngày càng giảm sút trong các Giáo hội địa phương, thậm chí giảm trầm trọng trong một số Giáo hội. Riêng tại Việt Nam, thì tình hình có mấy nét riêng sau đây: (1) Việc thanh niên nam nữ muốn vào chủng viện, dòng tu còn gặp nhiều cản trở từ những qui định của Nhà Nước. (2) Việc các Giám mục, Dòng tu gửi các linh mục, tu sĩ đến nơi cần gửi, đặc biệt đến vùng sâu vùng xa, cũng chẳng dễ dàng gì. (3) Ơn gọi tu trì đã có dấu hiệu sút giảm ở thành thị, nhất là ở các quận nội thành.

Vì thế cho nên chúng ta không chỉ cầu xin Thiên Chúa ban cho Giáo hội -nhất là Giáo hội Việt Nam- nhiều linh mục, tu sĩ tài đức thánh thiện, nhiệt thành mà chúng ta còn phải nài xin Thiên Chúa tạo thuận lợi cho các ứng sinh linh mục tu sĩ được đào tạo đến nơi đến chốn và cho các linh mục tu sĩ có điều kiện cần thiết để thực thi sứ vụ của mình. (Giê-rô-ni-mô Nguyễn Văn Nội).

3. "Tình yêu, con đường duy nhất để đến với thế giới bất tín".

"… Thánh nữ Têrêxa đã mở ra cho chúng ta con đường duy nhất để đến với thế giới những người không tin: đó là tình yêu. Không ai có thể sống thiếu tình yêu. Trước tấm thảm kịch của thuyết nhân bản vô thần, thảm kịch, vì do nhân danh một tư tưởng cao cả của nhân loại mà con người đã khước từ Thiên Chúa, mọi Kitô hữu, mọi Linh mục, mọi tu sĩ đều bồn chồn lo âu (…) thánh Phanxicô đệ Salê đã nói: "Tất cả đều dành cho tình yêu, đều ở trong tình yêu, đều vì tình yêu và đều phát xuất từ tình yêu trong Giáo hội". Nhưng cái chân lý cao cả ấy hầu như đã bị lãng quên, đã bị thuyết Jansénisme khô cằn ngăn chận. Chỉ có người nữ tu dòng kín trẻ trung thành Lisieux đã nhắc ta nhớ lại chân lý ấy trong nét tươi tắn của thái độ Ngài hoàn toàn phó thác cho Thiên Chúa. Hôn thê của Đấng chịu đóng đinh và đã vì yêu mà tự nộp mình cho ta, chính thị cũng dâng hiến cho Người tình yêu vì tình yêu, như vị hôn thê dâng hiến cho hôn phụ. "Trong trái tim giáo hội tôi sẽ là tình yêu" thế là đã rõ, một xác quyết như thế đụng chạm tới tất cả mọi người ở thế kỷ XX của chúng ta vì chúng ta không biết yêu và được yêu trong chân lý (…)

Thánh Nữ Têrêxa luôn luôn là, tôi dám nói, một âm vang đích thực của Trái tim Thiên Chúa cho thời đại chúng ta, cho mỗi người chúng ta. Dù ta là ai, ta đã được tạo thành để sống tình yêu Thiên Chúa, tình yêu đã trao ban sự sống cho ta. Ta đến từ Thiên Chúa và ta lại trở về với Người, Người là Đường là Sự Thật và là sự sống. Công đồng Vatican II đã mạnh mẽ nhắc lại điều này. Sử gia mai ngày có thể thắc mắc "Giáo hội thời Công đồng đã làm gì?" Đức Phaolô VI đã trả lời họ ngay từ ngày 14.9.1965: "Giáo hội yêu, giáo hội yêu, yêu bằng trái tim mục tử, yêu bằng trái tim đại kết, yêu bằng trái tim rộng mở đón nhận mọi người kể cả những người bắt bớ giáo hội". Ta nên tìm lại cái trực cảm quan trọng ấy của Đức Phaolô VI. Đó cũng là trực cảm của thánh nữ Têrêxa thành Lisieux: "Giáo hội là Đức Kitô và Đức Kitô là tình yêu". Chúng ta được Thiên Chúa yêu thương.

Thánh nữ Têrêxa đã khơi gợi hàng ngàn, hàng ngàn ơn gọi làm Linh mục trên khắp thế giới. Những Linh mục ấy đã tìm thấy nơi thánh nữ một tình yêu tuyệt đối dành cho Đức Giêsu và tình yêu Giáo hội, một ý nghĩa sâu xa trong kinh nguyện và trong sứ mệnh truyền giáo trên khắp hoàn cầu, một sự kết hợp bằng chiêm niệm và hoạt động, một mẫu gương dùng con đường tình yêu bé nhỏ và phó thác, đường nên thánh trong cuộc sống hằng ngày. Ngày nay, thánh nữ Têrêxa vẫn tiếp tục làm phong phú tác vụ của các Linh mục, đặc biệt là những Linh mục trẻ bị cuốn hút bởi sứ điệp tình yêu giữa lòng Giáo hội (…)

Tất cả hành trình đức tin thâu tóm trong đức cậy và đức ái. Niềm tin là niềm hy vọng của tình yêu, tin là hy vọng vào tình yêu. Phải chăng vai trò đã được quan phòng của sứ điệp của thánh nữ Têrêxa, ở ngưỡng cửa thiên niên kỷ thứ 3, chính là trả lại cho ta tình yêu và niềm hy vọng? Con người đã được tạo dựng theo hình ảnh Thiên Chúa. Tình yêu là để yêu thương. Trong lãnh vực tình yêu, thánh nữ Têrêxa là bậc thầy linh đạo trong tình yêu, không có dè dặt, không có tính toán, không có trung dung, không có quân bình vì con người chẳng bao giờ có thể yêu Thiên Chúa cho xứng với tình Người yêu ta (…).

Một nữ tu hỏi thánh nữ Têrêxa: "Chị nói gì với Đức Giêsu?" Chị thánh trả lời: "Em không nói gì hết, em yêu Người", Chỉ tình yêu là quan trọng. (Đức Hồng Y P.Poupard, tài liệu cho ngày ơn thiên triệu. Trích dẫn bởi Fiches dominicales, năm B)).

4. "Trong trái tim Giáo hội, tôi sẽ là Tình yêu"

(Thánh nữ Têrêxa Hài Đồng, bản văn được trích dẫn trong tài liệu của Ủy ban quốc gia về ơn thiên triệu).

"… Sau cùng con đã tìm thấy an nghỉ… tìm trong thân thể mầu nhiệm của Giáo hội, con chẳng thấy mình trong bất cứ chi thể nào đã được thánh Phaolô miêu tả, đúng hơn con muốn có mặt trong tất cả những chi thể ấy… Đức Ái đã cho con chìa khóa ơn gọi của con. Con hiểu rằng nếu giáo hội có một thân thể gồm nhiều chi thể khác nhau, chi thể quan yếu nhất, cao cả nhất không thể thiếu được, con hiểu đó là Trái Tim và Trái Tim đó cháy đỏ Tình yêu. Con hiểu rằng chỉ có Tình yêu mới làm cho các chi thể của Giáo hội hoạt động và nếu tình yêu vụt tắt, các Tông đồ sẽ thôi không loan báo Tin mừng, các thánh tử đạo sẽ từ chối đổ máu… Con hiểu rằng Tình yêu phủ trùm lên mọi ơn gọi và tình yêu là tất cả, bao gồm mọi không gian và mọi thời gian. Tắt một lời, Tình yêu là vĩnh cửu!

Thế là, trong niềm vui tột đỉnh, con kêu lên: "Ôi Giêsu, Tình yêu của con… ơn gọi của con, cuối cùng con đã tìm thấy ơn gọi của con chính là Tình yêu!…

Phải rồi, con đã tìm được vị trí của con trong Giáo hội. Chỗ ấy, ôi Lạy Chúa, chính Chúa đã ban cho con… Trong Trái Tim Giáo hội, thưa Mẹ, con sẽ là Tình yêu… như thế con sẽ là tất cả… như thể giấc mơ của con đã thành hiện thực!!!..."

V. LỜI NGUYỆN CHO MỌI NGƯỜI

Chủ tế: Anh chị em thân mến, hôm nay là ngày cầu nguyện cho ơn gọi Linh mục và tu sĩ, chúng ta cầu xin Chúa sai đến đoàn chiên Chúa những chủ chăn tốt lành như lòng Chúa mong muốn.

1. Chúng ta hãy cầu xin cho mọi thành phần trong Hội thánh / đều tích cực quan tâm đến việc nâng đỡ, đào tạo và chọn lựa những người xứng đáng với ơn gọi làm Linh mục và tu sĩ.

2. Chúng ta hãy cầu xin Chúa cho tất cả những ai đang thi hành trách nhiệm làm Mục tử trong Hội thánh / biết noi gương Đức Giêsu là mục tử tốt lành / sẵn sàng hiến thân chăm lo cho đoàn chiên Chúa đã trao phó cho mình.

3. Chúng ta hãy cầu xin Chúa cho những người trẻ biết lắng nghe tiếng gọi của Chúa / và quảng đại đáp trả tiếng gọi ấy / để dấn thân vào đời sống giáo sĩ và tu sĩ

4. Chúng ta hãy cầu xin Chúa cho những người làm cha mẹ trong họ đạo chúng ta / biết giáo dục và hướng dẫn con cái sống tinh thần Tin mừng / để cống hiến cho Hội thánh những mầm giống ơn gọi tốt lành.

Chủ tế: Lạy Chúa, lúa chín đầy đồng mà thợ gặt thì ít, xin cho chúng con biết rộng rãi góp phần vào việc đào tạo Linh mục và tu sĩ, bằng lời cầu nguyện, và bằng sự giúp đỡ nhiệt tình. Chúng con cầu xin, nhờ Đức Kitô Chúa chúng con.

27. Chúa Giêsu - Mục Tử Nhân Lành

(Suy niệm của Lm. Barnaba Lê An Phong, SDB)

Từ Phúc Âm của Thánh Gioan, chúng ta nghe lại lời của Chúa Giêsu về Mục Tử Nhân Lành trong cuộc tranh luận giữa Chúa Giêsu và các nhà lãnh đạo tôn giáo thời đó, đặc biệt là nhóm Pharisêu. Sau khi xác nhận những khác biệt cơ bản giữa các mục tử thật và mục tử giả hiệu (Ga 10, 1-18), Chúa Giêsu đã tuyên bố những yếu tố quan trọng mối quan hệ giữa người tin vào Người và bản thân Người, giữa người chăn chiên tốt lành với đàn chiên của mình. Chúng ta suy niệm với nhau hai điểm sau đây.

Về người chăn chiên

- “Chiên của tôi nghe tiếng tôi, tôi biết chúng và chúng theo tôi” Biết là động từ diễn đạt cho chúng ta hay về hoạt động của lý trí, của việc nắm bắt một thực tại. Mục Tử Nhân Lành biết đàn chiên của mình. Người không chỉ biết số lượng (100 con), biết tính toán (99 con tốt và 01 con lạc đàn). Ngài còn nhận biết chiên của mình, cả con tốt lành, ngoan hiền lẫn con làm loạn, hư đốn; biết những con đau yếu và cả những con mạnh khỏe.

Là một mục tử tốt lành, Chúa Giêsu còn biết nhiều hơn cùng với việc “lắng nghe” và “dõi theo” đàn chiên; nhưng việc nhận thức ấy không là “kiến thức thực tế” theo kiểu của một giám sát viên đang theo dõi một hoạt động xây dựng, của một công an đang theo người phạm luật giao thông, của một thẩm phán đang xét xử. Chúa Giêsu - Mục tử nhân lành biết đến chiên của mình như một người có sự dịu dàng của một người mẹ khi bà dành cho cậu con trai nhỏ của mình sự nâng đỡ hướng dẫn, chăm sóc; và giống như của một người cha đã nhìn thấy trước và chuẩn bị tương lai cho những đứa con của mình, khi ông biết sức lực và tài năng, biết cả những cố gắng, những thành công và những thất bại của chúng... Đây là “kiến thức của cõi lòng” (sapientia cordis) của người chăn chiên tốt biết đàn chiên và từng con chiên của mình.

- “Tôi ban cho chúng sự sống đời đời, chúng sẽ không bị hư mất mãi mãi và không ai cướp được chúng khỏi tay tôi”. Mục tử nhân lành đã khẳng định một sự thật tuyệt đối: Người sẽ sử dụng tất cả sức mạnh của mình để giữ an toàn cho con chiên của mình.

Nhưng với sức mạnh nào mà Chúa Giêsu Mục tử nhân lành giữ lấy chiên của mình? Vị Mục tử Nhân lành yêu thương và đối xử tốt lành với từng con. Sợi dây làm hàng rào nơi ràn chiên và giữ chúng lại trong đàn là tình yêu thương và sự quan tâm, là việc hy sinh bản thân mình cho cuộc sống của đàn chiên bằng cách chết trên thập tự giá. Và đây chính là sức mạnh của Mục tử nhân lành, cũng là sức mạnh của Thiên Chúa Cha, bởi vì “Tôi và Chúa Cha là một”.Và Người làm điều hy sinh lớn lao đó không chỉ cho bản thân mình, nhưng làm như vậy vì Thiên Chúa, nhân danh Chúa Cha và với tất cả thẩm quyền của Chúa Cha.

- “Tôi ban cho chúng sự sống đời đời và sẽ không bị hư mất mãi mãi”. Đây là công việc và tất cả kết quả trong tay của Mục tử nhân lành. Việc bảo vệ và hướng dẫn đàn chiên là hành động nhằm mang lại lợi ích cao nhất cho đàn chiên. Đó là một cái gì đặc biệt, nhiều hơn, cao hơn, sâu hơn so với những gì thuộc thế giới này mà vị mục tử nhân lành muốn làm cho đàn chiên – sự sống đời đời. Đó phải đích đến cho một thế giới khác, là sự sống nơi Thiên Chúa và Vương quốc tình yêu của Ngài.

Về đàn chiên

- “Chiên của tôi nghe tiếng tôi”. Lời Chúa như muốn chúng ta tự vấn: Mỗi người Kitô hữu luôn luôn là người biết lắng nghe? Đâu là lời mà họ muốn nghe từ chủ chăn của mình?

Lắng nghe phải là một thái độ đón nhận vàchuyển hoá lời đó qua hành động. Đối với chúng ta, Chúa Chiên Lành được coi là Thầy dạy căn bản và đầu tiên. Người là Ngôi Lời của Thiên Chúa, và Lời của Người đồng thời cũng là điều cần thiết cho cuộc sống chúng ta. Trong Ngài, đàn chiên còn được nghe lời yêu thươngvà từ ái của một Thiên Chúa – Đấng giàu lòng xót thương.

- “Tôi biết chúng và chúng biết tôi”: Như đàn chiên thuộc về Đức Kitô, chúng ta biết gì về Mục tử của mình? Bước theo Mục Tử Nhân Lành, chúng ta phải đi theo một cuộc hành trình: Thông qua Bí tích rửa tội, mỗi con chiên có thể bước đi bằng đức tin của mình với Chúa Giêsu; nhưng đích đến của cuộc hành trình vẫn còn xa. Sống trong đàn chiên là Giáo Hội và từng bước, từng bước trong đời sống hằng ngày, người kitô hữu phải tiến về phía trước theo lời mời gọi của Mục tử -Đấng yêu thương họ: Đó là sống theo Tin mừng, tập luyện đời sống nhân đức và luôn bước đi trên con đường ngay chính, hướng về sự thiện hảo là chính Thiên Chúa, không tách mình ra khỏi đàn chiên, không rẽ ngang bước tắt trên đường đi vì những đam mê và tính toán và lợi ích của riêng mình…

Trong ngày lễ Chúa Chiên lành, chúng ta cùng cầu nguyện cho các mục tử và cầu nguyện cho ơn gọi.

Những lời nói của Chúa Giêsu đã từng gây sốc cho người Pharisêu, bởi vì đôi tai và trái tim mục tử của họ đã khô cứng theo mô hình trong Cựu Ước. Khi mà vị trí của họ được coi là thầy dạy quan trọng và nắm trong tay quyền lực mạnh mẽ thì họ đã không muốn thay đổi, không muốn yêu thương, cũng như không muốn nhìn thấy sự hiện diện đầy yêu thương của vị Mục tử là chính Đấng Cứu thế. Lời cảnh cáo của Đức Giêsu Mục tử tiếp tục gây sốc cho nhiều mục tử của Giáo Hội ngày nay, trong công việc mà thường được gọi là “mục vụ”. Chúng ta hãy cầu nguyện cho điều này: Cầu cho các mục tử ai ai cũng biết sứ vụ quan trọng của mình, nhận biết đàn chiên và từng con chiên, biết sử dụng sức mạnh của tình yêu thương và sự hy sinh để canh giữ đàn chiên, và biết quan tâm hơn cho sự sống đời đời của đàn chiên.

28. Mục tử nhân lành.

Suy Niệm

Mục tử và đàn chiên trên đồng cỏ là một hình ảnh quen thuộc đối với người Palestine. Giữa người và chiên có một mối tương quan mật thiết. Ở đây Đức Giêsu tự ví mình như người mục tử.

Mục tử nhân lành khác với người chăn thuê, vì dám hy sinh mạng sống mình cho đoàn chiên, chứ không bỏ chiên mà chạy khi gặp sói dữ.

Hội Thánh là đoàn chiên của Đức Giêsu Kitô.

Giữa Ngài và từng con chiên, có mối dây gắn bó. Tôi biết chiên của tôi và chiên của tôi biết tôi, như Cha biết tôi và tôi biết Cha.

Đây là cái biết sâu thẳm, cái biết hai chiều.

Chiên không phải là một con vật ngờ nghệch, thụ động. Chiên là hình ảnh của một ngôi vị tự do.

Vị Mục Tử gọi tên từng con bằng giọng quen thuộc. Chiên nghe tiếng của Ngài và đi theo.

Như thế giữa Mục Tử và đoàn chiên có sự hiểu biết nhau sâu xa, nhận ra nhau dễ dàng, và một sự trân trọng quý mến nhau đặc biệt.

Sau Phục Sinh, Đức Giêsu đã giao cho Phêrô sứ mạng chăn dắt và chăm sóc đoàn chiên của Ngài. Sứ mạng này bắt nguồn từ một tình yêu.

Yêu mến Ngài dẫn đến yêu mến đoàn chiên Ngài. Đức Giêsu là Mục Tử tối cao và gương mẫu.

Mọi mục tử khác chỉ là phụ tá giúp chăn dắt đoàn chiên của Ngài. Mọi mục tử phải noi gương Ngài, dám chết để cho chiên được sống.

Hội Thánh dành Chúa Nhật hôm nay để cầu cho ơn thiên triệu.

Chúa Giêsu vẫn cần những người tiếp nối công việc của Ngài, để lo cho đoàn chiên trên thế giới.

Các bạn trẻ khi lớn lên thường lập gia đình. Điều đó thật là tốt đẹp.

Nhưng Chúa Giêsu vẫn muốn một số bạn trẻ ở bên Ngài cách đặc biệt để được Ngài sai đi.

Họ chấp nhận hy sinh quyền được lập một tổ ấm, để có thể yêu mãnh liệt hơn và bao la hơn.

Tiếng gọi của Chúa vẫn vang lên ở ngay nơi lời nài xin của con người. Những người đói khát Lời Chúa, đói khát tình thương,

đói khát bánh ăn, đói khát ý nghĩa cuộc sống. Khước từ tiếng kêu của con người là khước từ tiếng Chúa.

Chúa Giêsu mời các bạn trẻ nhìn thấy đám đông bơ vơ. Những người bệnh hoạn tật nguyền, những trẻ em đường phố, những người lầm lỡ, tự đặt mình ở bên lề xã hội... Thấy họ bằng trái tim và để cho tim mình đáp trả.

Tạ ơn Chúa đã cho Hội Thánh 408.024 linh mục (Niên giám Toà Thánh năm 2007)

Nhưng đồng lúa chín vàng vẫn cần nhiều thợ gặt, tận tụy hơn, thanh khiết hơn, vô vị lợi hơn.

Có thể chính bạn được Chúa bất ngờ mời gọi để đứng trong đội ngũ những người phục vụ đó!

Gợi Ý Chia Sẻ

Bạn nghĩ gì về cuộc sống của các linh mục và tu sĩ ở vùng bạn sống? Các vị ấy đã làm gì và còn phải làm gì cho dân Chúa?

Theo ý bạn, cuộc sống thực dụng hôm nay có làm cho ít người muốn đi tu không? Đi tu có phải là làm một việc khác thường hay bất thường không?

Cầu Nguyện

Lạy Chúa Giêsu, xin ban cho chúng con những linh mục có trái tim thuộc trọn về Chúa, nên cũng thuộc trọn về con người.

Xin cho chúng con những linh mục có trái tim biết yêu bằng tình yêu hiến dâng, một trái tim đủ lớn để chứa được mọi người và từng người, nhất là những ai nghèo khổ, bị bỏ rơi.

Xin cho chúng con những linh mục biết cầu nguyện, có tình bạn thân thiết với Chúa để các ngài giới thiệu Chúa cho chúng con.

Xin cho chúng con những linh mục thánh thiện, có thể nuôi chúng con bằng tấm bánh thơm tho, tấm bánh Lời Chúa và Mình Chúa.

Cuối cùng, xin cho chúng con những linh mục có trái tim của Chúa, say mê Thiên Chúa và say mê con người, hy sinh đời mình để bảo vệ đoàn chiên và dẫn đưa chúng con đến với Chúa là Nguồn Sống thật.

29. Rao giảng Đức Giêsu đã phục sinh

(Suy niệm của Lm. Giuse Phạm Thanh Liêm)

Các tông đồ là những người đã được thấy và đụng chạm vào Đức Giêsu Phục Sinh. Vì thế, sứ mạng của các tông đồ là làm chứng điều mắt các ngài đã thấy và tai các ngài đã nghe: Đức Giêsu đã phục sinh. Chỉ nhờ Đức Giêsu phục sinh mà tất cả con người được cứu độ.

I. Thiên Chúa đã phục sinh Đức Giêsu từ cõi chết

Hôm nay, qua dịp chữa lành người tàn tật và rồi bị tra hỏi, Phêrô có dịp rao giảng tin mừng Đức Giêsu phục sinh trước mặt những người lãnh đạo dân Do Thái. Phêrô nói: “Xin tất cả quý vị và toàn dân Israel biết cho rằng: nhân danh Đức Giêsu Kitô, người Nazaret, Đấng mà quý vị đã đóng đinh vào thập giá, và Thiên Chúa đã làm cho trỗi dậy từ cõi chết, chính nhờ Đấng ấy mà người này được lành mạnh ra đứng trước mặt quý vị” (Cv.4, 10). Phêrô không chủ ý kết tội những người đóng đinh Đức Giêsu, nhưng ngài xác định rõ Đức Giêsu là Đấng chính các vị lãnh đạo dân đã đóng đinh Ngài.

Phêrô còn rao giảng: “ngoài Ngài ra, không ai đem lại ơn cứu độ; vì dưới gầm trời này, không có một danh nào khác đã được ban cho nhân loại, để nhờ danh đó mà tất cả chúng ta được cứu độ” (Cv.4, 12). Theo lời rao giảng của Phêrô, Đức Giêsu là người của Thiên Chúa; và Thiên Chúa đã dùng Ngài là phương tiện duy nhất cứu độ con người. Từ ngữ “phương tiện cứu độ duy nhất” ở đây có thể được hiểu theo nghĩa, nếu có một phương tiện cứu độ nào đó, thì vẫn nhờ và qua Đức Giêsu Kitô.

Đức Giêsu là Đấng cứu độ duy nhất, phải chăng chỉ vì Thiên Chúa muốn vậy? Phải chăng Đức Giêsu cũng chỉ là một người như bao người khác, như bao trung gian khác, hay nơi Đức Giêsu còn có điều gì khác? Thiên Chúa muốn Đức Giêsu là trung gian cứu độ duy nhất, vì Đức Giêsu là người của Thiên Chúa, là Đấng Kitô, là Con Thiên Chúa, là Thiên Chúa.

II. Đức Giêsu là mục tử tốt lành

Đức Giêsu yêu thương con người. Ngài dùng hình ảnh quen thuộc đối với người Do Thái để diễn tả tình yêu và sự quan tâm của Ngài đối với con người. Ngài như một mục tử chăn chiên, Ngài muốn con người sống an lành và triển nở, như một mục tử tốt lành bảo vệ chiên khỏi nguy hiểm và chăn dắt để chiên được no đủ. Đức Giêsu đã dùng nhiều hình ảnh và nhiều cách để diễn tả tình yêu của Ngài đối với con người. Hình ảnh cây nho cành nho cũng là một hình ảnh rất thân thương được dùng để diễn tả tương quan giữa Đức Giêsu và con người.

Người chăn chiên tốt, là người dám hy sinh mạng sống vì đoàn chiên (Ga.10, 11); Đức Giêsu là người đã hiến mạng sống vì bạn hữu (Ga.15, 13). Bí tích Thánh Thể diễn tả cách thật đặc biệt tình yêu của Đức Giêsu đối với con người. Đức Giêsu yêu con người đến độ dám chết cho con người, dám hy sinh tất cả để con người được sống. Đức Giêsu là biểu tượng tình yêu của Thiên Chúa cho con người.

Thiên Chúa yêu thương con người một cách đặc biệt qua Đức Giêsu. Ngày nay Thiên Chúa vẫn dùng nhiều người như dấu chỉ Ngài hiện diện và yêu thương con người hiện tại. Trong Chúa Nhật thứ tư Phục Sinh, Giáo Hội cho tín hữu nghe bài phúc âm về Chúa Chiên Lành; và Giáo Hội cầu nguyện đặc biệt cho ơn thiên triệu tu sĩ và linh mục. Xin Chúa tiếp tục khơi dậy và đánh động, để ngày nay có nhiều người quảng đại dâng hiến cuộc đời cho Thiên Chúa qua việc phục vụ anh em mình.

III. Chúng ta là con Thiên Chúa

Mỗi người đều được Thiên Chúa tạo dựng và sinh ra qua cha mẹ mình. Một khi người cha người mẹ sinh ra con, cho dù người con đó chấp nhận hay phủ nhận, kính trọng hay khinh thường, thì cha mẹ người đó vẫn là cha mẹ người đó; vì thế, Thiên Chúa là Cha của tất cả mọi người, cho dù người đó có biết hay không, có chấp nhận hay không, Thiên Chúa là Cha của tất cả mọi người, của Kitô hữu và của cả những người đang theo bất kỳ một tôn giáo nào.

Nếu vậy, Đức Giêsu Phục Sinh thêm gì cho hiểu biết và tương quan giữa con người và Thiên Chúa? Một khi người ta nhận ra chân tướng của Đức Giêsu, người ta sẽ nhận ra tương quan rất đặc biệt của Thiên Chúa đối với con người. Nếu Đức Giêsu là Con Một Thiên Chúa, hẳn Thiên Chúa phải yêu thương con người vô cùng nên Ngài mới cho Con Ngài nhập thể làm người. Con người không phải là tạo vật tầm thường, nhưng con người là một giá trị tuyệt vời đối với Thiên Chúa, chính vì thế Lời Thiên Chúa mới nhập thể làm người. Cái chết ô nhục của Đức Giêsu trên thập giá, làm người ta còn hiểu hơn tình yêu của Thiên Chúa đối với con người. Con người là gì, mà Thiên Chúa đã cam chịu để con người hành hạ Con của Ngài như vậy!

Chính Đức Giêsu, theo tin mừng Yoan, cũng khẳng định Thiên Chúa yêu thương con người như yêu chính Ngài (Ga.17, 23.20). Và chính Đức Giêsu cũng khẳng định Ngài yêu thương con người như Thiên Chúa yêu thương Ngài (Ga.15, 9). Một người có thể là con nhưng không được yêu thương, chẳng hạn có những người cha người mẹ bỏ con mình. Qua và nhờ Đức Giêsu, con người nhận ra Thiên Chúa yêu thương con người vô cùng. Thiên Chúa yêu thương con người như yêu thương Đức Giêsu, Con Một Yêu Dấu của Ngài. Đức Giêsu là Đấng mặc khải Thiên Chúa.

Câu hỏi gợi ý chia sẻ

1. Tại sao các tông đồ lại rao giảng Đức Giêsu đã phục sinh?

2. Đức Giêsu phục sinh, điều này có đủ để chứng minh Ngài là Thiên Chúa không? Tại sao?

3. Thiên Chúa tạo dựng con người, điều này đủ để chứng tỏ con người là con Thiên Chúa. Vậy Đức Giêsu mang gì thêm cho khẳng định “chúng ta là con Thiên Chúa”?

30. Những con đường hy vọng – Rolland Dionne.

Xưa kia, người ta đã cầu nguyện cho các ơn gọi, và lúc ấy môi trường Kitô thuận lợi cho các ơn gọi. Cha mẹ hãnh diện dâng con cái cho Chúa. Sự trung thành không bị nghi ngờ, người ta dễ dấn thân trọn đời. Không thiếu cách tuyên truyền để khơi dậy các ơn gọi. Ngày nay, người ta ít cầu cho ơn gọi hơn. Ơn gọi rất hiếm hoi. Các gia đình có ít con cái hơn. Những năm về sau này, nhiều trường hợp bỏ đời tu đã gây nên nghi ngờ đối với khả năng có thể triển nở trong việc phục vụ Chúa. Có bao nhiêu lý do giải thích sự thiếu hăng hái trong việc chiêu sinh.

Đâu là điều gì chúng ta phải quan tâm suy nghĩ trong ngày Chúa nhật cầu cho ơn gọi này? Đâu là những đường hướng cho tương lai? Người ta còn tin vào ơn gọi nữa không?

Đón tiếp giới trẻ.

Chúng ta đều biết đến những vấn đề của các thế hệ. Ta biết tất cả những nỗi khó khăn mà giới trẻ gặp trong việc tìm chỗ đứng của mình. Tuy nhiên, ta cũng biết rằng tương lai của Giáo Hội là giới trẻ. Đó là một giới trẻ còn có khả năng sống quảng đại và dấn thân, nhưng đòi hỏi ta phải tin tưởng nơi họ. Trong các chuyến viếng thăm của Ngài, Đức Giáo Hoàng đã cho chúng ta một gương mẫu về sự tin tưởng nơi giới trẻ. Người lắng nghe họ. Ngài nói với họ: “Các bạn là Giáo Hội… Các bạn có chỗ đứng của các bạn trong Giáo Hội… Đừng chờ người ta cho bạn chỗ đứng ấy. Hãy nắm lấy nó…” Không đón tiếp giới trẻ như thế, làm sao có ơn gọi được?

Chứng tá của những người lớn.

Từ vài năm nay, chứng tá đó mất đi giá trị bởi nhiều vụ cởi áo ra đi trong Giáo Hội của chúng ta. Giới trẻ đã trở thành người đa nghi. Ai lại liều mình dấn thân vào một cuộc sống không có hạnh phúc hoặc khó thể hiện chính mình.

Cách đây hai năm, một giám mục thành thật thú nhận với một vị khách rằng điều đã ảnh hưởng nhất đến các chủng sinh trẻ trong sự lựa chọn của họ, chính là niềm hạnh phúc giãi tỏa ra nơi cuộc sống của các linh mục cao niên. Một cuộc sống như thế vẫn là cách quảng cáo tốt nhất cho ơn gọi làm linh mục. Kẻ vui thích trong một bậc sống sẽ làm cho kẻ khác ưa thích bậc sống ấy.

Đồng hành với giới trẻ.

Ngày xưa người ta săn sóc giới trẻ như một cây non. Người ta chăm nom cho sự phát triển của họ. Người ta ân cần lo toan cho họ. Họ lớn lên về sức lực và vẻ đẹp. Ngày nay, có bao nhiêu người trẻ sống trong cô đơn và trong những gia đình thiếu vắng tình thương, họ gần như cây thiếu nước và không khí, họ èo uột. Việc đồng hành với giới trẻ trở nên cần thiết. Họ cần gặp Chúa nơi một người đồng hành.

Tin vào những tiếng gọi của Chúa Giêsu.

Chúa Giêsu tiếp tục gọi. Những lời mời gọi của Ngài cũng vẫn quyến rũ và đầy hứa hẹn cho tương lai. Chúng ta có quan tâm đủ để trình bày cho giới trẻ tương lai được chứa đựng trong những câu đáp đẹp đẽ của những kẻ Ngài đã gọi không? Câu đáp trả của Phêrô và Andrê em ông: “Và tức khắc, bỏ lưới, họ đi theo Ngài” (Mt 4,20). Câu đáp của Lêvi, người thu thuế: “Từ bỏ mọi sự, ông đứng dậy và theo Ngài” (Lc 5,28).

Chúng ta có trách nhiệm giới thiệu cho giới trẻ kinh nghiệm về Thiên Chúa. Lời mời gọi này đã thu hút bao nhiêu người nam, người nữ vẫn còn có thể lôi cuốn giới trẻ.

Tin tưởng vào việc cầu nguyện.

Việc cầu nguyện xem ra như là ít được thực hiện hơn xưa kia: “Hãy xin thì sẽ được”. Có lẽ tất cả những cuộc khủng hoảng mà chúng ta đã trải qua và những nẻo đường mới mẻ mà người ta phải tìm kiếm đều làm cho chúng ta quên cầu nguyện cho ơn gọi. Chúa nhật cầu nguyện cho ơn gọi nhắc nhở chúng ta về công việc cấp bách này.

 

CÁC BÀI SUY NIỆM CHÚA NHẬT 3 PS B

CHÚA NHẬT 3 PHỤC SINH – Năm B

Lời Chúa: Cv 3,13-15.17-19; 1Ga 2,1-5a; Lc 24,35-48

MỤC LỤC

1. Có Chúa cùng đi

Qua đoạn Tin Mừng vừa nghe, tôi chỉ muốn đưa ra một hình ảnh đẹp, đó là hình anh Chúa Giêsu cùng sánh bước với hai môn đệ trên đường đi Emmaus. Vậy hình ảnh đẹp này đem lại những hậu quả nào cho cuộc sống của chúng ta?

Cựu Ước đã đưa ra một kinh nghiệm, một xác tín, đó là nếu có Chúa cùng đi, chúng ta sẽ không còn lo lắng sợ hãi, đồng thời sẽ có đủ nghị lực, nếu không thành công rực rỡ, vượt qua những gian nguy thử thách, thì ít nữa cũng biết chịu đựng cho nên. Thánh Vịnh đã viết: Chúa chăn nuôi tôi, tôi chẳng thiếu thốn chi, trên đồng cò xanh rì, Ngài thả tôi nằm nghỉ. Hay như một Thánh Vịnh khác cũng đã xác quyết: Ví như Chúa chẳng xây nhà, thợ nể vất vả chỉ là uồng công. Thành trì Chúa chẳng giữ trông, hùng binh kiện tướng cũng không ra gì.

Niềm xác tín này cũng đã được Chúa Giêsu thực hiện trong Tân Ước. Hẳn chúng ta còn nhớ trong tiệc cưới Cana, sự có mặt của Chúa Giêsu đã đem lại phép lạ đầu tiên, khiến nước lã biến thành rượu ngon, để đôi tân hôn không bị bẻ mặt với khách dự tiệc.

Cùng hoạt động với Chúa, chắc chắn sẽ thâu lượm được những thành quả tốt đẹp. Chính các tông đồ đã học được cái kinh nghiệm quý giá ấy. Đêm hôm đó, các ông ra khơi và thả lưới, vật lộn với sóng nước suốt cả một đêm, mà chẳng bắt được một con cá nào. Thế nhưng, ban sáng Chúa Giêsu hiện ra với các ông trên bờ biển và truyền cho các ông thả lưới, lập tức các ông đã có được một mẻ lưới lạ lùng. Lần khác, thuyền các ông gặp phong ba bão táp, các ông đã phải đánh thức Chúa Giêsu dậy, và với Chúa Giêsu lập tức sóng liền yên và biển liền lặng.

Và ngày hôm nay, hai môn đệ đang trên đường về làng Emmaus. Các ông bước đi mà cõi lòng thì ngập tràn một nỗi thất vọng đắng cay. Nhưng rồi Chúa Giêsu đã hiện ra, đàm đạo với các ông và lòng các ông đã bừng lên ngọn lửa yêu mến và sau cùng, các ông đã nhận ra Ngài khi Ngài bẻ bánh nơi quán trọ. Sau đó, các ông hối hả trở lại Giêrusalem, mừng vui kể lại sự việc cho các tông đồ được biết.

Chúng ta còn có thể kể ra những trường hợp khác nữa, để chứng tỏ rằng sự hiện diện của Chúa Giêsu sẽ đem lại niềm an ủi và khích lệ, cũng như sẽ đem lại nguồn sức mạnh và can đảm để vượt qua những gian nan thử thách. Sở dĩ như vậy cũng là điều dễ hiểu, bởi vì Ngài có dư quyền năng để nâng đỡ chúng ta, đồng thời Ngài cũng có dư tình thương, để sẵn sàng ra tay trợ giúp cho chúng ta.

Tóm lại, cùng đi với Chúa, con người chúng ta sẽ không còn đơn côi, bản thân chúng ta sẽ vượt thắng được mọi hiểm nguy và cuộc đời chúng ta sẽ gặt hái được những thành quả tốt đẹp.

2. Có Chúa cùng đi.

Cứ mỗi lần rảo bước dưới nắng chiều, tôi lại nhớ tới cái hình ảnh tuyệt vời khi Chúa Giêsu cũng đi bên cạnh hai môn đệ trên đường Emmaus.

Hôm đó là ngày thứ ba kể từ bữa Chúa Giêsu bị đóng đinh. Các môn đệ cũng có ý chờ xem động tĩnh ra sao, vì trước đó Ngài có nói ngày thứ ba Ngài sẽ sống lại. Sáng sớm có mấy người phụ nữ ra mồ, rồi trở về báo tin ngôi mộ trống rỗng. Sau đó, một vài anh em đã vội vã chạy đi kiểm chứng. Nhưng rồi cũng có hai người chán nản bỏ về làng cũ, tên là Emmaus. Không ngờ dọc đường có một người cùng bước đi với họ. Nghe họ giãi bày tâm sự và lấy Kinh Thánh giải thích cho họ hiểu Đức Kitô phải chịu đau khổ trước khi vào vinh quang. Vì trời đã xế chiều, nên họ mời Ngài dừng chân với họ trong lữ quán. Đến lúc ngồi vào bàn ăn, họ mới nhận ra đó là Chúa Giêsu. Nhưng Ngài đã biến đi. Lập tức họ hối hả chạy về Giêrusalem để báo tin cho các bạn. Thế nhưng, khi họ vừa đến nơi, chưa kịp nói gì thì người ta đã cho biết: Chúa đã sống lại và hiện ra với Simon. Họ còn đang trao đổi, thì này Chúa Giêsu đã đứng giữa họ và nói: Bình an cho các con.

Đúng thế, Chúa Giêsu đã sống lại và Ngài có mặt ở khắp nơi, Ngài cùng đi với chúng ta trên mọi nẻo đường đời, từ thành phố đến đồng quê, từ quán trọ đến gia đình. Đâu đâu cũng có Ngài hiện diện. Trước khi chúng ta ra đi, Ngài đã ở đó. Đang khi chúng ta rảo bước, Ngài đã có ngay bên. Rồi trước khi chúng ta đến nơi, Ngài đã đứng đợi và đang khi chúng ta nghỉ mệt, Ngài đã thăm hỏi. Lúc nào cũng có Ngài.

Xưa kia ở Palestine, là một công nhân, Chúa Giêsu đã lao động như chúng ta với nghề thợ mộc. Ngài đã trải qua những ngày tháng long đong không nhà không cửa, những ngày tháng đói nghèo như chúng ta. Ngài ở ngay bên chúng ta, chia sẻ niềm vui và nỗi buồn của chúng ta. Không những chỉ chia sẻ, mà hơn thế nữa, là Thiên Chúa, Ngài còn có mặt ở đó để cứu giúp chúng ta.

Tại Cana, Ngài đã đến dự đám cưới với mọi người. Ngày nay Ngài cũng có mặt trong đám cưới của bất cứ đôi tân hôn nào, để họ được nối kết trong yêu thương. Rồi trong ngày tang tóc của gia đình Martha, Ngài đã đến thăm và làm cho Ladarô được sống lại. Hôm nay Ngài cũng đến trong gia đình chúng ta để an ủi khích lệ khi chúng ta gặp phải cánh đau buồn. Ngài đã làm phép lạ cho bánh hoá nhiều để nuôi sống đám đông đi theo Ngài. Hôm nay Ngài cũng sẽ ban kết quả cho những lao công khó nhọc của chúng ta, để chúng ta có được những chém cơm, những manh áo.

Mục sư Richard Wurmbrand bị tù lâu năm chỉ vì là Kitô hữu. Có lúc ông đã chán nản tuyệt vọng, nhưng rồi ông lấy lại niềm cậy trông, khi nhớ tới lời hứa của Chúa: Đừng sợ, vì Ta ở với con. Rồi ông nói: Trong Đức Kitô có tất cả 365 chữ đừng sợ theo kiểu đó, nên tôi tự nhủ mỗi ngày chỉ sống một chữ cũng đủ rồi.

Hôm nay giữa mọi gian truân thử thách, Chúa cũng đang ở bên cạnh chúng ta để chia sẻ và nâng đỡ. Chúng ta có ý thức được điều đó hay không?

3. Emmaus.

Qua đoạn Tin Mừng vừa nghe chúng ta thấy được sự chuyển biến tình cảm của hai môn đệ trên đường đi Emmau, chuyển biến đó khởi đi từ chỗ buồn nản đến chỗ phấn khởi và hăng hái.

Thực vậy, cũng như phần đông các môn đệ khác, các ông bước theo Chúa với tham vọng vật chất và trần tục: Chúa sẽ là vua, vương quốc của Ngài là một quốc gia vừa rộng lớn, vừa hùng mạnh, lại vừa giàu sang, còn bản thân các ông sẽ được giữ chức vụ này nọ hay chức vụ kia trong triều đình của Chúa. Mặc dầu luôn yêu mến Chúa, nhưng cái nhìn của các ông vẫn còn nặng mùi xôi thịt. Vì thế, khi Chúa bị treo trên thập giá, thì ước mơ của các ông tan theo mây khói. Các ông chán nản và thất vọng trở về với quê cũ, nghề xưa.

Như hai môn đệ trên đường Emmau chúng ta cũng hay tin vào mình và võ đoán, cho nên rất dễ sai lầm trong việc nhận định. Như hai môn đệ trên đường Emmau, chúng ta cũng hay chán nản và buồn phiền, chỉ vì thiếu tin tưởng vào Chúa hay vì để lòng mình quá vấn vương với những lợi lộc vật chất.

Trong việc tông đồ thường có hai kết quả. Kết quả bên ngoài tức là những lợi ích trần gian và kết quả bên trong tức là cái ảnh hưởng siêu nhiên. Nếu để ý quá đến những kết quả bên ngoài, chúng ta sẽ tự chuốc lấy cho mình những đắng cay và thất vọng. Trái lại nếu biết đặt niềm tin tưởng vào Chúa và làm hết sức mình, thì bao giờ chúng ta cũng có đủ lý do để lạc quan, chắc chắn rằng ảnh hưởng thiêng liêng thế nào cũng có, dù không có ngay hoặc không rõ rệt qua bên ngoài.

Giữa lúc các ông đang thất vọng và chán nản như thế, thì Chúa vẫn yêu thương các ông, muốn sửa lại cái quan niệm sai lầm và đem lại cho các ông niềm phấn khởi và hy vọng, nên Chúa đã hiện ra, cùng đi với các ông và cắt nghĩa Kinh Thánh để các ông hiểu rằng: Nước Chúa không phải là ở trần gian và thập giá chính là con đường tiến tới vinh quang.

Trái tim các ông bỗng ngập tràn niềm phấn khởi. Rồi sau đó tại quán trọ, các ông đã nhận biết Ngài khi Ngài bẻ bánh. Lúc ấy các ông thật sung sướng và phấn khởi. Lúc ấy các ông hăng hái đứng dậy, hối hả trở về tìm gặp các tông đồ, không quản ngại đường xa và đêm tối. Các ông không còn nghĩ đến công việc làm ăn ở làng Emmau nữa, mà trái lại các ông chỉ trông mong để được loan đi tin mừng phục sinh: Thầy đã sống lại và chúng tôi đã thấy Thầy.

Ước gì ánh sáng đức tin cũng bùng lên trong chúng ta, để nhờ đó chúng ta cũng sẽ là những chứng nhân cho Tin mừng Phục sinh bằng chính đời sống đạo đức và thánh thiện, bác ái và yêu thương của chúng ta.

4. Gặp Chúa giữa lòng đời – Lm. Ignatiô Trần Ngà

Sau cuộc tử nạn của Chúa Giêsu, có hai môn đệ Người thất vọng cất bước trở về Em-mau, lòng đầy sầu muộn. Đức Giêsu, Đấng mà họ tin tưởng là vị lãnh tụ vĩ đại sẽ giải thoát Ít-ra-en, đã gục chết trong đau thương và mang niềm hy vọng của họ xuống mồ.

Đang lúc đó, Chúa phục sinh xuất hiện như một lữ khách cùng đi đường với họ, lấy lời Kinh thánh hâm nóng cõi lòng băng giá của họ, minh chứng cho họ biết Đấng Cứu Thế phải trải qua đau khổ như thế rồi mới tiến vào vinh quang. Thế mà suốt cả hành trình đó, hai môn đệ vẫn không nhận ra người bạn đồng hành với mình là Chúa Giêsu.

Sau đó, Chúa phục sinh lại bất thần có mặt giữa các môn đệ trong một căn phòng tại Giê-ru-sa-lem. Mọi người kinh hồn bạt vía, vì tưởng là oan hồn của Chúa Giêsu hiện về!

Chúa Giêsu phải dùng nhiều cách tỏ cho họ biết Người đã thật sự sống lại, chứ không phải là ma. Người cho họ xem thương tích nơi tay chân, để chứng tỏ Người có xương có thịt chứ chẳng phải là vong hồn. Vì họ vẫn còn nghi ngờ nên Người lại đề nghị họ sờ tay chân Người để kiểm chứng. Thấy họ vẫn còn hoài nghi, Người lại ăn miếng cá nướng trước mặt họ để tỏ cho mọi người thấy ma đâu có nhai có nuốt như vậy.

Rồi tiếp đó, Chúa Giêsu dùng Kinh thánh để tỏ cho các môn đệ biết Người là Đấng Kitô đã phải trải qua đau khổ rồi mới phục sinh.

Bấy giờ mắt các môn đệ mới sáng ra và tin Người đã sống lại.

* * *

Các tông đồ xưa thật đáng trách vì được phúc đối diện với Chúa Giêsu mà không nhận ra Người. Nhưng xét lại, chúng ta cũng chẳng khá hơn vì hằng ngày Chúa Giêsu vẫn hiện diện giữa chúng ta mà chúng ta chẳng nhận ra Người.

Chúa Giêsu đã nhiều lần dùng Kinh thánh để chứng tỏ cho chúng ta biết rằng: Người đang hiện diện nơi tha nhân và những anh chị em chung quanh là chi thể của Người ( ICr 12, 27; I Cr 6, 15; ICr 10, 17), Người tự đồng hóa mình với tha nhân nên những gì chúng ta làm cho tha nhân là làm cho chính Người (Mt 25, 40)... ["Vậy anh em là thân thể Đức Ki-tô, và mỗi người là một bộ phận" (ICr 12, 27);

"Nào anh em chẳng biết rằng thân xác anh em là phần thân thể của Đức Ki-tô sao? (I Cr 6, 15);

"Bởi vì chỉ có một tấm Bánh, và tất cả chúng ta chia sẻ cùng một Bánh ấy, nên tuy nhiều người, chúng ta cũng chỉ là một thân thể" (I Cr 10, 17).

"Ta bảo thật các ngươi: mỗi lần các ngươi làm như thế cho một trong những anh em bé nhỏ nhất của Ta đây là các ngươi đã làm cho chính Ta vậy" (Mt 25, 40).]. Vậy mà chúng ta vẫn chưa xác tín lời Người dạy, chưa nhận ra Người đang sống bên cạnh, đang đồng hành với chúng ta.

Để diễn tả thực trạng đó, Cha Anthony de Mello, có ngụ ngôn sau đây:

Một con cá sống ở đại dương hỏi một con cá khác:

- Xin lỗi bác, bác già hơn và kinh nghiệm hơn cháu. Hẳn là bác có thể giúp cháu được. Xin bác hãy nói cho cháu biết: cháu có thể tìm thấy ở đâu điều mà người đời thường gọi là đại dương? Cháu đã tìm kiếm khắp nơi mà chẳng thấy.

Cá già nói:

- Đại dương ư? Cháu đang lội trong đó mà!

- Đây ư? Nhưng chỉ là nước thôi mà. Cái mà cháu tìm kiếm là đại dương kìa.

Rồi con cá non dại đó đã rất thất vọng ngoe nguẩy cái vây và lội đi tìm kiếm ở nơi khác.

[Anthony de Mello trong tác phẩm: "Như tiếng chim hót"]

Con cá bơi lội trong đại dương mà chẳng thấy đại dương đâu, chỉ thấy chung quanh toàn là nước. Thế rồi, con cá tội nghiệp đó vẫn thơ thẩn bơi lội đi tìm đại dương.

Chúng ta cũng như con cá bé bỏng đáng thương kia. Chúng ta đang kiếm tìm Thiên Chúa, chúng ta khao khát được gặp Chúa phục sinh, trong khi Người đang hiện diện chung quanh ta, đang đồng hành với ta, cùng ta làm việc, cùng ta sinh hoạt trong cùng một mái nhà, một xưởng máy... Vậy mà chúng ta đâu có nhận ra Người. Chúng ta tưởng Người ở nơi đâu xa lắm, mãi tít trên trời xanh; chúng ta tưởng chừng Người đang lởn vởn đâu đó như một bóng ma. Thế rồi, như con cá non dại kia, chúng ta thơ thẩn đi tìm Chúa ở những phương trời khác.

Lạy Chúa Giêsu phục sinh,

Con cá bé bỏng kia không ngờ rằng nước biển và đại dương chỉ là một nên nó đã hoài công bơi lội tìm kiếm điều mà nó vẫn được tiếp cận thường xuyên; chúng con cũng không ngờ rằng Chúa và tha nhân là một nên chúng con đã bỏ lỡ rất nhiều cơ hội được phục vụ và vui sống bên Ngài.

Xin giúp chúng con sớm giác ngộ để chấm dứt hành trình tìm kiếm Chúa cách viển vông nhưng biết dừng lại để yêu thương và phục vụ Chúa đang hiện diện nơi những anh chị em đang sống quanh mình. Amen.

5. Chúa đã sống lại thật. Alleluia.

Nhưng các ông vẫn còn “nghi” hoài

Việc sống lại từ cõi chết là siêu nghiệm không chứng minh được từ những sự kiện cụ thể (lịch sử). Lúc ban đầu thì quá mới mẻ, xa lạ. Sự kiện mồ trống và vài lần hiện ra chớp nhoáng không chứng minh nổi, nên các tông đồ vẫn hoài nghi. Cho tới khi Chúa lên trới vẫn còn có người hoài nghi.

Ngày nay, sau hơn 20 thế kỷ, sự kiện xem ra còn xa vời hơn. Những cố gắng giải thích cũng vẫn còn để lại “hoài nghi”, vẫn lẩn quẩn trong não trạng tín điều với tiên kiến “Kinh Thánh phải được ứng nghiệm” hay phải được thực hiện, không có cách chứng minh nào thật sự thuyết phục. Phải hiểu đoạn Phúc Âm nầy của Luca thế nào? Trước hết chúng ta xem qua vài điểm chú giải.

- Chúa Giêsu đứng giữa các ông....các ông hoảng hồn tưởng là thấy ma: Cũng như chuyện nghe kể thấy “người chết hay ma hiện về” nên hoảng hốt là tự nhiên.

- Sao hoảng hốt, sao ngờ vực, nhìn chân tay Thầy đây, chính Thầy mà, rờ xem, ma đâu có xương thịt như Thầy đây, rồi người đưa tay chân cho các ông xem: Có lẽ không ai dám rờ. Sợ ma.

- Các ông chưa tin vì vui mừng quá và còn đang ngỡ ngàng: Vui mừng thì tin chứ. Ngỡ ngàng cũng tin chứ. Sao lại chưa tin? Vì tưởng thấy ma mà.

- Người hỏi “anh em có gì ăn không”? Các ông đưa cho người một khúc cá nướng. Người cầm lấy và ăn trước mặt các ông: Ăn cho thấy để chứng minh Chúa sống lại có thân xác như người thật. Nhưng chợt đến chợt đi khi cửa vẫn đóng kín lại giống như ma. Và thật sự sống lại đâu cần ăn.

- Khi còn ở với anh em Thầy đã nói với anh em “Sách Luật Môsê, sách các tiên tri và các Thánhvị nh chép về Thầy đều phải được ứng nghiệm”: Đức Giêsu đã thực hiện những gì được tiên báo.

- Người mở trí cho các ông hiểu Kinh Thánh: Là hoạt động của Đấng Phục Sinh. Đức Giêsu đã nói trước: Nguời sẽ ban Thánh Thần để đưa các môn đệ đến sự thật trọn vẹn, giúp các ông hiểu và nhớ những gì Ngưòi đã dạy. Và Người thực hiện bằng cách nầy.

- Phải nhân danh Người mà rao giảng sự sám hối để được ơn tha tội: Là mục đích chính của sự hiện ra. Nhưng để các ông chịu đi rao giảng và biết rao giảng những gì thì trước hết các ông phải TIN VÀ NHỜ TIN MÀ NHẬN ĐUỢC QUYỀN NĂNG TỪ ĐẤNG PHỤC SINH thì phải làm cho các ông tin Người đã thực sự sống lại.

Điều chủ yếu là tin Chúa đã sống lại thật và vinh quang thì mới đủ thẩm quyền sai đi và quyền năng của Đấng Phục Sinh mới làm cho công việc các ông được sai làm có kết quả mỹ mãn. Các tông đồ có được điều nầy nên ngay lúc bắt đầu đã đạt kết quả lạ lùng. Sự việc đã xảy ra thế nào? Có lẽ cho đến gần đây sự việc mới được nhận biết rõ ràng. Các bằng chứng bên ngoài không bao giờ đủ chứng minh một sự kiện siêu nghiệm quá lớn lao, vượt xa mọi suy luận của lý trí con người. Phúc Âm không thể che dấu sự kiện “các ông vẫn hoài nghi, còn có người hoài nghi, các ông vẫn chưa tin”. Tôma nói khẳng khái “không tin”. Các ông khác thì ấm ớ, không dám nói ra.

Chỉ sự cảm nghiệm bản thân của mỗi người mới làm cho tin và cũng tuỳ sự cảm nghiệm ấy mà tin thế nào. Nó ở trong chính bản thân mình, là chính con người mình. Nó biến đổi con người mình cách lạ lùng thành mới hoàn toàn. Chẳng những chính bản thân nhận biết mà những người nghe rao giảng, được tiếp xúc với cũng nhận ra điều biến đổi ấy một cách thuyết phục “ngày đầu tiên rao giảng có ba ngàn người tin”. Quá ấn tượng. Là công trình của Đấng Phục Sinh. Chỉ những người cảm nghiệm được mới tin và tin theo như đã cảm nghiệm.

Bắt đầu là “lòng chúng ta đã chẳng nóng lên trong ta khi Người giải thích Kinh Thánh cho chúng ta đó sao”. Hai môn đệ đi về miền quê đã được Luca ghi lại như vậy. Tiếp theo Luca thêm “ Người mở trí cho các ông hiểu Kinh Thánh”. Đó là bắt đầu hoạt dộng của Đấng Phục Sinh nhờ Thánh Thần. Luca cũng cho biết thêm” Người ở lại bốn mươi ngày dạy dỗ các ông đủ mọi điều rồi mới lên trời. Mười ngày sau các ông hợp nhau cầu nguyện và Thánh Thần ngự xuống. Các ông mở cửa, xông ra gặp dân chúng và rao giảng Đức Giêsu mà các ông đã giết treo thập giá đã sống lại vinh quang. Chúng tôi làm chứng. Lời giảng thông minh, mạnh mẽ, can đảm. Mọi người ngạc nhiên và tin các ông vì các ông là bằng chứng

sống động trước mắt mọi người. Hôm đó có ba ngàn người tin và chịu phép rửa. Lòng tin vào Chúa sống lại chỉ được cảm nhận từ bên trong tâm hồn chứ không thể chứng minh từ bên ngoài. Các tông đồ trước hết vì các ông là những người được tuyển chọn, đã ở với Đức Giêsu từ ban đầu, được huấn luyện riêng cách đặc biệt, là chứng nhân nhản tiển mọi lời nói và việc làm của Đức Giêsu, được Đức Giêsu Phục Sinh ban Thánh Thần của Người cho và Thánh Thần đã tác động biến đổi các ông, không đột biến nhưng tiệm tiến trong “40 ngày + 10 ngày”.

Các tông đồ đã làm ra công thức để rao giảng Đức Giêsu Phục Sinh như sau:"Người vẫn sống, đang hiện diện và đang hoat động bằng THÁNH THẦN". Không thấy Đấng Phục Sinh (dù có thấy cũng chỉ một thoáng) nhưng thấy hoạt động vô cùng ấn tượng của Thần Khí của Người. Là bằng chứng không thể chối bỏ vì rõ ràng trước mắt và tồn tại kiểm chứng được.

Với con người được biến đổi và cùng với tác động của Thần Khí các ông giải thích những gì Đức Giêsu đã làm và đã dạy và Kinh Thánh với công thức "Đức Giêsu là Tin Mừng, Người làm cho Cựu Ước trở thành Tin Mừng và các sách Tân Ước khác cũng là Tin Mừng". Đức Giêsu là chìa khoá giải thích toàn bộ Kinh Thánh. Người đã thực hiện toàn bộ Kinh Thánh. Công thức thường dùng “để Kinh Thánh được nên trọn hoặc để Kinh Thánh được thực hiện” làm cho nghĩ rằng các thánh sữ lấy những đoạn Kinh Thánh Cựu Ước có liên quan đến Đức Giêsu ráp lại thánh những chuyện về Phục Sinh và cả về Giáng Sinh (không cần có xảy ra hay không ). Phải giải thích Kinh Thánh theo những gì Đức Giêsu đã thực hiện. Đức Giêsu là sự giải thích Kinh Thánh.

Các tông đồ rao giảng Đức Giêsu đã chịu đóng đinh chết thập giá, đã sống lại với niềm tin không gì lay chuyển dù hình khổ hay sự chết và những điều kỳ lạ các ngài làm được nhân danh niềm tin ấy đã tạo ra một cộng đoàn tín hữu ngày càng lớn mạnh rất nhanh dù ngay khi còn trong trứng nước đã bị thế lực hùng hạnh gấp ngàn lần lả Quyền lực của đế quốc Rôma cũng không quật ngả nỗi mà còn ngược lại làm cho lan rộng và tăng số nhanh hơn. Đây còn là dấu lạ lớn làm bằng chứng hùng hồn là CHÚA ĐÃ SỐNG LẠI THẬT. ALLELUIA. Vậy mà ngày nay chúng ta còn chưa tin sao?

6. Tình yêu - Tính vững bền và sự đòi hỏi

(Suy niệm của Peter Feldmeier - Lm. GB. Văn Hào SDB, chuyển ngữ)

Tình yêu như một đòi hỏi và phải mang tính bền lâu

“Ai giữ lời Người dạy, nơi kẻ ấy, tình yêu Thiên Chúa đã thật sự nên hoàn hảo (1 Ga 2,5).

Lá thư thứ nhất của Thánh Gioan tông đồ vừa giúp khai sáng, nhưng lại vừa mang chở những tư tưởng xem ra có vẻ khá rời rạc. Nội dung gồm chứa những huấn dụ mạnh mẽ, nhưng dường như những tư tưởng đó không được liên kết với nhau chặt chẽ cho lắm. Bài đọc ngắn trong phụng vụ hôm nay cho ta thấy điều này. Nó chất chứa nhiều tư tưởng nhưng đan nối với nhau có vẻ như không được khúc chiết và cũng chẳng mạch lạc. Tư tưởng thứ nhất, thánh tông đồ trình bày: Nếu chúng ta phạm tội, chúng ta có một Đấng Bào Chữa trước mặt Chúa Cha. Đó là Đức Giêsu Kitô - Đấng Công Chính. Sau đó, Thánh Gioan viết tiếp “Những ai không tuân giữ giới răn của Ngài, đó là kẻ nói dối”. Cuối cùng Ngài khẳng quyết “Ai giữ lời Ngài, tình yêu của Thiên Chúa sẽ thực sự nên trọn hảo nơi họ”. Đây là ba tư tưởng xem ra chẳng liên thông gì với nhau cả.

Khi tôi đọc luận văn của các sinh viên và thấy họ viết như thế, tôi sẽ nói các em phải viết lại, diễn nghĩa rõ hơn và nhất là phải nối kết những tư tưởng lại một cách rõ nét hơn.

Nhưng dường như Thánh Gioan tông đồ muốn chúng ta tự làm công việc này cho chính mình. Chúng ta sẽ dễ dàng đan nối các tư tưởng lại thành một hệ thống khi chúng ta nhận ra rằng, chủ đề chính yếu mà thánh Gioan muốn nói tới, chính là Tình yêu. Trong Tin mừng thứ tư, chúng ta thấy rất rõ điều này. Nền tảng thần học căn bản mà Thánh Gioan muốn diễn đạt, nằm trong lời tâm huyết của Đức Giêsu: “ Như thầy đã yêu mến anh em, anh em cũng phải mến thương nhau” (Ga 13,24). Hãy yêu thương, nhưng phải sao chép lại chính tình yêu của Chúa Giêsu, và đó không phải là một việc giản đơn dễ thực hiện. Tác giả Dostoyevsky trong tác phẩm “Anh em nhà Karamazov cũng đã viết một tư tưởng giống như thế:“Tình yêu được thực hiện bằng hành động là một điều gì rất khó khăn và gian nan, không như tình yêu chỉ có ở trong mơ tưởng”. Tình yêu thực sự phải vươn tới một cấp độ cao hơn, và nó chạm tới chân lý tận sâu thẳm nơi hữu thể con người chúng ta: Bởi vì chúng ta được dựng nên, chính là để yêu thương. Vì lý do này, tình yêu là một huyền nhiệm rất cao đẹp và trong sáng. Chỉ trong tình yêu, chúng ta mới có thể tìm về căn tính và khám phá ra thiện ích đích thực ẩn sâu nơi mỗi người.

Vì vậy, tuân giữ Lời Chúa chính là chúng ta diễn bày tình yêu đối với Chúa, và cảm nghiệm được tình yêu của Thiên Chúa được hiện thực tròn đầy nơi ta. Không tuân giữ giới răn của Chúa, chính là phủ nhận chân lý sâu xa ẩn tàng nơi mình, cũng như phủ nhận sự thật về mầu nhiệm Thiên Chúa đang hiện hữu trong thâm sâu cõi lòng của chính chúng ta.

Trên một bình diện, giới răn của Thiên Chúa được dàn trải qua nhiều dạng thức, từ việc sống ngay thật không gian dối như một nền tảng, đến việc thực hành những điều ngay chính trong cuộc sống đời thường. Nhưng trên một bình diện khác, tình yêu chỉ tóm kết vào một định thức giản đơn duy nhất: “Yêu mến là chu toàn lề luật”(Rm 13,8). Điều này dễ hiểu, bởi lẽ Thiên Chúa là tình yêu (1 Ga 4,8). Nơi nào vắng bóng tình yêu, nơi đó không có Thiên Chúa. Cuộc sống chúng ta cho dù bề ngoài xem ra có vẻ tốt lành, nhưng nếu tâm hồn cằn cỗi tình yêu, sự thật sẽ không có nơi chúng ta.

Vì vậy, thực hành tình yêu không phải là một công việc đơn giản. Đó là một mệnh lệnh, và mệnh lệnh đó chạm tới sâu thẳm hữu thể nơi con người mình. Tình yêu đích thực và tinh ròng không bao giờ là tình yêu nửa vời. Nhìn vào bản thân, chúng ta có thể nghiệm ra rằng trong khi tình yêu của Thiên Chúa rất mực hoàn hảo trong ta, thì nơi con người chúng ta, vẫn còn quá nhiều bất toàn và thiếu xót.

Tuy nhiên, khi chúng ta sa ngã, chúng ta không được tuyệt vọng và buông xuôi, để mặc cho sự dữ tung hoành. Bài đọc hôm nay trấn an và cho chúng ta biết rằng “Chúng ta có một trạng sư bào chữa trước mặt Chúa Cha”. Nhưng chúng ta đừng nghĩ rằng Đức Giêsu sẽ ra tay can thiệp, và Ngài sẽ là một luật sư “cãi hộ” cho chúng ta trong ngày phán xét chung thẩm. Không phải thế đâu. Thánh Gioan muốn nói rằng Đức Giêsu đã tự nguyện hiến tế trên thập giá, và hiến tế đó diễn bày vai trò trạng sư của Ngài. Sự tự hủy ra không nơi Ngài là một quà tặng dâng lên Chúa Cha, thay cho chúng ta. Qùa tặng đó là cách thức diễn bày tình yêu của Chúa, một tình yêu vĩnh cửu và vững bền để cột trói chúng ta với Chúa Cha. Ơn cứu độ ở đây nói lên tính cách trạng sư biện hộ nơi Ngài, để phục vụ cho thiện ích của con người. Hiểu như vậy, chúng ta mới có thể khám phá ra tình yêu của Thiên Chúa được thực hiện tròn hảo qua hy lễ thập giá. Tình yêu đó được ban trao, và chính Thiên Chúa gọi mời chúng ta đi vào trong quỹ đạo tình yêu của Ngài để sống chân lý sâu xa từ sâu tận trong tâm hồn chúng ta.

Cuộc sống anh hùng không phải là một cuộc sống với những hành động hiển hách được mọi người biết đến và vỗ tay ca ngợi. Song, sự anh hùng thực sự chính là khi chúng ta cho dù sống thầm lặng, nhưng luôn kiên trung trong một tình yêu bền vững.

Chúng ta hãy nhìn vào mẫu gương của Thánh nữ Têrêsa thành Lisieux. Đức Thánh Giáo hoàng Gioan Phaolô 2 đã tôn phong Ngài tước hiệu tiến sĩ hội thánh. Cuộc sống của Ngài khá dung dị và thầm lặng, nhưng lại rất sâu sa. Ngài đã thuật lại trong cuốn nhật ký một tâm hồn như sau: “Đây là cách thái mà cuộc sống tôi đã trải qua. Tôi chẳng biết làm những công việc phi thường, những chỉ thực hiện những điều rất bình thường tựa như kết dệt cuộc đời tôi bằng những bông hoa đơn sơ và nhỏ bé. Tôi không bỏ qua bất cứ sự hy sinh bé nhỏ nào mà tôi có thể làm được, từ ánh mắt, từ lời nói, hay cử chỉ. Và tôi luôn thực hiện những hy sinh nhỏ bé ấy bằng một tình yêu lớn lao dành trao cho Chúa.

7. Cho họ xem tay và cạnh sườn

(Suy niệm của Lm. Giuse Phạm Thanh Liêm)

Biến cố Đức Giêsu Phục Sinh quả là một biến cố vô cùng quan trọng, vì nhờ biến cố này các tông đồ, và qua các tông đồ đến các Kitô hữu, hiểu biết hơn về Đức Giêsu và về Thiên Chúa. Thiên Chúa đã và đang làm những điều tuyệt vời qua Đức Giêsu Kitô.

I. Đức Giêsu cố chứng minh cho các tông đồ Ngài thực sự đang sống

Theo tin mừng Luca hôm nay, trong khi hai môn đệ trên đường Emmau trở về đang loan báo tin mừng Phục Sinh cho các tông đồ và các môn đệ khác, thì Đức Giêsu Phục Sinh hiện ra cho các ông. Họ rúng động và sợ hãi vì tưởng mình thấy ma. Đức Giêsu đã cố gắng trấn an và thuyết phục họ: “Nhìn chân tay Thầy coi, chính Thầy đây mà! Cứ rờ xem, ma đâu có xương có thịt như anh em thấy Thầy có đây?” (Lc.24, 39). Và không chỉ vậy, chính Đức Giêsu đã đưa tay chân cho các tông đồ kiểm chứng (Lc.24, 40).

Tuy vậy, dường như các tông đồ vẫn còn chưa tin, nên Đức Giêsu nói với các ông: “Ở đây anh em có gì ăn không? Các ông đưa cho Người một khúc cá nướng. Người cầm lấy và ăn trước mặt các ông” (Lc.24, 41-43). Người ta có cảm tưởng Đức Giêsu cũng vất vả thuyết phục và chứng minh cho các tông đồ rằng Ngài đã sống lại, Ngài hiện đang sống. Phục sinh là một biến cố rất đặc biệt, vượt dự đoán của con người. Các tông đồ cũng không phải là những người dễ tin. Tuy dù được báo trước ba lần Đức Giêsu sẽ chết và sẽ sống lại (Mc.8, 31; 9, 31; 10, 33-34), nhưng các tông đồ cũng chẳng dễ dàng chấp nhận việc Ngài sống lại (Mc.16, 9-13); và Đức Giêsu, tuy dù biết trước mình sẽ sống lại, cũng rúng động trước cái chết (Mc.14, 35-36).

Thân phận con người, lúc này biết, lúc khác phân vân nghi ngờ. Ngôi Lời Thiên Chúa đã tự hủy để nhập thể làm người, nên Ngài chấp nhận thân phận con người cách hoàn toàn, nghĩa là, cũng bị cám dỗ, và ngay cả không biết, hoặc lúc này biết lúc khác phân vân nghi ngờ. Vì vậy, Đức Giêsu sống lại, là điều rất mới đối với các tông đồ và con người. Tuy nhiên, một khi được ơn trở thành chứng nhân phục sinh, các tông đồ luôn loan báo tin mừng đặc biệt này, và đã đem chính mạng sống làm chứng cho tin mừng các ngài rao giảng.

II. Ngài mở trí cho các ông hiểu Kinh Thánh

Trong cuộc tranh luận với những người Do Thái, Đức Giêsu nói: “Các ông nghiên cứu Kinh Thánh, vì nghĩ rằng trong đó các ông sẽ tìm được sự sống đời đời. Mà chính Kinh Thánh lại làm chứng về tôi… Vì nếu các ông tin Môsê, thì hẳn các ông cũng tin tôi, bởi lẽ ông ấy đã viết về tôi” (Ga.5, 39.47). Kinh Thánh được một số người coi như lá thư Thiên Chúa viết cho tất cả mọi người qua trung gian dân tộc Do Thái. Đức Giêsu cũng có thể được coi là lá thư, là biểu hiện, biểu chứng, biểu tượng tình yêu của Thiên Chúa cho con người.

Đức Giêsu là tột đỉnh mặc khải của Thiên Chúa cho con người. Qua Đức Giêsu, con người biết hơn về Thiên Chúa và cũng biết hơn về chính con người. Các tạo vật đều mặc khải Thiên Chúa ở một mức độ nào đó. Những nhân vật đáng kính trong lịch sử dân tộc Do Thái cũng như trong lịch sử những dân tộc khác, và nhất là trong những tôn giáo khác, cũng là chứng nhân của Thiên Chúa ở một mức độ nào đó, nhưng Đức Giêsu là một con người đặc biệt, phản ánh Thiên Chúa và tình yêu của Thiên Chúa một cách tuyệt vời, bởi vì Ngài là chính Lời Thiên Chúa nhập thể, Ngài là Thiên Chúa nhập thể.

Kinh Thánh là tác phẩm của Thiên Chúa, nhưng cũng là tác phẩm của con người. Người ta có thể đọc Kinh Thánh đơn thuần như một tác phẩm thuần túy nhân loại, và người ta có thể hiểu được phần nào con người và xã hội thời đó. Hôm nay, theo tin mừng Luca, các tông đồ đã được Đức Giêsu mở trí để hiểu Kinh Thánh. Kinh Thánh không được viết để dạy chân lý khoa học, nhưng để giúp con người biết hơn về Thiên Chúa và tình yêu của Ngài đối với con người, giúp con người biết hơn về Đức Giêsu là tình yêu đặc biệt của Thiên Chúa cho con người.

III. Thật sự biết Thiên Chúa hàm chứa tuân giữ lệnh truyền của Ngài

Niềm tin và cuộc sống phải đi liền với nhau. Niềm tin không chỉ là những điều một người chấp nhận và không liên hệ hay chi phối đời sống họ. Đức tin không có việc làm là đức tin chết (Gc.2, 17). “Nếu nói mình biết Thiên Chúa mà không giữ các lịnh truyền của Thiên Chúa, thì đó là kẻ nói dối” (1Ga.2, 4).

Biết Thiên Chúa, không phải là chấp nhận một số mệnh đề phát biểu về Thiên Chúa, nhưng còn bao hàm chính thái độ sống và cuộc sống của mỗi người. Cái “biết sống động” này được diễn tả qua đời sống cầu nguyện, qua việc chọn lựa trong đời sống thường ngày, qua cách cư xử với người khác… Tuy vậy trong thực tế, có nhiều người “tin” nhưng không “sống”, những người này họ chưa thực sự biết Thiên Chúa, cái biết của họ mới chỉ trên bình diện chấp nhận một điều là đúng. Những ai giữ lệnh truyền của Thiên Chúa, là những người biết Thiên Chúa thực sự.

Niềm tin vào Đức Giêsu Phục Sinh đã chi phối trọn vẹn đời sống các tông đồ. Các ngài đã ra đi rao giảng tin mừng Đức Giêsu Phục Sinh. Các ngài đã dám chết vì chính đạo. Niềm tin vào Đức Giêsu Phục Sinh đã biến đổi đời bao con người, đã biến đổi đời các tông đồ, đã làm bao người “bỏ thế gian” để sống dành riêng cho Thiên Chúa. Các ngài là những người biết Thiên Chúa thật sự.

Câu hỏi gợi ý chia sẻ

1. Theo bạn, khi Đức Giêsu cố gắng làm cho các tông đồ thấy Ngài đang sống thực sự bằng cách cho các tông đồ xem tay và cạnh sườn Người, hàm chứa điều gì?

2. Theo bạn, đức tin Kitô hữu hàm chứa gì? Tại sao lại gọi là ơn? Có gì quý hoặc được lợi gì khi tin Đức Giêsu là Lời Thiên Chúa nhập thể?

8. Sống chứng nhân cho Chúa Kitô Phục Sinh

Lễ Phục sinh đã qua hai tuần lễ, nhưng chúng ta vẫn còn tiếp tục suy gẫm về sự sống lại của Chúa Giêsu. Chúa nhật 3 Phục Sinh hôm nay, Giáo Hội tiếp tục trình bày cho chúng ta biến cố Chúa Giêsu Kitô sống lại. Trong Phúc âm hôm nay Chúa Giêsu lại hiện ra với các môn đệ, Người nói với họ: "Mọi điều viết về Ta trong luật Môisen, tiên tri và thánh vịnh phải được ứng nghiệm". Người còn nói tiếp: "Có lời chép rằng: Đức Kitô phải đau khổ và đến ngày thứ ba Người sống lại từ cõi chết". Đức Giêsu muốn các môn đệ tuyệt đối chắc chắn là ch1inh Người đã sống lại thật!

Ai trong chúng ta đã không ít một lần sợ ma. Vì thế, có thể nói: Sợ ma không phải là chuyện của trẻ con mà đôi khi ngay cả người lớn cũng sợ ma. Thậm chí ngay cả các Tông đồ ngày xưa cũng sợ ma. Đoạn Phúc âm vừa kể lại, ngay trong buổi tối Phục sinh đang lúc các tông đồ họp nhau trong nhà, các cửa đều đóng kín. Bất chợt Chúa Giêsu hiện đến đứng giữa các ông. Các ông hoảng hốt, tưởng mình thấy ma. Vì các ông chưa tin Chúa đã sống lại. Các ông đã phản ứng như một đêm nào trước kia, đang ở trên thuyền gặp sóng gió ngược ngoài khơi, các ông thấy một bóng ma đi trên mặt nước. Các ông kêu lên "ma kìa", nhưng đã được trấn an ngay: "Thầy đây, đừng sợ!" (Mc,47-50). Vậy mà Chúa Giêsu Kitô, Đấng sống lại đã kiên nhẫn làm hết cách này đến cách khác để đưa các môn đệ ra khỏi nỗi ám ảnh kinh hoàng, để giúp cho các ông tin Thầy mình đã sống lại đúng như lời Ngài loan báo. Hiện ra cho các tông đồ lần này, Chúa Giêsu Kitô mời họ nhìn xem và chạm đến tay chân Ngài, để thấy Ngài là người bằng xương bằng thịt. Ngài còn ăn một miếng cá nướng để cho họ thấy Ngài không phải là một bóng ma.

Khi các Tông đồ nhìn thấy Chúa, và các ông tưởng là ma. Có thể chúng ta không thể không thắc mắc vì sao các Tông đồ là những người môn đệ rất thân cận với Chúa, được Chúa Giêsu yêu mến, từng sống ba năm với Chúa Giêsu và hằng ngày đã trò chuyện với Chúa... vậy mà khi thấy Ngài, các ông tưởng là ma. Đáng lẽ ra khi gặp Ngài, các ông phải nhận ra ngay là Thầy mình chứ! Bởi vì các ông đang sống trong tâm trạng thất vọng thật ê chề, thất vọng bởi vì các ông theo Chúa đã hơn ba năm rồi, mà đến nay vẫn còn hai bàn tay trắng, một chút danh dự cũng không có, một chút danh vọng cũng chẳng thấy ở đâu...và rõ ràng trong mấy ngày qua, họ đã tận mắt thấy Chúa bị bắt, rồi bị người ta giết. Thầy mình đã chết và đã được đem chôn rồi. Thế nên giờ đây họ khó mà tin được khi thấy ông Giêsu đó không có chết, mà ông ấy còn sống một cách thật khỏe mạnh nữa, và đang đứng trước mặt các ông đây. Có phải Thầy Giêsu đã sống lại thật? hay ông ấy là ma về nhát mình? Do đó, theo phản ứng tự nhiên, các ông phải buộc miệng kêu lên: Ma kìa! Thế nên, khi hiện ra cho các Tông đồ, Chúa Giêsu bảo các ông hãy chạm vào thân xác mang thương tích của Ngài để biết rằng đây không phải ma hay hồn thiên hiện về, nhưng là thân xác bằng xương bằng thịt đã sống lại: "Ma làm gì có xương có thịt như anh em sờ thấy thầy đây?". Và để giúp các ông tin hoàn toàn và dứt khoát, Ngài còn ăn một miếng cá nướng trước mặt để các ông thấy đây là thân xác đã sống lại thật chứ không phải hồn thiêng hiện về hay ma quỷ gì đâu! Có thể nói, sự thật trước mắt đã xua tan hết mọi nghi ngờ. Rồi đây các tông đồ sẽ là những chứng nhân mắt thấy tai nghe. Các ông còn là những người phải đi công bố Tin Mừng Phục Sinh cho những người không được chứng kiến, để mọi người tin rằng Chúa Kitô đã sống lại thật như Kinh Thánh đã báo trước.

Như vậy, Chúa Giêsu Phục sinh hiểu rõ tâm trạng của các Tông đồ, và Ngài đến để gặp gỡ các ông, an ủi các ông, và củng cố đức tin cho các ông nữa. Còn chúng ta, trong cuộc sống hằng ngày, có khi nào chúng ta bị thử thách về đức tin, hoặc có khi nào chúng ta nghi ngờ về Chúa hay không? Có khi nào chúng ta phải tin một cách miễn cưỡng về những điều chúng ta chưa từng thấy, và rất khó tin như có thiên đàng, có hoả ngục, có đời sau, như có thưởng có phạt. Hay như có Chúa hiện diện trong nhà thờ, hay trong một tấm bánh trắng quá tầm thường quá nhỏ bé như vậy mà chúng ta phải tin là Mình Thánh Chúa? Có lẽ phải có thôi, bởi vì trong cuộc sống của chúng ta, nhiều khi chúng ta đã từng gặp những giai đoạn bảo táp của cuộc đời, khiến đức tin của chúng ta dường như bị khủng hoảng, đôi khi chúng ta cầu nguyện tha thiết mà chẳng thấy Chúa nhậm lời, hoặc là khi chúng ta thấy bất mãn về một điều gì đó trong Giáo Hội, trong gia đình chúng ta? Và những bất mãn đó, những thử thách về đức tin đó nhiều khi nó lớn đến nỗi làm cho người đó phải bỏ đạo, phải chống đạo, chống Giáo Hội, phải xa Chúa và họ không còn tin Chúa nữa. Do đó, bài Phúc âm hôm nay giúp chúng ta thấy ý Chúa muốn nhắc nhở chúng ta. Nếu chúng ta muốn tìm lại được Chúa, nếu tôi muốn củng cố lại đức tin của mình, thì chúng ta cũng phải làm theo cách của các môn đệ Chúa Giêsu, đó là phải tìm Chúa trong Lời Chúa, phải siêng năng cùng cộng đoàn cử hành phụng vụ, các bí tích và nhất là Thánh Lễ. Thánh lễ hồi phục, củng cố và giúp chúng ta mạnh mẽ tin yêu Chúa Kitô phục sinh.

Chúa Phục Sinh đã đem lại cho các tông đồ niềm tin và niềm vui. Các ông đã bị lung lạc vì thấy Chúa Giêsu chết đau đớn nhục nhã trên thập giá, nay tìm được niềm tin vì thấy Ngài sống lại vinh quang. Các ông buồn sầu vì mất Thầy mình, nay được vui mừng vì gặp thầy trong thân xác Phục Sinh. Niềm tin và niềm vui đó từ nay không bao giờ mất được nữa, vì Chúa Giêsu sẽ không bao giờ rời bỏ các môn đệ, như Ngài đã hứa: "Thầy sẽ ở với các con mọi ngày cho đến tận thế". Cho dù sau khi lên trời, các môn đệ không còn thấy Ngài nữa, cho dù phải phân tán mỗi người một ngã, cho dù gặp trăm ngàn khó khăn thử thách, các ông vẫn vững tin rằng Chúa Giêsu phục sinh luôn ở bên cạnh, và niềm xác tín ấy đã làm cho các tông đồ luôn được bình an và phấn khởi vui mừng. Phải, Chúa Kitô Phục Sinh không còn chết nữa. Ngài đang sống và hằng sống. Đối với Ngài, thời gian, không gian, không còn là cách trở. Nói khác đi cho dù chúng ta sống ở đây, trong lúc này thì Chúa Giêsu cũng ở gần chúng ta, hiện diện với chúng ta như là với các môn đệ ngày xưa, có khi gần gũi thân thiết hơn nữa. Ngài còn ở với chúng ta mỗi ngày cho đến tận thế, để ban cho chúng ta Thánh Thần là chính sự sống của Ngài, nhờ đó chúng ta được làm con Chúa Cha, để chúng ta được vững tin và an vui trong mọi hoàn cành của cuộc đời, đẻ với niềm tin và niềm vui đó, chúng ta trở thành những người chứng nhân loan báo Tin Mừng Phục Sinh cho mọi người.

Vì thế, mang thân phận là người Kitô hữu, chúng ta hãy sống đạo đích thực, hãy là người mang đầy niềm vui, niềm vui chân thật xuất phát từ tâm hồn đã được gặp Chúa Kitô Phục Sinh. Đức tin của chúng ta sẽ lớn lên và thắng vượt sợ hãi trước bóng tối cuộc đời, khi chúng ta xác tín vào sự hiện diện của Chúa Phục Sinh trong từng biến cố, từng thử thách, từng khổ đau, khi chúng ta hiểu được lời Ngài quả quyết "Chúng con đừng sợ, vì Thầy đã thắng thế gian".

Lạy Chúa Giêsu Kitô, chúng con tin Chúa đã Phục Sinh, Ngài đang ở bên chúng con. Chúng con xin phó thác cuộc đời con trong tay Chúa. Xin Chúa giúp chúng con biết can đảm sống và làm chứng cho Chúa giữa lòng đời. Amen.

9. Lời mời gọi sám hối

(Suy niệm của Lm. Gioan Nguyễn Văn Ty SDB)

Phục sinh kêu gọi mọi người sám hối?

Cả ba Phúc âm nhất lãm đều đề cập tới lần Chúa hiện ra với nhóm mười một tông đồ. Về lần hiện ra quan trọng này, chi tiết bên ngoài của biến cố hình như không được các thánh sử quan tâm diễn tả cho lắm; chỉ có tường thuật của Lu-ca là đi vào một số chi tiết để chứng minh nhân vật hiện ra đích thực là Đức Giê-su mà các ông đã từng quen biết. Điều mà các tác giả quan tâm tới nhiều hơn là sứ điệp Chúa Phục Sinh muốn thông đạt cho cả nhóm. Chính Đấng Sống Lại đòi nhóm mười một và toàn thể những ai coi mình là môn đệ của Người phải trở thành ‘chứng nhân về những điều (sứ điệp) này’. Không may ngày nay, người ta lại thích nói tới sự kiện phục sinh khải hoàn hơn là đề cập tới sứ điệp của nó, tới độ rất ít khi tín hữu được nhắc nhở hoặc quan tâm tìm hiểu sứ điệp phục sinh thực sự là gì!

Sứ điệp Phục Sinh gồm hai phần chính:

- ‘Kêu gọi sám hối để được ơn tha tội’

- ‘Nhân danh Người rao giảng (điều này) cho muôn dân’

Sám hối để được ơn tha tội: Mát-thêu và Mác-cô đã nói tới nội dung này khi đề cập tới lệnh truyền: ‘làm phép rửa cho họ, nhân danh Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần’ (Mt 28:19), hay lời giải thích: ‘ai tin và chịu phép rửa, sẽ được cứu độ’ (Mc 16:16). Sứ điệp ‘hãy sám hối’ đã được Gio-an Tẩy Giả từng hô hào từ những ngày đầu, trước cà khi Đức Giê-su xuất hiện công khai, qua nghi thức dìm mình xuống giòng sông Gio-đan. Như vậy, sau ngày sống lại, khi Đức Giê-su Ki-tô long trọng công bố trở lại sứ điệp này thì chắc hẳn nó phải chứa đựng một điều gì hoàn toàn mới lạ và cấp bách. Để có thể hiểu được tầm quan trọng của sứ điệp mà Đức Giê-su đã dày công giảng giải cho các môn đệ hiểu, rằng đó chính là trọng tâm của các sách Ngôn Sứ và Thánh Vịnh… nói tóm lại, của toàn bộ Kinh Thánh, ta cần đi sâu vào nội dung của nó. Đương nhiên sám hối đây không thể được hiểu theo nghĩa ‘cải tà qui chính’ - thuần tính luân lý. Sau biến cố Phục sinh, sám hối càng lộ rõ sứ điệp Tin Mừng của một niềm tin tuyệt đối vào Thiên Chúa từ nhân và cứu độ, một khám phá và tín thác không ngừng vào Thiên Chúa đầy lòng xót thương “yêu thế gian tới nỗi đã ban Con Một…” Qua biến cố tử nạn và phục sinh của Đức Ki-tô Giê-su mà mười một tông đồ chắc hẳn đã chứng kiến, các ông phải được giải thích cho hiểu ý nghĩa và nội dung của nó. Quả vậy các ông phải tin và trở thành ‘chứng nhân về những điều này’! Phục sinh chính là để hiểu và nắm bắt sâu sắc sứ điệp đã được công bố ngay từ đầu “Hãy sám hối và tin vào Tin Mừng”. Nói cách khác, sứ điệp chính yếu và long trọng nhất của Tin Mừng Phục Sinh lại chính là hãy “Sám hối để được ơn tha tội”.

Rao giảng cho muôn dân: Bằng các kiểu nói khác nhau (Mát-thêu: ‘Hãy đi và làm cho muôn dân trở thành môn đệ; Mác-cô: ‘Hãy đi khắp tứ phương thiên hạ loan báo Tin Mừng; Lu-ca: ‘Phải nhân danh Người mà rao giảng cho muôn dân, bắt đều từ Giê-ru-sa-lem…’), các tác giả Phúc Âm Nhất Lãm đều cho thấy phần hai của sứ điệp Phục Sinh là một ‘lệnh lên đường’. Phúc âm Gio-an còn nêu rõ sứ điệp này là chính yếu và quyết liệt hơn hết: “Như Chúa Cha đã sai Thầy, thì Thầy cũng sai anh em…” Và để chu toàn ‘lệnh lên đường’, đồng thời để có thể ‘Sám hối và tin vào Tin Mừng’, Thánh Thần đã được trao ban cho các môn đệ; ‘Người thổi hơi vào các ông và bảo: “Anh em hãy nhận lấy Thánh Thần”’ (Ga 20:22), hay ‘Nhận được quyền năng từ trời cao ban xuống’ (Lc 24:49) theo cách nói của Lu-ca. Nếu Đấng sống lại không còn bị chi phối bởi không gian và thời gian, thì sứ điệp cứu rỗi của Chúa Phục Sinh lại càng không thể bị giới hạn, không những bởi không gian và thời gian, mà còn bởi văn hóa, sắc tộc, truyền thống, thậm chí luân lý, cho dầu có ‘bán khai’ hay ‘man rợ’ tới mấy. Phục Sinh chính là tình yêu cứu độ của Thiên Chúa từ nhân được minh chứng là vô giới hạn, không gì ngăn cản nổi. Lệnh lên đường hay truyền giáo phải dựa trên nhận thức ơn cứu độ phổ quát và tình yêu xót thương của Thiên Chúa vượt xa sự hạn hẹp của loài người.

Tôi không chỉ ‘mừng’ Chúa Phục Sinh, mà còn phải ‘sống’ Chúa Phục Sinh. Và sống Chúa Phục Sinh trước hết phải là lắng nghe và loan truyền cho mọi người sứ điệp Phục Sinh thật cấp bách của Đức Ki-tô khải hoàn.

Lạy Chúa Kitô, Đấng Phục Sinh, xin dạy con biết tiếp nhận và sống sứ điệp phục sinh cách ý thức và mạnh mẽ. Trong tư cách là Ki-tô hữu hay linh mục, chính con phải là người đầu tiên sống ‘sám hối’ theo nội dung phục sinh, để có thể trở thành chứng nhân trung thực của sứ điệp cứu rỗi. Cũng xin cho con hiểu được tình yêu cứu độ của Chúa là không biên giới, để con hăng say lên đường gieo rắc tình yêu và lòng thương xót Chúa cho mọi dân nước. Amen.

10. Đời sống chứng nhân – Thiên Phúc

(Trích trong “Như Thầy Đã Yêu”)

Albert Schweitzer là một cậu bé rất thông minh, lại say mê âm nhạc. Khi trưởng thành cậu chơi đàn Organ, và cuối cùng đã trở thành Tiến sĩ âm nhạc. Sau đó, Albert nghiên cứu các chủ đề về tôn giáo, và đã đậu Tiến Sĩ Triết Học. Ông làm Hiệu Trưởng trường Đại Học.

Như thể học chưa đủ, ông từ chức Hiệu trưởng để theo ngành y khoa, 7 năm sau, trở thành bác sĩ với bằng Tiến sĩ Y Khoa. Với 3 bằng cấp Tiến sĩ, Albert Schweitzer dễ dàng trở thành một người giàu có, và nổi tiếng.

Thế nhưng, tiến sĩ Albert Schweitzer lại cùng với người vợ bán tất cả gia tài, sang tận Châu Phi thiết lập một bệnh viện ở Lambarene. Ông cứu giúp hàng ngàn người phong cùi và những người mắc bệnh buồn ngủ.

Ông huấn luyện y tá và điều dưỡng để phụ giúp ông. Khi hết tiền mua thuốc, ông trở về Âu Châu, trình diễn âm nhạc trong thành phố lớn, lấy tiền vé vào cửa để trả tiền mua thuốc cho bệnh viện của ông ở Lambarene. Ông tin rằng những người nghèo ở Châu Phi đều là những thành viên trong gia đình Thiên Chúa. Ông được giải thưởng Nobel Hòa Bình năm 1953.

Sau khi dâng hiến cả cuộc đời cho người Châu Phi nghèo khổ, nhà truyền giáo đã đi về nhà Cha năm 1965 lúc 90 tuổi.

***

Tin mừng hôm nay, Đức Giêsu Phục sinh kêu gọi các môn đệ hãy làm chứng nhân cho Người.

Chúng ta hãy là chứng nhân của sự sống mới. Thế giới ngày nay quay cuồng trong nỗi chết. Cái chết của chiến tranh, khủng bố khiến người ta chết không toàn thây. Cái chết của sida, ma tuý làm người ta chết không ra con người. Cái chết của phá thai, tự vẫn như cướp quyền Đấng Tạo Hóa. Người tín hữu Kitô phải làm chứng cho sự sống mới.

Sự sống của Đấng Phục sinh: Lôi cuốn, hấp dẫn gấp ngàn lần nỗi chết quay quắt điên loạn của con người. Sự sống của Đấng Phục sinh tràn đầy niềm hy vọng. Nếu Đức Kitô bị đóng đinh đã sống lại ra khỏi mồ, thì chúng ta có quyền tin tưởng vào chiến thắng của Người trên bạo lực, hận thù và nỗi chết.

Chúng ta hãy là chứng nhân của niềm vui. Nếu các môn đệ buồn phiền vì Thầy đã chịu khổ hình, thì các ông lại vui mừng biết bao khi nghe tin Thầy sống lại. Nếu các môn đệ lo âu vì sợ người ta đã giết Thầy sẽ bắt luôn cả trò, thì các ông lại trọn niềm hân hoan khi thấy Thầy sống lại ra khỏi mồ. Nếu chúng ta thực sự ra khỏi nỗi âu lo về mình, chúng ta sẽ tràn đầy niềm vui. Nếu chúng ta mang lại nụ cười cho những người bất hạnh, chúng ta đang công bố tin vui Phục sinh.

Đức Hồng Y Danielou có nói: "Chúng ta hãy tự khai mở niềm hy vọng của người bất hạnh, cho dù điều đó đe dọa đến của cải chúng ta".

Cha Charles de Foucauld quả quyết: "Chỉ có một số người có khả năng làm chứng bằng lời nói, nhưng mọi người đều có thể làm chứng bằng đời sống lương thiện, gương mẫu, và bằng đời sống Kitô hữu sinh động".

Trong nghi thức rửa tội của Giáo hội Ấn Độ, người chịu phép Rửa tội đặt tay lên đầu và nói: "Khốn thân tôi, nếu tôi không rao giảng Tin mừng" (1Cr. 9, 16).

Vậy lời rao giảng Tin mừng sinh động nhất, hữu hiệu nhất và cao đẹp nhất chính là một cuộc đời quên mình phục vụ như nhà truyền giáo Albert Shweitzer đã làm cho những người phong cùi Châu Phi.

***

Lạy Chúa,

Khi chúng con u sầu, xin đem đến một ai đó để chúng con an ủi. Khi gánh nặng đè bẹp, xin chất thêm cho chúng con gánh nặng của người khác nữa.

Khi chúng con cần sự âu yếm vỗ về, xin cho người khác kêu gọi chúng con đến để vỗ về âu yếm họ.

Xin dạy chúng con trở nên chứng nhân của một Thiên Chúa phục vụ và yêu thương. Amen.

11. Chúa Nhật 3 Phục Sinh

Anh chị em thân mến.

Nhiều năm trước đây, chắc anh chị em có xem vở kịch của cố soạn giả Lưu Quang Vũ. Vở kịch nói lên tình trậng éo le của một người đã chết, bổng nhiên được sống lại, nhưng không phải với hình hài cũ của mình mà lại với một hình hài được vay mượn của người khác. Việc phục hồi sự sống của anh đã khiến cho những người thân có những phen vỡ khóc, vỡ cười. Vì thân xác của người nầy, mà tâm trí và phong cách thì của người khác. Chính bản thân anh ta cũng khổ sở vì sự phục sinh của mình. Đó là nội dung của vở kịch:"Hồn Trương Ba, Da hàng thịt."

Một sự sống mà có lẽ không ai trong chúng ta mong muốn. Sự sống vay mượn của kẻ khác, sống không ra sống, sống mà không thể hiện được hết con người thật của mình. Sự sống chỉ đem lại toàn những đau khổ cho mình và cho người thân.

Các môn đệ Chúa Giêsu cũng ngạc nhiên bở ngỡ vì sự phục sinh của Thầy mình. Các ông chưa ổn định tinh thần được trước bao nhiêu biến cố dồn dập đến với các ông trong những ngày qua. Niềm vui mừng quá sức, vì sự sống mới của Thầy đã mang đến cho các ông một sức sống mới hoàn toàn. Trước kia, các ông theo Thầy, mặc dù các ông vẫn mang một hình hài thể xác như thế, nhưng tâm hồn các ông hoàn toàn khác. Các ông theo Thầy, nhưng tâm tư mỗi người theo đuổi mục đích riêng tư của mình.

Các ông theo Thầy, nhưng tâm hồn các ông vẫn còn giữ lại cho bản thân mình. Các ông theo Thầy, mặc dù thân xác thì ở kề cận bên Thầy, nhưng tâm hồn thì ở tận mãi nơi đâu, nên những Lời Thầy dạy, chỉ bảo, thông báo trước, các ông nghe mà chẵng hiểu, thấy những việc làm của Thầy, các ông cũng không để tâm suy nghĩ. Chính vì thế. Các ông đã phải trải qua sự thất vọng, vì thần tượng mà các ông tự dựng lên cho mình đã hoàn toàn sụp đổ. Tâm hồn các ông còn bị bao vây bởi những thứ nặng nề khác, nên thân xác mặc dù đã kề cận bên Thầy, nhưng tâm hồn không thể thực hiện được những gì Thầy chỉ bảo. Đó là vì thân xác và tâm hồn không hòa hợp với nhau. Giờ đây các ông mới nhận được sự sống thật, sự sống không còn làm cho các ông phải đau khổ, thất vọng hay sợ sệt nữa.

Đó chính là sự sống mới của Chúa Kitô phục sinh đã mang lại, nên các ông không thể ngồi yên bất động như con người cũ của bấy lâu nay. Nhưng giờ đây, các ông sống đúng với sự sống mới mà Chúa Kitô đã mang đến, sống đúng với niềm vui mừng mà các ông đang tận hưởng. Tâm hồn và thân xác các ông đã được hòa nhập cùng Một Sức Sống Mới. Chúng ta cũng được sự sống mới từ Chúa Kitô, do các Ngài chuyển đến. Chúng ta cũng có cùng sự sống với Các Ngài, chúng ta cũng có cùng niềm vui mà Các Ngài đã có. Nhưng sự sống của chúng ta có được hoàn toàn đỗi mới như Các Ngài hay không, chúng ta có nhìn thấy được niềm vui mà mình đang hưởng hay không, đó là do mỗi người.

Chúa Kitô đã phục sinh, các Tông đồ đã làm chứng và đã truyền lại. Chúng ta đã nhận được sự sống mới, chúng ta đang sống với sức sống mà các Tông Đồ đã vâng lời, làm chứng và truyền lại. Chúng ta đang tận hưởng niềm vui Phục Sinh. Nhưng sao dường như trong con người chúng ta có hai cách sống hoàn toàn khác biệt nhau: Có những lúc, chúng ta muốn mình là một người tốt, nên cũng cố gắng đỗi mới cuộc sống cho tốt hơn, giúp đỡ những người chung quanh, yêu thương mọi người, thi hành những việc đạo đức...

Nhưng cũng có những lúc, chúng ta sống hoàn toàn trái ngược với những gì mình đã tâm quyết, trái ngược với những điều lương tâm nhắc nhở. Lúc đó, đôi lần chúng ta cũng cảm thấy khó chịu khi có ai dám khuyên bảo.

Như thế, đời sống mới, đời sống của Chúa phục sinh lại phải ỏ nơi một thân xác chưa được đỗi mới. Như thế sự phục sinh, sự sống mới lại phải cư ngụ trong một thân xác như thân xác của các Tông Đồ trước khi Chúa chịu đóng đinh trên Thập Giá sao? Như vậy, nhà biên kịch Lưu Quang Vũ đã nói tiên tri thật chính xác về bản thân chúng ta rồi đó, và chúng ta thật sự là một con người, nhưng: Hồn thì của anh chàng Trương Ba tài hoa tế nhị, mà thân xác thì lại là một anh Hàng Thịt thô thiển. Như vậy việc Chúa chịu chết và sống lại, ảnh hưởng đến chúng ta như thế nào, và chúng ta đã làm chứng về sự Phục sinh trong đời sống của mình ra sao.

Chúng ta cùng nhau cầu xin Chúa cho chúng ta biết đỗi mới đời sống, để làm chứng cho Chúa Phục Sinh.

12. Lời chứng của các Tông Đồ – Anmai, CSsR

Thánh Luca vừa trình bày cho chúng ta trình thuật sau cùng của Ngài. Qua trình thuật này chúng ta thấy Chúa Giêsu đưa các môn đệ đi vào trong sự viên mãn của mầu nhiệm Phục Sinh. Trình thuật Chúa Giêsu dẫn đưa các môn đệ như thế nào, chúng ta hãy nhìn đến ý hướng biên soạn của Thánh Luca. Thánh ký kết cấu trình thuật như sau:

- Hiện ra cho các môn đệ (c. 36-43) sau khi đã hiện ra cho Simon (c. 34) cũng như cho hai môn đệ Emmau - (c. 13-35), lần này Chúa Giêsu tỏ hiện cho số môn đệ đông hơn (dĩ nhiên trong đó có nhóm Mười một). Nhấn mạnh cho tất cả thực tại tỏ tường của sự sống lại của Người.

- Người mở trí cho các môn đệ hiểu Kinh thánh, trao sứ mệnh làm chứng nhân cho sự Phục sinh của Người, cùng với lời hứa ban "mãnh lực Trên ban" (c. 44-49).

- Thánh Luca kết thúc Tin mừng với bối cảnh Thăng thiên: Đức Chúa Giêsu tỏ lộ vương quyền của Người và các môn đệ nhận biết sự khải hoàn uy nghi đó (C. 50-53).

- Ngoài ra, chúng ta còn ghi nhận rằng: trình thuật sau cùng này rất gần gũi với biên soạn của Thánh Gioan ở chương 20,19-29. Cả hai thánh ký đều có cách trình bày giống nhau về thân xác Phục sinh của Chúa Giêsu, hoặc cả hai sử dụng một nguồn truyền thống chung hoặc Thánh Luca lấy nguồn từ truyền thống Gioan.

Thân xác phục sinh của Chúa Giêsu được miêu tả như là không còn lệ thuộc vào quy luật vật lý bình thường: Người hiện đến khi cửa đóng (x. c. 36) "bỏ họ mà biến mất" (c. 31). Tuy nhiên, đó cũng là một thân xác thực sự của con người: Người tiến lại gần bên họ (c. 15) chuyện trò hỏi thưa (c. 17; 25) cầm bánh bẻ ra (câu 30) hoặc cùng ăn cùng uống với họ (c. 43) v.v... Cách diễn tả như thế chắc chắn chịu ảnh hưởng sâu xa bởi truyền thống Giáo hội sơ khai, trình bày một Chúa Giêsu cùng ăn cùng uống với các môn đệ sau khi Người sống lại (x. Cv 10. 36-43). Nhất là trong bối cảnh gắn liền với văn hóa Do Thái. Đối với người Do Thái, với não trạng thực tế, thì chuyện không có xác thể đó là thứ ma quái: chứ không phải là con người sống động.

Cách trình bày đó dĩ nhiên bao hàm ý hướng biện giáo cho mầu nhiệm phục sinh: Chúa Giêsu đã chết và đã sống lại thực sự. Chính Người là Con Thiên Chúa làm người, đã từ cõi chết sống lại. Và Người đang sống.

Ý hướng biện giáo này càng là một dữ kiện dễ hiểu đối với Tin Mừng Luca nhằm gởi cho độc giả Hy Lạp. Người Hy Lạp chấp nhận sự bất tử của linh hồn song không tin có sự sống lại của thể xác. Chính vì thế Thánh Luca là thánh ký nhấn mạnh nhiều nhất tới thực tại thể xác của Chúa Giêsu.

Họ còn đang nói, thì Người đã đứng giữa họ (c. 36-43). Các môn đệ kinh hoàng và khiếp sợ trước sự hiện ra bất ngờ của Chúa Giêsu. Phản ứng này có phù hợp với dữ kiện ở câu 34 không? Ở đó tất cả đều được loan báo rằng: "Thực thế, Chúa đã sống lại và hiện ra cho Simon". Tại sao bây giờ họ kinh hoàng khiếp đảm?

Họ nghe nói, nhưng điều đó chưa đủ. Cũng như nơi trình thuật Emmau, cần phải có một cử chỉ, hay một lời từ phía Đấng Phục Sinh, trước khi các môn đệ có thể nhận ra Đấng Phục Sinh. Hay nói một cách khác, để chấp nhận mầu nhiệm phục sinh, cần phải có đức tin (cần được ban cho từ Thiên Chúa). Các thứ bằng chứng hay lời thuyết phục, loan báo v.v... chưa đủ. Và "ân huệ" từ Chúa Giêsu được ban cho các môn đệ là: "Hãy coi tay Ta, chân Ta. Chính là Ta đó. Hãy rờ nắn mà xem, ma nào lại có xương có thịt như các ngươi thấy Ta có" (c. 39; x. Ga 20,20: tay và cạnh sườn).

Còn họ "vì mừng quá mà họ vẫn còn không tin được" (câu 41). Hạn từ apo tês kharas (= praegaudio, mừng vui quá) diễn tả một hạnh phúc, một niềm vui không ngờ được. "Họ không thể tin mắt họ". Có thể đây là một cách diễn tả nhằm biện hộ cho sự cứng tin của các môn đệ (x. Lc 22,45).

Với một cử chỉ thân tình quen thuộc của Thầy và trò trong hành trình loan báo Tin mừng cũng như đầy lòng chiếu cố, Chúa Giêsu đã ăn cá nướng trước mặt các môn đệ để minh chứng cho các môn đệ rằng Ngài đã sống lại thật. Thánh Luca cũng có trong ý nghĩ cái ý nghĩa "thánh thể" của "bữa ăn" này (x. Cv 1,4; Lc 24,30). Sự hiệp thông ở đây với Đức Kitô trong khung cảnh một bữa ăn thân tình, sự hiệp thông tronh tình huynh đệ và diễn tả sự gặp gỡ của đức tin nơi Thánh thể.

Một thân xác phục sinh không còn cần thức ăn; nhưng điều đó không muốn nói rằng thân xác vinh quang không thể "thẩm thấu" đồ ăn của uống. Phần trình thuật này của Thánh Luca (cũng như của Thánh Gioan 20,19t) được miêu tả như để minh chứng rằng: sự phục sinh của Chúa Giêsu là một sự kiện vật lý; Đức Kitô phục sinh không phải là thứ ma quái hay hồn thiêng song là một ngôi vị thực sự.

Không phải thời Chúa Giêsu và các môn đệ, mãi mãi muôn đời có quá nhiều lý luận bài xích cho rằng: các môn đệ lúc đó đã bị lừa gạt bởi những cảm xúc quá mạnh hoặc bởi những tưởng tượng đầy ám ảnh. Trình thuật này của Thánh Luca là câu trả lời cho sự đối kháng đó. Chúng ta vừa nghe Thánh Luca trình bày cho thấy: các môn đệ hoàn toàn không phải là bị ám ảnh, hay là mộng mị như những người không tin thường hay nhạo báng, ngược lại là đúng hơn; và dù có nghi ngờ, họ đã đi đến chỗ xác tín rằng Chúa Giêsu đã sống lại.

Thật ra mà nói thì các môn đệ ngày xưa cũng là con người xác thịt như chúng ta, đâu có dễ dàng gì mà tin một con người đã chết thật mà nay lại sống lại thật với đầy đủ cái thân xác cũng ăn cũng uống như con người. Thế nhưng, Chúa Giêsu đã sống lại thật và các môn đệ đã tin thật. Vì tin cũng như nhận được ân sủng từ Chúa Thánh Thần do Chúa Giêsu thương ban nên lòng tin của các ông tưởng chừng như tan tành theo mây khói nhưng đã được củng cố một cách mạnh mẽ hơn trước.

Chúng ta nhớ lại hình ảnh của một Phêrô nhát đảm nhưng sau khi chân nhận mầu nhiệm Phục Sinh, Phêrô đã mạnh mẽ lên đường đi rao giảng Tin mừng Phục Sinh ấy. Không chỉ rao giảng, Phêrô còn minh chứng quyền năng Chúa Phục Sinh trong chính hành động chữa người què. Anh què vừa đi vừa nhảy nhót vừa ca tụng Thiên Chúa. Như sách Công vụ tông đồ thuật lại: "Toàn dân thấy anh đi lại và ca tụng Thiên Chúa. Và khi nhận ra anh chính là người vẫn ngồi ăn xin tại Cửa Đẹp Đền Thờ, họ kinh ngạc sững sờ về sự việc mới xảy đến cho anh. Anh cứ níu lấy ông Phê-rô và ông Gio-an, nên toàn dân rất kinh ngạc, chạy ùa tới các ông tại hành lang gọi là hành lang Sa-lô-môn" (Cv 3, 9-11).

Hôm nay, Thánh Phêrô, đại diện cho các tông đồ đã minh chứng cho những người Ngài rao giảng về cái chết của Chúa Giêsu và sự phục sinh của Ngài. Ngài minh chứng cho những người ấy cũng chính là Ngài minh chứng cho chúng ta. Ngoài ra, Ngài còn cảnh báo cho chúng ta về những hành vi của chúng ta vì không hiểu biết và Ngài cũng mời gọi chúng ta sám hối và trở lại với Thiên Chúa để chúng ta được Thiên Chúa xoá bỏ tội lỗi.

"Thiên Chúa của các tổ phụ Áp-ra-ham, I-xa-ác và Gia-cóp, Thiên Chúa của cha ông chúng ta, đã tôn vinh Tôi Trung của Người là Đức Giê-su, Đấng mà chính anh em đã nộp và chối bỏ trước mặt quan Phi-la-tô, dù quan ấy xét là phải tha. Anh em đã chối bỏ Đấng Thánh và Đấng Công Chính, mà lại xin ân xá cho một tên sát nhân. Anh em đã giết Đấng khơi nguồn sự sống, nhưng Thiên Chúa đã làm cho Người trỗi dậy từ cõi chết: về điều này, chúng tôi xin làm chứng. "Thưa anh em, giờ đây tôi biết anh em đã hành động vì không hiểu biết, cũng như các thủ lãnh của anh em. Nhưng, như vậy là Thiên Chúa đã thực hiện những điều Người dùng miệng tất cả các ngôn sứ mà báo trước, đó là: Đấng Ki-tô của Người phải chịu khổ hình. Vậy anh em hãy sám hối và trở lại cùng Thiên Chúa, để Người xoá bỏ tội lỗi cho anh em". (Cv 3, 13-19).

Không chỉ tông đồ Phêrô mà cả môn đệ Chúa yêu trong thư thứ nhất của Ngài mà chúng ta vừa nghe đấy, Ngài cũng đã nhắc nhở và cảnh báo chúng ta.

"Chính Đức Giê-su Ki-tô là của lễ đền bù tội lỗi chúng ta, không những tội lỗi chúng ta mà thôi, nhưng còn tội lỗi cả thế gian nữa". (1 Ga, 2, 5)

Như vậy, chúng ta thấy lòng tin của các Ngài. Nhiều người phản bác lòng tin vào Chúa Phục sinh. Như chúng ta thấy đó, lính canh đã nhận tiền của các quan để loan báo rằng "môn đệ của ông ấy đến lấy xác ông ấy". Dẫu phải đối kháng với những người không tin mà còn chà đạp lòng tin nữa nhưng lòng tin của các môn đệ vẫn kiên vững.

Các ngài đã tin, đã minh chứng lòng tin ấy cũng như cảnh báo cho chúng ta về thái độ sống của chúng ta. Chúng ta như thế nào khi đứng trước lời minh chứng ấy. Chúng ta có tiếp tục con đường cũ của những người Do Thái kém tin vào Chúa hay là chúng ta tin Chúa như các môn đệ đã tin.

Chắc chắn lòng tin của chúng ta ngày hôm nay cũng bị thử thách như các môn đệ ngày xưa vậy. Chúng ta vẫn bị giằng co chứ không đơn giản chút nào. Chúng ta thấy các tông đồ ngày xưa loan báo và minh chứng về một Đức Giêsu Phục Sinh không đơn giản vì lẽ các ngài bị chống đối, bị chà đạp. Lòng tin của chúng ta ngày hôm nay cũng bị giằng co, chống đối chà đạp

Nếu trả lời là tin, chúng ta hãy diễn tả lòng tin ấy bằng lối sống thường nhật của mỗi người chúng ta vào Chúa, Chúa thì lại hiện diện nơi chính anh chị em đồng loại.

Xin Chúa thương ban thêm lòng tin cho những con người yếu đuối của chúng ta.

Xin các thánh tông đồ cầu bầu cùng Chúa cho chúng ta để chúng ta ngày mỗi ngày tin vào lời chứng của các môn đệ về Chúa hơn cũng như xin thêm lòng mến để chúng ta diễn tả niềm tin một cách thực tế trong cuộc đời của chúng ta.

13. Danh Chúa Giêsu – Lm. Giuse Trần Việt Hùng

Thời Cựu Ước, Thiên Chúa đã thường sai các sứ thần, sứ giả, các tiên tri và các tổ phụ cha ông để truyền dạy về mầu nhiệm ơn cứu độ. Khi thời đã mãn, Thiên Chúa sai chính Con Một Ngài là Đức Giêsu xuống thế để mạc khải về Nước Trời. Đức Giêsu là Chúa, qua Ngài muôn loài được tạo thành. Danh thánh Chúa Giêsu là danh hiệu vượt trên mọi danh hiệu: "Như vậy, khi vừa nghe Danh Thánh Giêsu, cả trên trời dưới đất và trong nơi âm phủ, muôn vật phải bái quỳ" (Pl 2,10). Danh Chúa Giêsu có quyền lực biến đổi và chữa lành mọi vết đau thương cả hồn lẫn xác. Trong tất cả các lời cầu nguyện chính thức của Giáo Hội đều kết thúc bằng lời cầu: Chúng con cầu xin nhờ danh Chúa Giêsu Kitô, Chúa chúng con.

Sau khi Chúa Giêsu đã phục sinh từ cõi chết, các Tông đồ đã chứng kiến, gặp gỡ và cùng ăn uống với Chúa Giêsu. Chúa Giêsu đã minh chứng rằng Ngài không phải là ma hay bóng hình, mà là người sống thật. Chúa Giêsu đã chỉ cho các ông thấy dấu đinh nơi tay chân và cạnh sườn bị đâm thủng. Chúa đã cùng đồng hành trên đường, đối thoại với hai môn đệ và bẻ bánh phân chia. Niềm xác tín vững vàng, các tông đồ đã mạnh dạn ra đi làm nhân chứng, cho dù đối diện với muôn vàn trở ngại khó khăn. Các Tông đồ đã nhân danh Chúa Kitô Phục Sinh rao giảng sự thống hối và sự ăn năn để lãnh ơn tha tội cho muôn dân. Ông Phêrô nói với dân chúng: “Anh em hãy sám hối, và mỗi người hãy chịu phép rửa nhân danh Đức Giêsu Kitô, để được ơn tha tội; và anh em sẽ nhận được ân huệ là Thánh Thần” (Cv 2,38).

Qua thánh giá, Chúa Giêsu đã đánh bại kẻ thù là tội lỗi và ma quỷ. Thánh giá là chìa khoá mở cửa để vào Nước Trời. Triều thiên vinh quang phải đi qua thánh giá. Chúa Giêsu đã giải thích cho các Tông đồ con đường thánh giá phải đi qua để vào Nước Chúa. Ngài trao ban cho các ông quyền lực để thắng vượt tội lỗi và sợ hãi. Chúa Giêsu mời gọi các tông đồ hãy làm nhân chứng về sự sống lại của Ngài cho mọi người. Chúng ta nghe và đọc nhiều bài tường thuật rất đơn sơ, chân thành về sự kiện Chúa Phục Sinh đã hiện ra với các bà, các tông đồ, môn đệ và nhiều người khác. Chúa hiện ra với mỗi người qua mỗi hình thức trong mỗi hoàn cảnh khác nhau. Mỗi lần Chúa hiện ra đều có ý minh chứng và củng cố thêm lòng tin của các môn đệ vào sự sống lại.

Các môn đồ sống với tâm hồn rất đơn sơ chất phác. Những thắc mắc, ngờ vực và lo âu của các môn đồ là rất thật. Sau khi Thầy của mình đã bị giết chết và chôn trong mộ đá, các môn đồ sống trong tinh thần hoang mang lo sợ và bỏ đi tản mác. Có những môn đồ chán nản bỏ về quê nhà. Trên đường về làng Emmaus, Chúa Giêsu phục sinh đã xuất hiện như người khách lạ cùng đồng hành với các ông để giải thích Kinh Thánh và mở con đường mới dẫn vào Nước Trời. Thật là nhiệm mầu, Chúa đã sống lại rồi, đâu ai có thể gây hại gì cho Chúa nữa. Đôi khi tôi tự hỏi: Sao Chúa không ra mặt công khai công bố tin vui và quy tụ mọi người về một mối? Chúng ta cũng nhớ rằng sứ mệnh rao truyền Tin Mừng của Đấng Messia thì âm thầm và ẩn giấu. Tư tưởng và đường lối của Chúa thì không phải của loài người.

Thiên Chúa rất kiên nhẫn đợi chờ. Chúa luôn tôn trọng tự do của con người. Chúa muốn gặp gỡ với từng tâm hồn. Chúa mở lòng cho mỗi người có cơ hội để cảm nhận được tình Chúa. Nước Trời như hạt cải bé nhỏ được gieo trồng, đâm chồi nẩy lộc và phát triển. Lời giống Lời Chúa cứ tiếp tục tung gieo trên khắp cánh đồng. Những tâm hồn vui vẻ đón nhận và chăm nom vun tưới, hạt giống sẽ sinh hoa kết quả. Khởi đầu Giáo Hội, với con số rất khiêm nhường, chỉ có 12 tông đồ, trong đó một vị đã bỏ cuộc và cùng với 72 môn đệ, các bà đạo đức, một số người thân thiện cảm tình theo Chúa. Họ là nhóm nòng cốt. Chúa Phục Sinh đã trao quyền cho các vị ra đi làm nhân chứng và rao giảng Tin Mừng thống hối. Hầu hết các môn đồ đã lấy mạng sống mình để minh chứng niềm tin vào Chúa Kitô sống lại.

Thánh Phêrô và Gioan đã can đảm rao giảng sự thật: Anh em đã chối bỏ Đấng Thánh, Đấng Công Chính và xin tha tên sát nhân cho anh em, còn Đấng ban sự sống thì anh em lại giết đi. Và các tông đồ đã làm chứng rằng Thiên Chúa đã cho Người từ cõi chết sống lại. Giờ đây các ông chỉ lấy danh Người mà làm các phép lạ chữa lành. Phêrô cũng thành thật chia sẻ rằng chúng tôi không dùng quyền năng riêng hay lòng đạo đức của chính mình mà làm các sự lạ. Khi chữa lành cho anh què tàn tật, ông Phêrô nói: “Vàng bạc thì tôi không có; nhưng cái tôi có, tôi cho anh đây: nhân danh Đức Giêsu Kitô người Nazareth, anh đứng dậy mà đi!” (Cv 3,6). Tất cả năng quyền được trao ban cho các ông đều nhờ qua Danh Chúa Giêsu Kitô. Mọi sự đều phải quy về Chúa Kitô Phục Sinh. Ngài là hoa quả đầu mùa của những kẻ yên giấc. Ngài là đầu của Nhiệm Thể.

Chúa Giêsu đã sai các Tông đồ ra đi làm nhân chứng và truyền rao ơn cứu độ. Các Tông đồ đã xả thân mình vì đức tin. Với một sức mạnh thúc đẩy nội tâm, các ông không còn rụt rè, sợ hãi nhưng kiên vững xác tín rao giảng về cuộc đời của Chúa. Chính Chúa là lẽ sống, là đá tảng và sức mạnh. Tất cả mọi quyền lực thế gian, áp đặt của kẻ thù, bắt bớ, tù tội, gươm giáo và chết chóc không làm lung lạc niềm tin. Các tông đồ vững mạnh tuyên bố rằng: “Vậy xin tất cả quý vị và toàn dân Israel biết cho rằng: nhân danh chính Đức Giêsu Kitô, người Nazareth, Đấng mà quý vị đã đóng đinh vào thập giá, và Thiên Chúa đã làm cho trỗi dậy từ cõi chết, chính nhờ Đấng ấy mà người này được lành mạnh ra đứng trước mặt quý vị” (Cv 4,10).

Thánh Phaolô, vị Tông đồ sinh sau đẻ muộn trong Đức Kitô, cũng mạnh dạn tuyên xưng danh Chúa: “Nhân danh Đức Giêsu Kitô, ta truyền cho ngươi phải xuất khỏi người này! Ngay lúc ấy, quỷ thần liền xuất” (Cv 16,18). Nhân danh Chúa Kitô Phục Sinh, mọi quyền lực thế gian phải quỳ phục. Hãy tự vấn xem có khi nào chúng ta thực tình dùng Danh Thánh Chúa để chế ngự các nết xấu, xua trừ ma quỷ hay làm một việc gì tốt không? Nhiều lần chúng ta đã chối từ, lẩn tránh và ngại ngùng tuyên xưng danh Chúa. Rất thường chúng ta không dám tuyên xưng niềm tin vào Chúa Kitô nơi công cộng. Đôi khi chúng ta không dám làm Dấu Thánh Giá tuyên xưng một Chúa Ba Ngôi nơi bàn ăn. Chúng ta giả vờ sống như những người không tin. Hoạ theo những thói tục hư đốn, truỵ lạc, đàm tiếu, gian dối và tỏ ra mình sành chơi, sành điệu không thua kém gì người không biết Chúa.

Nhìn vào cuộc sống của người Kitô hữu, chúng ta phải chân nhận rằng đã có quá nhiều lần chúng ta phân rẽ chi thể mầu nhiệm của Chúa. Chúng ta dựa vào niềm tin để đả phá, ghen ghét và xa tránh nhau. Lời của Thánh Phaolô nhắc nhở: “Thưa anh em, nhân danh Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta, tôi khuyên tất cả anh em hãy nhất trí với nhau trong lời ăn tiếng nói, và đừng để có sự chia rẽ giữa anh em, nhưng hãy sống hoà thuận, một lòng một ý với nhau” (1 Cr 1,10). Sống tinh thần của Chúa Kitô Phục Sinh là sống tinh thần yêu thương trong an bình. Nhân danh Chúa Kitô, chúng ta là sứ giả của hoà bình, là nhân chứng của tình yêu và là môn đệ của sự khiêm nhường phục vụ.

Lạy Chúa, xin đoái nhìn đến đoàn con của Chúa. Nhờ Mầu nhiệm Vượt qua, Chúa đã biến đổi tâm hồn và thân xác chúng con. Xin cho chúng con biết đặt trọn niềm tin tưởng nơi Chúa Kitô sống lại, để mai sau cùng chung hưởng vinh phúc muôn đời. Chúng con cầu xin nhờ danh Đức Kitô, Chúa chúng con. Amen.

14. Sống chứng nhân phục sinh

Tin Mừng hôm nay cho chúng ta một thấy cảnh tượng các Tông Đồ tụ họp nhau trong căn phòng với tất cả các cánh cửa đều đóng kín, vì lo sợ, tâm hồn họ đã bị tổn thương kể từ khi Chúa Giêsu bị bắt và chịu chết. Nhưng Chúa Giêsu hiện ra, Ngài ban bình an và thổi một nguồn sống mới cho họ. Chúa Giêsu cũng làm như thế cho cúng ta, chúng ta hãy biết mở lòng ra để đón nhận quà tặng mà Chúa Phục Sinh gởi đến.

Trong bài đọc I, Phêrô đã thể hiện một sự can đảm lạ thường khi ông đối mặt với những người có liên quan đến cái chết của Chúa. Ông tuyên bố một cách xác tín rằng: họ đã được tha vì họ không biết việc họ làm. Ở đây, ông đã khơi gợi để họ nhớ lại lời cầu nguyện của Đức Giêsu trên thập giá: "Lạy Cha, xin tha cho cúng vì chúng không biết việc chúng làm." Thánh nhân cũng thôi thúc, mời gọi mọi người hãy ăn năn sám hối để được tha tội.

Trong Tin Mừng, thánh Luca nhấn mạnh rằng: Chúa Giêsu Phục Sinh mà các Tông đồ xem thấy cũng chính là Chúa Giêsu ngày xưa đã từng chung sống với họ. Thân xác Ngài đã được Phục Sinh thật sự nhưng không phải trở về với cuộc sống trần thế, Chúa Giêsu Phục Sinh với một cuộc sống mới không còn lệ thuộc vào không gian, thời gian, đặc biệt là cái chết.

Nhờ liên kết từ những đoạn khác nhau của sách các tiên tri mà người Kitô hữu hiểu và chấp nhận: Đấng Messia chịu đau khổ là kế hoạch cứu độ của Thiên Chúa. Vì thế thánh Luca đã viết, Chúa Phục Sinh đã giải thích Kinh thánh, mở lòng mở trí để các Tông Đồ hiểu lời Kinh thánh đã tiên báo về Người: Đức Kitô phải chịu khổ hình rồi mới bước vào vinh quang. Và Ngài cũng trao sứ điệp này cho các tông Đồ hãy đi kêu gọi mọi người sám hối để được tha tội. Và chính các ông làm chứng về Chúa Phục Sinh cho muôn dân.

Qua ba bài đọc trên, chúng ta có thể rút ra một bài học trong tuần 3 PHỤC SINH: Chúa Giêsu phục sinh vẫn luôn mời gọi chúnng ta hãy làm chứng cho Ngài trước mặt thiên hạ trong cuộc sống hôm nay.

Giống như các Tông Đồ, chúng ta cũng lo lắng, sợ hãi nhiều điều. Có lẽ, điều làm cho mỗi người chúng ta sợ nhất trong cuộc sống hôm nay là: sợ hy sinh, sợ thiệt thòi... vì làm chứng cho Chúa thì tôi phải hy sinh, phải quảng đại và phải nhường nhịn người khác. Tại sao tôi phải sống vì người khác trong khi người ta chỉ biết sống cho riêng mình? Cái chết và sự Phục Sinh Chúa Giêsu là câu trả lời xác thực nhất.

Nhưng Chúa ở đâu mà tôi không cảm nhận được? Chúa không ở xa ta, nhưng ngài vẫn luôn bên cạnh dù giác quan ta không cảm thấy Ngài. Vì mắt chúng ta bị che khuất như hai môn đệ trên đường Emau. Nhưng Lời Chúa và Thánh Lễ sẽ mở mắt để chúng ta nhận ra Chúa trong cuộc sông và trong tha nhân.

Nếu chúng ta tin vào Chúa Phục Sinh thì cuộc đời chúng ta sẽ khác, sẽ thay đổi như các Tông Đồ và các môn đệ. Vì Chúa Phục sinh sẽ ban bình an cho ta và ngài sẽ giải thoát chúng ta khỏi mọi sợ hãi để chúng ta can đảm làm chứng cho Chúa giữa cuộc đời. Nhưng Tin Chúa thì phải giữ Lời Chúa. Như thánh Gioan đã nhắc chúng ta trong bài đọc II: Yêu mến Thiên Chúa đúng nghĩa là tuân giữ giới răn của Ngài.

Lạy Chúa! Chúa vẫn luôn hiện diện bên con mọi nơi, mọi lúc. Nhưng vì lòng tin con chưa đủ mạnh để nhận ra Chúa luôn đồng hành với con trong cuộc sống. Xin cho chúng con mỗi lần tham dự Thánh thể hay đọc Lời Chúa là chúng con gặp được Chúa giống như hai môn đệ trên đường Emau ngày xưa.

15. Chia Sẻ Lời Chúa – Cố Lm. Hồng Phúc

Chúng ta có thể gồm tóm các bài Phụng vụ hôm nay vào trong hai chữ: BẺ BÁNH. Bẻ bánh là gì? Là cầm bánh bẻ ra và chia cho người khác. Bẻ bánh là chia sẻ.

Trong một cuộc du ngoạn dưới nắng hè, chúng ta tìm một chỗ bóng mát, ngồi lại với nhau, cùng chia sẻ lương thực, thức ăn nước uống, để bồi bổ thể xác. Trong Giáo hội tiên khởi cũng như trong Giáo hội ngày nay, ngày Chúa nhật, ngày của Chúa, chúng ta họp lại với nhau để làm lại việc quan trọng là chia sẻ hay bẻ bánh Lời Chúa. Vì chia sẻ hay bẻ bánh Mình và Máu Thánh Chúa trong phép Thánh Thể để nuôi dưỡng linh hồn.

Các bài đọc Phụng vụ hôm nay minh chứng cho chúng ta hai điều đó. Trong bài đọc thứ nhất chúng ta nghe Thánh Phêrô bẻ bánh Lời Chúa cho dân chúng. Bài giảng thật súc tích, ngắn gọn dựa trên các điểm sau đây: Chúa Giêsu Nagiarét chính là Con Thiên Chúa, nhưng anh em đã chối bỏ Đấng Công Chính, Đấng ban sự sống và giết đi. Nhưng Thiên Chúa đã cho Ngài từ cõi chết sống lại. Điều đó chúng tôi xin làm chứng. Vậy anh em hãy trở lại để được ơn tha thứ. Đó là bài giảng đầu tiên và là khuôn mẫu cho các bài giảng thuyết.

Trọng tâm các bài giảng là mầu nhiệm Chúa đã chết, “Chính Ngài là của lễ đền tội không những cho chúng ta mà thôi, nhưng còn cho cả thế giới” (Gio 2-5… ) và Ngài đã Phục sinh sống lại. Giáo hội, theo Luca cho biết, đã ý thức ngay từ đầu việc Chúa Phục sinh, bằng ba lối dẫn nhập này: một là lời cung chứng của các Tông đồ. Các ông không bao giờ nghĩ tới sự việc sẽ xảy ra như vậy. Họ tỏ ra ngờ vực là khác. Luca nhấn mạnh đến thái độ của họ khi nhìn thấy Chúa hiển linh: “họ ngạc nhiên, bối rối lo sợ, nghi ngờ tưởng là bóng ma”. Nhưng rồi họ mới nhận thức đó là sự thật; hai là nhờ sự suy niệm Kinh Thánh, mà Chúa đã dạy cho họ trên đường Emmaus (24, 25-27) cũng như cho tất cả (24, 44-47); ba là nhờ thực hành nghi thức Thánh Thể. Hai môn đệ đã nhận ra Ngài khi bẻ bánh (24,35) và cộng đoàn tiên khởi ân cần tham dự vào mầu nhiệm Thánh Thể (Cv. 2,42 và Icor. 10,46). Ba lối dẫn nhập nhưng cùng đi về một hướng.

Giáo hội có bổn phận “bẻ bánh Lời Chúa” thì chúng ta người tín hữu có bổn phận nhận lãnh Lời Chúa, lắng nghe và thực hành. Mỗi Chúa nhật có một bài giảng, mỗi năm có 54 tuần lễ, tức là có 54 bài chia sẻ Lời Chúa. Nhưng chúng ta đã lãnh nhận như thế nào? Đành rằng có nhiều thứ bài giảng cũng như bánh chia có nhiều loại, bánh mặn, bánh lạt, bánh khô, bánh ướt, thì Lời Chúa, qua thừa tác viên, đến với ta cũng vậy, có bài dài, hoặc giảng buồn ngủ. Thánh Vinh Sơn Ferrier giảng 20.000 ngàn bài và mỗi bài không dưới 3 tiếng đồng hồ. Thánh Phaolô xưa cũng giảng dài, vì Ngài tự cho là lỗi bổn phận: “Khốn cho tôi nếu tôi không rao giảng Lời Chúa”. Tại Troy, Ngài giảng từ chiều tối đến nửa đêm. Có anh chàng ngồi trên cửa thành lầu cao, ngủ gật té chết, Ngài làm cho sống lại và tiếp tục giảng cho đến sáng. Anh em cũng hãy thông cảm với người rao giảng Lời Chúa. Thánh Phanxicô Balesiô sau bài giảng đầu tiên đã phải nằm liệt giường vì lo sợ. Nhưng rồi Ngài trông cậy Chúa và Ngài giảng với tất cả tâm hồn; Ngài định nghĩa “nhà giảng thuyết là người lấy tâm hồn mình và ném vào tâm hồn thính giả”. Giáo luật dạy Linh mục phải dọn kỹ càng, trình bày thích hợp với điều kiện thính giả và nhu cầu thời đại (GL 769) và buộc phải giảng lễ trong ngày Chúa nhật (GL. 767-2) thì Giáo dân có trách nhiệm phải lắng nghe và tuân giữ các điều mà chủ chiên tuyên giảng với tư cách là thày dạy đức tin (GL. 212-1).

Việc quan trọng thứ hai mà Phụng vụ gợi ý hôm nay là việc bẻ bánh Thánh và chia sẻ Mình và Máu Thánh Chúa trong Thánh lễ. Ngày Chúa nhật là ngày mà Giáo hội dạy chúng ta đi tham dự Thánh lễ và kêu gọi chúng ta chia sẻ Mình và Máu Thánh Chúa, của ăn nuôi linh hồn chúng ta. Hai phần ba thế giới đang đói vì thiếu của ăn thì có bao nhiêu người cũng đang đói Chúa. Thánh Lucianô, Giám Mục Nocomedia, bị bắt giam trong tù. Giáo dân lo lót lính canh và mang lễ vật vào thăm. Ngài khuyên họ can đảm giữ vững Đức Tin. giáo dân quây quần xung quanh Ngài và nói: Chúng con đói Chúa. Không có nơi thuận tiện làm lễ, Ngài liền nằm ngửa dưới đất, đặt của lễ trên ngực và làm lễ để cho giáo dân được rước Chúa.

Lạy Chúa Giêsu, xin giải thích cho chúng con lời Thánh Kinh, xin làm cho tâm hồn con sốt sắng khi nghe Chúa nói với chúng con” (Đáp ca).

16. Chứng từ phục sinh

(Suy niệm của Lm Phêrô Hồng Phúc)

Trong suốt những lần hiện ra cùng các tông đồ, luôn luôn, những lời chào chúc đầu tiên của Chúa Giêsu là: "Bình an cho các con". Đây là những gì mà khi trao sứ vụ cho các tông đồ, Chúa Giêsu đã từng dạy các ông: "Đừng mang bao bị, tiền túi dọc đường nhưng vào làng nào, thành nào, các con hãy chúc bình an cho người ta".

Dường như, Chúa muốn dạy cho các tông đồ rằng: "Kho tàng của các con duy nhất là sự bình an, trao ban cho những nơi các con đến" và mùa Phục Sinh này, chúng ta được chứng kiến Chúa Giêsu đã trao ban kho tàng ấy cho các ông: "Bình an cho các con". Bình an vượt trên những sợ hãi, đóng kín cửa trong nhà; bình an để các ông có thể yên tâm ra khơi, cho dẫu cả đêm không bắt được con cá nào; rồi bình an của Chúa đến, sự hiện diện của Chúa sẽ làm cho các ông được đầy thuyền cá lớn. Hơn nữa, sự bình an của Chúa hôm nay còn trao ban cho các ông một sứ mệnh rất lớn lao: "Các con sẽ là chứng nhân những sự kiện đó". Từ đây, bài học không còn là lý thuyết nhưng là chứng từ của cuộc sống về Chúa Kitô Phục Sinh. Với chứng từ này, các tông đồ tiếp tục trao ban bình an cho thế giới. Sự bình an vượt trên mọi sợ hãi, âu lo, trao ban niềm hy vọng và kiến tạo hạnh phúc cho thế giới. Chứng từ về Chúa Kitô Phục sinh là một chứng từ mạnh mẽ nhất về sự chiến thắng thế gian, chiến thắng tử thần. Chứng từ Phục Sinh mở ra cho chúng ta viễn ảnh về sự sống đời đời mà chúng ta được mời gọi sống trong sự sống ấy. Hay nói một cách cụ thể hơn là sống trong sự sống của chính Thiên Chúa Ba Ngôi: Yêu thương, hiệp nhất và vĩnh cửu.

Các tông đồ là những người còn phân vân không phải nghi ngờ Chúa, nhưng nghi ngờ về giác quan của mình, về mắt mình có thể nhìn sai, về trí tưởng tưởng của mình có thể vẽ ra những gì là "tự kỷ ám thị". Chúa Giêsu đã ăn trước mặt các ông để làm chứng cho các ông rằng: "ma đâu có xương thịt như các con thấy thầy có đây". Chúa Giêsu ăn trước mặt các ông không phải vì nhu cầu đói, không phải vì nhu cầu phải ăn mới sống nhưng ăn để làm chứng sự hiện hữu của Chúa trong con người của Giêsu đã từng bị đóng đinh, đã từng bị giết chết.

Chúa Giêsu cũng dạy cho các tông đồ rằng: Chúng ta ăn để sống và sống để làm chứng nhân Phục sinh của Chúa Kitô. Đừng coi ăn là mục đích để rồi chỉ sống mà ăn. Chúa Giêsu đã cho các ông thấy một nhãn giới cao hơn trong mục đích của đời sống con người. Như vậy, các ông đã hiểu ra rằng: Cuộc sống ở đời này là phương tiện để đưa các ông đến với Thầy và làm chứng cho Chúa Kitô Phục Sinh, là làm chứng về một cuộc sống đời đời và trao ban bình an cho thế giới. Đó là sứ mệnh của các ông.

Đến lượt chúng ta, chúng ta cũng hiểu ra rằng: tất cả mọi sinh hoạt, tất cả cuộc sống trần thế, chúng ta đang có đây là những phương tiện giúp chúng ta đến với một niềm hy vọng. Niềm hy vọng để biến chúng ta thành chứng nhân của Tin Mừng và chứng nhân ấy được Giáo hội nhắc lại trên môi miệng mỗi người chúng ta trong thánh lễ mỗi ngày: "Lạy Chúa, chúng con loan truyền Chúa chịu chết và tuyên xứng Chúa sống lại cho tới khi Chúa lại đến". Xin giúp chúng con ý thức sứ mệnh này để đến lượt chúng con lại tiếp tục ra đi làm chứng nhân Tin Mừng cho Chúa trong thời đại chúng con đang sống. Amen.

17. Đau khổ.

Đang khi các tông đồ nghe hai môn đệ từ Emmaus trở về, say sưa kể lại sụ kiện gặp gỡ Đức Kitô phục sinh, thì Ngài bỗng hiện ra và ở giữa họ. Chắc hẳn lúc bấy giờ các ông đã vô cùng sững sờ và ngạc nhiên đến nỗi tưởng như mình đã gặp phải một hồn ma nào đó. Khi ấy Chúa Giêsu mới ân cần làm cho họ nhận biết mình. Ngài nói chuyện với họ, khuyến khích họ sờ vào tay chân Ngài để họ không còn nghi ngờ chi nữa.

Dù vậy các ông vẫn còn e dè sợ sệt. Chúa Giêsu lại phải đưa thêm một bằng chứng khác nữa, đó là Ngài cùng ăn uống với họ. Hồn ma chỉ có thể tạo ra những ảo giác chứ không thể ăn uống như người thật. Các tông đồ đến lúc đó mới hết ngờ vực. Vả lại nhìn chung quanh các ông thấy ai cũng tin như thế, các ông mới yên lòng, vì nếu ảo tưởng thì chỉ có nơi một vài người lẻ tẻ, chứ không thể nào tất cả bằng ấy người lại cùng có một ảo tưởng.

Họ nhận ra Ngài như Ngài đã nói: Chính Thầy đây. Và họ tin chắc đó là Chúa Giêsu, người mà họ đã bước theo suốt ba năm dài, đã trở nên tông đồ, đã sống thân mật và gần gũi với Ngài. Ngài đã chịu nạn chịu chết và bây giờ đã sống lại.

Giờ đây, Chúa Giêsu cũng làm lại điều Ngài đã làm cho hai môn đệ tại Emmaus, đó là mở trí cho họ hiểu Kinh thánh. Bấy lâu nay Ngài đã nhiều lần và bằng nhiều cách dạy cho họ hiểu những lời tiên tri, thánh vịnh. Cố ý cho họ biết Ngài là Đấng Messia, sẽ phải chịu đau khổ và chịu chết. Nhưng nào họ có chịu hiểu cho đâu, lại còn bực bội tức tối về điều đó nữa.

Chúng ta cũng thế. Biết bao nhiêu lần chúng ta vẫn quan niệm Giáo Hội như là một cơ chế quyền lực do Chúa thiết lập. Giáo Hội phải thành công rực rỡ trong mọi lãnh vực. Biết bao nhiêu lần chúng ta đã đòi hỏi cuộc sống thiêng liêng và những hoạt động tông đồ của mình phải gặt hái được những thành quả tốt đẹp. Chúng ta không thể nào chấp nhận được chương trình và cách thức hành động của Thiên Chúa.

Giờ đây Chúa Giêsu mở lòng trí các tông đồ khiến họ phải hiểu qua con đường nào mới tiến đến được vinh quang Nước Trời. Thực tế, con đường của Chúa không đi đôi với vẻ hào nhoáng của những thành công sáng chói ở đời, nhưng đó là con đường nghịch lý mà Chúa Giêsu đã dạy trong tám mối phúc thật. Có thể thỉnh thoảng Chúa cũng ban cho chúng ta một vài thành quả nào đó, tuy nhiên những thành quả ấy phải được sử dụng để làm vinh danh Chúa và mưu cầu lợi ích cho anh em, chứ không phải là để kiếm chác những lợi lộc tư riêng theo kiểu vinh thân phì gia.

Cái định luật bất di bất dịch mà những người tin Chúa phải tuân theo, đó là hãy chấp nhận gian khổ, hãy vác lấy thập giá trên vai nếu như chúng ta muốn trở thành môn đệ Chúa, nếu như chúng ta muốn được chia sẻ phần vinh quang phục sinh với Ngài.

18. Chứng nhân cho Đức Kitô

1. Tin Mừng Chúa Nhật hôm nay kể lại việc Đức Kitô phục sinh hiện ra với các môn đệ, chúng ta dễ nhận ra hai phần: Phần thứ nhất, Đức Kitô dùng những lời nói và những hành động cụ thể để chứng minh Ngài đã thực sự phục sinh; phần thứ hai, Ngài trao cho các ông sứ mệnh mới, đó là hãy rao giảng Tin Mừng cho muôn dân và làm chứng việc Ngài đã phục sinh cho mọi người: "Còn các con, các con sẽ là chứng nhân về những điều ấy" (Lc 24,48). Không riêng một ai, mà Chúa mời gọi mọi Kitô hữu qua mọi thời hãy làm chứng nhân cho Chúa, chúng ta đã làm gì để đáp lại lời mời gọi ấy?

2. Làm chứng là đứng ra xác nhận những gì mình đã chứng kiến, thí dụ làm chứng về một tai nạn giao thông...Người đứng ra làm chứng được gọi là chứng nhân. Chính vì để rao truyền Tin Mừng cho toàn thế giới mà Đức Kitô đã chọn các tông đồ và các môn đệ. Các ngài sẽ chứng thực trước mặt mọi người về những sự kiện đã xảy ra nơi Đức Giêsu, từ phép rửa thánh Gioan đến lúc Đức Giêsu về trời. Đặc biệt về sự phục sinh của Đức Giêsu, biến cố này chứng tỏ Ngài là Thiên Chúa (Cv 1,22; 2,32).

Trong bài đọc I(Cv 3,11-26), Phêrô thay mặt cho các tông đồ lớn tiếng làm chứng cho dân chúng tại Giêrusalem về việc Đức Giêsu đã chịu đóng đinh, chịu chết và nhất là việc Chúa sống lại.

Không những bằng lời rao giảng lúc thuận tiện, mà chính Phêrô cũng như các tông đồ và nhiều môn đệ khác còn làm chứng cho Đức Kitô bằng chính đời sống của mình dù phải vất vả rao giảng, dù phải đòn vọt, tù ngục và ngay cả hy sinh mạng sống, các ông chấp nhận tất cả để làm chứng cho Đức Kitô.

3. "Còn các con, các con sẽ là chứng nhân về những điều ấy", lời mời gọi làm chứng cho Đức Kitô vang dội nơi mỗi người chúng ta. Đức GH Phaolô VI đã nói: "Mỗi người giáo dân, trong bản chất, là một chứng nhân". Sách Giáo Lý Hội Thánh Công Giáo cũng chỉ rõ: qua bí tích Thêm Sức, nhờ ơn Chúa Thánh Thần người Kitô hữu được tháp nhập thâm sâu vào Chúa Kitô, liên kết chặt chẽ với Hội Thánh và

được mời gọi làm chứng đức tin Kitô giáo bằng cả cuộc sống (x.GLGHCG số 1316). Vậy mọi Kitô hữu được mời gọi làm chứng về sự hiện diện của Thiên Chúa trong vũ trụ qua đời sống tốt đẹp của mình mọi nơi mọi lúc. Làm chứng cho tình yêu thương, tha thứ của Thiên Chúa qua đời sống yêu thương tha thứ của mình. Làm chứng cho Đức Kitô phục sinh bằng cách hoán cải, canh tân đời sống như lời Chúa dạy trong đoạn Tin Mừng này, để rồi mai sau được hy vọng cùng phục sinh với Ngài.

Trong bài đọc II, thánh Gioan chỉ rõ cho chúng ta phương cách làm chứng cho Thiên Chúa, cho Đức Kitô bằng những việc làm cụ thể: đừng phạm tội, hãy giữ các giới răn của Thiên Chúa, qua đó thể hiện lòng yêu mến Chúa.

4. Mang thân phận con người, nhất là trong thời đại này, người Kitô hữu cũng rất dễbị cám dỗ, ngụp lặn trong những giá trị vật chất như tiền bạc, danh vọng, quyền lực, lạc thú... Có thể không mất hẳn niềm tin vào Thiên Chúa, nhưng lắm khi mang danh Kitô hữu mà lại sống rất xa, rất khác biệt giới răn Thiên Chúa, lời Chúa dạy.

Nhưng đáng mừng thay, bên cạnh đó, qua mọi thời, mọi nơi không thiếu những Kitô hữu sống không hổ thẹn với các bậc tông đồ, họ đã trung thành làm chứng cho Chúa. Đó là những cá nhân, những gia đình, đoàn thể cố gắng sống xứng danh là người Công Giáo, cố gắng góp phần xây dựng Họ Đạo, xây dựng Hội Thánh. Họ thấy được giá trị của Tin Mừng, cho nên đã kiên vững trong thử thách cho dù phải thiệt thòi về quyền lợi, về vật chất... hay hy sinh cả mạng sống để làm chứng cho Đức Kitô.

5. Tại sao hai môn đệ trên đường Emmau này có được sức mạnh để quay ngay lại Giêrusalem, để làm chứng về sự gặp gỡ của họ với Đức Kitô phục sinh cho các tông đồ? Thưa đó là nhờ được Chúa giải nghĩa Kinh Thánh, nhờ nhận ra Ngài qua nghi thức bẻ bánh. Đức Kitô tiếp tục nâng đỡ đời chứng nhân của các tông đồ, các môn đệ khi họ chuyên cần cầu nguyện, tham dự nghi thức bẻ bánh (Cv 1,14; Cv 2,42). Giờ đây, Ngài vẫn nâng đỡ đời chứng nhân của mọi người chúng ta qua việc cầu nguyện, lãnh các bí tích... nhất là việc tham dự thánh lễ và hiệp lễ.

6. Đức Kitô đã hứa nếu ta làm chứng cho Ngài trước mặt người đời, chính Ngài sẽ làm chứng cho ta trước mặt Thiên Chúa. Vì thế, ước mong rằng mỗi người chúng ta luôn cố gắng bằng mọi phương cách trong đời sống của mình để đáp lại lời mời gọi vừa thân tình vừa là lệnh truyền của Chúa là đem Tin Mừng đến cho muôn dân "Còn các con, các con sẽ là chứng nhân về những điều ấy (cho Thầy)".

19. Chứng nhân hiện đại – AM. Trần Bình An

Linh mục Gioan Lee Tae-seok sinh năm 1962, là con thứ 9 trong 10 người con. Cha mẹ ngài là người Công giáo khiêm nhường, sống ở TP Busan, Nam Hàn. Gioan mồ côi cha lúc 9 tuổi, mẹ ngài phải nuôi cả gia đình bằng nghề thợ may. Gioan học rất giỏi, rất ấn tượng với tiểu sử của Albert Schweitzer và ước muốn làm bác sĩ.

Nhưng khi ngài thấy người anh đi tu dòng Phanxicô, ngài cảm thấy có ơn thiên triệu. Tuy nhiên, mẹ ngài muốn ngài học nghề thuốc trước. Một phần vâng lời mẹ, ngài đã làm bác sĩ. Ngài là bác sĩ phẫu thuật trong quân đội Hàn quốc. Nhưng ngài vẫn cảm thấy ơn gọi làm linh mục. Thấy con trai muốn vậy, người mẹ chiều theo ý con. Ngài tu Dòng Salêdiêng, sang Sudan phục vụ.

Tại Tonj, ngài xây dựng một bệnh viện điều dưỡng. Mỗi ngày ngài điều trị khoảng 300 bệnh nhân. Ngài có chiếc xe Jeep để có thể tự lái đi đến các bệnh nhân chưa bao giờ đến gặp ngài. Ngài đích thân tìm kiếm các bệnh nhân. LM Gioan lớn lên trong cảnh nghèo khổ và không bao giờ xa cách người nghèo ở Tonj.

ĐGM Choi Duk-ki quyết định đến Tonj để tận mắt chứng kiến LM Gioan bằng xương bằng thịt. Thấy tỏ tường, ĐGM nói LM Gioan “như một vị thánh”. ĐGM nói rằng kinh nghiệm giống như “đồng hành với LM Damian ở Molokai, đồng hành với Chúa Giêsu”. LM Gioan làm cho tình yêu Chúa Kitô là ánh sáng dẫn đường trong mọi nỗ lực của ngài dành cho người phong cùi và cho thấy rõ ràng là “chúng ta phải đối xử với nhau như Chúa Giêsu”.

Tính cách và nụ cười của ngài đã thu hút giới trẻ. Giáo dân đến xưng tội thường gọi ngài bằng biệt danh “Cha Jolly” (Cha Vui vẻ). Ngài xây trường học với sự trợ giúp của các học sinh mà ngài dạy toán và nhạc. Ngài còn lập ban kèn đồng Don Bosco và thấy giới trẻ phấn khởi vì họ sống trong cảnh khốc liệt.

Nhưng có lần ngài đi nghỉ ở Seoul. Ngài có thói quen kiểm tra sức khỏe tổng quát, ngài được chẩn đoán bị ung thư đại tràng và ung thư gan. Đầu tiên ngài được hóa trị, nhưng trong vài tháng cuối đời, bệnh ngài sa sút mau chóng và qua đời ngày 14/1/2010, khi mới 47 tuổi.

Tài liệu của đài truyền hình Hàn quốc về cuộc đời LM Gioan ở Tonj đã được chuyển thành phim “Đừng Thương Tiếc Ngài Sudan” (Don’t Cry For Me Sudan). Chỉ xem phim 10 phút là ai cũng sụt sùi cảm động. (Theo Trầm Thiên Thu, Thánh Nhân của Thế kỷ 21, Catholic Herald.co.uk)

Trong Tin Mừng Chúa Nhật 3 Phục Sinh hôm nay, Chúa Giêsu mời gọi các môn đệ, các Kitô hữu trở nên chứng nhân của Người. LM Gioan Lee Tae-seok đã thực sự vâng theo, trở nên nhân chứng hiện đại và đích thực, đem tình yêu đến sưởi ấm những thân phận đau khổ bất hạnh. Làm chứng là đứng ra chứng thực, xác nhận, việc đã xảy ra theo sự thấy biết. (Lê Văn Đức và Lê Ngọc Trụ, Việt Nam Tự Điển)

Thấy biết có thể không thấy trực tiếp qua ngũ quan, nhưng có thể gián tiếp qua tâm hồn bén nhạy, qua con tim tràn đầy tình yêu. Thánh Gioan Tông Đồ nhận biết Chúa Giêsu sống lại qua tình yêu Chúa nồng nàn, khi chỉ nhìn thấy các băng vải cuộn lại và khăn che đầu không để lẫn, mà xếp riêng ra. Ông đã thấy và đã tin.

Chứng nhân tình yêu

Mầu nhiệm cứu độ là mầu nhiệm tình yêu vĩ đại, vô song mà Đức Chúa Giêsu, Ngôi Hai Nhập Thể, dành cho nhân loại. Vì quá yêu thương loài người, Thiên Chúa Cha đã hiến tế Con Một, chịu tội thay cho mọi người, để được cứu khỏi cái chết muôn đời.

Cũng vì yêu thương, Đức Giêsu đã tình nguyện hy sinh Máu và Thịt trở nên Thánh Thể, Lương Thực hằng ngày, dưỡng nuôi con người trường sinh. Hai môn đệ trên đường Emmau đã nhận ra Chúa Giêsu, khi Ngài bẻ bánh, đều là những chứng nhân tình yêu cho các môn đệ khác, cũng như cho toàn thể Kitô hữu. “Khi đồng bàn với họ, Người cầm lấy bánh, dâng lời chúc trụng, và bẻ ra trao cho họ. Mắt họ liền mở ra và họ nhận ra người, nhưng Người lại biến mất.” (Lc 24, 30-31)

Tình yêu Thiên Chúa không chỉ nhắm vào số đông, không chỉ dành cho 99 con chiên ngoan, mà còn dành ưu ái đặc biệt cho một con đi hoang, ngộ nạn, lạc bầy. “Tìm được rồi, ngưới ấy mừng rỡ vác lên vai...Vậy tôi cho các ông hay: trên trời cũng thế, ai nấy sẽ vui mừng vì một người tội lỗi ăn năn sám hối, hơn là vì 99 người công chính không cần phải sám hối, ăn năn.” (Lc 15, 4-7)

Cũng như Người luôn quan tâm, thương xót đến những thân phận khó khăn, đơn côi, bệnh hoạn, bị xã hội gạt ra bên lề, như người phung, người quỷ ám,.. Chứng nhân tình yêu là sống đức bác ái, là thực hành đức Mến thật sự trong mọi nơi, mọi hoàn cảnh và mọi lúc.

Chứng nhân phục vụ

Hơn nữa, chính Đức Giêsu còn hóa thân, mặc lấy những thân phận bần hàn. Nên phục vụ những kẻ hẩm hiu, xấu số chính là tận tụy phục vụ Chúa qua tha nhân, vì Người công khai xác nhận: “xưa Ta đói, các ngươi đã cho ăn; Ta khát, các ngươi đã cho uống; Ta là khách lạ, các ngươi đã tiếp rước; Ta trần truồng, các ngươi đã cho mặc; Ta đau yếu, các ngươi đã thăm nom; Ta ngồi tù, các ngươi đã đến thăm.” (Mt 25, 35-36)

Trong bữa Tiệc Ly, bất ngờ Đức Giêsu đã đứng dậy, rời bàn ăn, cới áo ngoài ra, và lấy khăn mà thắt lưng, quỳ xuống rửa chân cho các môn đệ, một hành động khiêm nhường, hầu hạ của kẻ tôi tớ phục vụ, như Người đã phán: “Con Người đến không phải để được người ta phục vụ, nhưng là để phục vụ và hiến dâng mạng sống mình làm giá cứu chuộc muôn người." (Mc 10, 45) Người còn khẳng định: “Thầy đây, Thầy sống giữa anh em như một người phục vụ.” (Lc 22, 27)

Muốn thật sự phục vụ tha nhân thì tiên quyết bỏ mình, thoát khỏi cái tôi hẹp hòi, vị kỷ, mới có thể khiêm tốn, hạ mình, hoàn toàn xả kỷ, vị tha, nhìn đến người khác với những nhu cầu cấp bách, khó khăn, hoạn nạn, bệnh tật, cô đơn, thấp cổ bé họng. Phục vụ tha nhân vì tin chắc chắn rằng, họ chính là Đức Kitô đã bị bỏ rơi trong vườn Giêtsimani đêm khuya và trên núi Canve chiều hoang. Đức tin biến thành hành động cụ thể và hữu hiệu, đức tin mới khỏi xơ cứng chết đi, như Thánh Giacôbê Tông Đồ khuyên bảo.

Chứng nhân hy vọng

Lời nói gần cuối ở Tin Mừng Thánh Luca, Chúa Giêsu căn dặn: “Có lời Kinh Thánh chép rằng: Đấng Kitô phải chịu khổ hình, rồi ngày thứ ba, từ cõi chết sống lại; phải nhân danh Người mà rao giảng cho muôn dân, bắt đầu từ Giêrusalem, kêu gọi họ sám hối để được ơn tha tội. Chính anh em là chứng nhân về những điều này.” (Lc 24, 46-48)

Người mong muốn các Tông Đồ trở nên chứng nhân hy vọng. Đồng cảm, Thánh Phaolô gửi tín hữu Thêxalônica thư thứ nhất giải thích khá cặn kẽ: “Chúng ta thuộc về ban ngày (sự sáng), nên hãy sống tiết độ, mặc áo giáp là đức tin và đức mến, đội mũ chiến là niềm hy vọng ơn cứu độ.”

Hy vọng là hoàn toàn trông cậy vào Thiên Chúa mọi lúc, mọi nơi, mọi hoàn cảnh. Phó thác tất cả niềm vui lẫn nỗi khổ đau cho Chúa, để được chia sẻ và an ủi, thêm nghị lực đi về Nước Chúa. Đức Cậy không thế thiếu với bất cứ ai nhận mình là Kitô hữu.

“Con hãy làm cho người Công giáo tin tưởng ở ơn thiên triệu Kitô hữu, ơn thiên triệu gia đình, ơn thiên triệu vợ chồng, ơn thiên triệu nghề nghiệp. Họ sẽ hết chán nản, họ sẽ tràn đầy hy vọng, vì họ ý thức rằng, Đấng đã gọi sẽ đưa họ đi đến cùng đích.” (Đường Hy Vọng, số 969)

Lạy Chúa Giêsu Phục Sinh, kính xin phục hồi ba nhân đức Tin, Cậy, Mến trong tâm hồn chúng con, để chúng con luôn biết sám hối, ăn năn trở về, luôn canh tân đổi mới, yệu thương, phục vụ và hy vọng, để thực sự trở nên chứng nhân hiện đại.

Lạy Mẹ Maria, kính xin Mẹ đồng hành với chúng con trên con đường chứng nhân, như xưa Mẹ đã luôn đồng hành cùng Con Mẹ suốt ba năm rao giảng, tới tận chân thập giá trên đồi Canve. Xin Mẹ cầu bầu cho chúng con luôn trung thành sứ vụ chứng nhân của Con Mẹ đến suốt đời. Amen.

20. Chúa Nhật 3 Phục Sinh

Khi nói về Khổng Tử, người ta có kể lại một giai thoại như thế này: Trong thời gian ở nước Tề, thầy trò của Khổng Tử đã gặp phải cảnh đói kém nhọc nhằn. Mỗi ngày một người chỉ ăn được một phần cơm nhất định mà thôi. Một ngày nọ, ông đang nằm đọc sách, chợt nghe có tiếng ai đó đang mở nắp nồi cơm.

Liếc mắt nhìn thì ông nhận ra đó là Nhan Hồi, người học trò thân tín của mình đang vốc từng nắm cơm cho vào miệng. Một lúc sau, khi cơm đã dọn xong, các môn sinh chắp tay mời thầy của mình dùng cơm. Nhưng rồi trước khi ăn, Khổng Tử ngõ ý muốn dùng một ít cơm trắng để gọi là dâng cúng cho cha mẹ. Ý kiến này được mọi người tán thành. Riêng cậu học trò Nhan Hồi thì im lặng, dáng vẽ lắng lo nghĩ ngợi. Khổng Tử điềm nhiên hỏi tiếp: "Ta không biết cơm này có sạch không?" Mọi người ngơ ngác nhìn nhau. Bấy giờ Nhan Hồi mới lễ phép thưa: "Dạ bẩm Thầy! Nồi cơm này không được sạch. Bởi vì trong lúc thổi cơm, con đã vô tình để bụi rớt vào, và con định xới lớp cơm bẩn đó bỏ đi. Nhưng con nghĩ rằng: cơm nấu thì có giới hạn, nếu bỏ đi số cơm bẩn đó thì sẽ mất một phần ăn. Nên mạn phép Thầy, con đã ăn phần cơm bẩn đó, còn cơm sạch để Thầy và các anh em ăn. Mà nồi cơm đã được ăn trước rồi thì chúng ta không nên cúng nữa Thầy ạ!" Nghe xong điều đó, Khổng Tử ngước mặt lên trời đấm ngực mà than rằng: trên đời này, có những việc chúng ta trông thấy rành rành trước mắt, mà còn hiểu không đúng sự thật, một tí nữa thì Khổng Tử này đã trở thành kẻ hồ đồ rồi.

Thưa anh chị em! Không chỉ riêng gì khổng Tử mà tất cả mọi người chúng ta thường có xu hướng dùng cái biết của mình để phê phán một vấn đề, hay là để đánh giá một sự việc nào đó. Kinh nghiệm cho thấy rằng chúng ta thường mắc phải sai lầm khi làm như thế. Bởi vì cái biết của mình chưa thấu đáo, cái hiểu của mình chưa tường tận, cái suy nghĩ của mình thường mang tính chủ quan.Và nó càng trở nên tối tăm lạc lõng khi chúng ta dùng cái biết nhân loại ấy, để suy diễn về các mầu nhiệm của Thiên Chúa, nhất là mầu nhiệm Tử Nạn và Phục Sinh. Chính vì thế mà phụng vụ Lời Chúa trong Thánh lễ Chúa nhật thứ ba phục sinh này, hướng chúng ta tới một sự nhận biết cách đúng đắn về Đức Kitô phục sinh.

Bài đọc thứ nhất thuật lại rằng: sau khi Phêrô chữa lành cho một người què tại cửa Đền thờ, thì có rất nhiều người lấy làm ngạc nhiên, bàn tán xì xầm. Nhân cơ hội đó, Phêrô dã nhắc lại vụ án Đức Giêsu. Ngài quả quyết rằng: Sở dĩ người Do thái bắt giết Đức Giêsu là bởi vì họ không biết. Hay nói đúng hơn là họ đã dùng chính cái biết hạn hẹp của mình, để suy diễn về mầu nhiệm Con Thiên Chúa làm người. Họ đã dùng chính cái biết nông cạn của một tạo vật để dò xét và lượng định tình thương của Đấng Tạo Hóa và cũng là Chúa của mình. Và rồi cuối cùng, họ đã dùng chính cái biết hời hợt đó để đóng đinh Chúa của mình vào thập giá.

Còn nơi bài phúc âm, qua hình ảnh của các môn đệ đang hoang mang lo lắng, nữa tin nữa ngờ về việc Chúa Giêsu sống lại, Thánh Luca cũng cho chúng ta thấy được sự hiểu biết của các môn đệ về Chúa Giêsu, thầy của họ. Với các môn đệ thì Đức Giêsu chính là một vị tiên tri có quyền năng trong lời nói và việc làm. Người có thể làm nhiều phép lạ lớn lao: chuyển núi dời non, cho kẻ chết sống lại, Tóm lại, với các tông đồ thì Đức Giêsu chính là một vị ngôn sứ vĩ đại, là một Đấng mà các ông hoàn toàn có đủ lý do để hy vọng rằng: Người sẽ đứng lên khôi phục lại vương quốc Israel. Và có lẽ chính vì thế mà mới có có chuyện là hai người con của ông Dêbêđê, được mẹ của mình dẫn tới Chúa Giêsu để xin cho một đứa được ngồi bên hữu, một đứa được ngồi bên tả, khi Người được lên làm vua.

Nhưng mãi cho đến giây phút cuối cùng, giây phút Đức Giêsu tắt thở trên thánh giá, họ mới cảm thấy ê chề thất vọng khi nhận ra rằng: đó chỉ là cái tưởng, là cái biết giả, chứ không phải là cái biết thật, mà hai môn đệ trên đường về Emmaus là một bằng chứng cụ thể. Trong lúc hoang mang tủi buồn đó, Đức Giêsu phục sinh có mặt bên họ, và giúp đỡ họ có một sự hiểu biết đúng đắn về Chúa của mình bằng việc bẻ bánh và cắt nghĩa Thánh Kinh. Đành rằng sự kiện này Thánh Luca chỉ nhắc lại cách ngắn gọn ở ngay câu đầu tiên của bài Phúc âm mà chúng ta vừ nghe, nhưng cũng đủ để chúng ta hiểu được rằng: Lời Chúa và Bí tích Thánh thể đã giúp cho các môn đệ nhìn ra khuôn mặt đích thật của Đấng phục sinh.

Tại sao chúng ta dám quả quyết cách mạnh dạn như thế? Thưa bởi vì chúng ta căn cứ trên sự biến đổi đời sống của các ngài. Rõ ràng là chính hai môn đệ này đã quay ngược trở lại: quay ngược lại trong hướng đi của cuộc hành trình, quay ngược lại trong tâm tình vui mừng của người chiến thắng. Những môn đệ kia thì vui mừng rạng rỡ sau khi được Chúa Giêsu chứng minh rằng Người sống lại là để ứng nghiệm những lời báo trước trong Thánh Kinh.

Ngày hôm nay, mặc dù Chúa phục sinh không hiện ra cho chúng ta giống như cho các môn đệ năm xưa nữa. Thế nhưng Người vẫn làm cho chúng ta những việc làm tương tự như Người đã từng làm cho các tông đồ ngày xưa. Nghĩa là người cũng giải thích Thánh Kinh, Người cũng thực hiện việc bẻ bánh, chỉ có điều là Người thực hiện những công việc đó qua Giáo hội của Người.

Nói khác đi là mỗi lần chúng ta tham dự Thánh lễ, là mỗi lần chúng ta được Đấng phục sinh hiện diện qua Giáo hội của Người mà hướng dẫn dạy dỗ, để chúng ta có được một sự hiểu biết về Đấng phục sinh.

Hai môn đệ trên đường về Emmaus đã cảm thấy lòng mình bừng cháy lên sau khi nghe Chúa giải thích Thánh Kinh, đôi mắt tâm hồn họ mở ra khi nhìn thấy Chúa bẻ bánh. Các môn đệ kia đã vui mừng chăm chú như thế nào khi được Chúa soi sáng cho cuộc đời của họ bằng Thánh Kinh.

Còn chúng ta thì sao? Nếu bây giờ ngồi nhớ lai, có lẽ chúng ta sẽ chẳng bao giờ nhớ được rằng mình đã bao nhiêu lần nghe đọc Lời Chúa, bao nhiêu lần tham dự Thánh lễ, nhưmg rồi tâm hồn chúng ta có mở ra được không, tấm lòng chúng ta có bừng cháy lên không? Phải chăng là khi nghe Lời Chúa, chúng ta chỉ nghe như nghe một câu chuyện lịch sữ về Đức Giêsu chứ không nghe với Đức Giêsu như hai môn đệ trên đường Emmaus? Phải chăng là chúng ta đến đây hiệp dâng Thánh lễ như thể là dâng cho Đức Giêsu, chứ không phải là cùng dâng với Đức Giêsu theo như lời tuyên xưng của Giáo hội: "Chính nhờ Người với Người và trong Người ".

Thưa anh chị em! Chúng ta chỉ sống đạo một cách đầy đủ ý nghĩa khi chúng ta có một sự hiểu biết đúng đắn về Đấng phục sinh.Sự hiểu biết đó, chúng ta sẽ có được bằng sự chăm chú lắng nghe Lời Chúa và tích cực tham dự Thánh lễ.

Biết rằng có những lúc Lời Chúa đi ngược lại với những ước mơ và dự định của mình, có nhựng khi việc tham dự Thánh lễ đòi hỏi chúng ta một sự hy sinh rất nhiều. Thế nhưng đó chính là những bài học không bao giờ cũ cho những ai muốn tìm ý nghĩa cho cuộc đời mình; đó là những cơ hội cần thiết để Chúa ban ơn thánh, vốn là điều rất cần cho đời sống chúng ta. Ngoài ra Thánh Gioan còn có thêm một gợi ý rất quan trọng nhằm giúp chúng ta thể hiện sự hiểu biết của mình về Chúa, đó là chu toàn các giới răn của Người: "Ai nói mình biết Đức Giêsu mà không giữ các giới răn của Người, thì người đó không sống trong sự thật."

Nguyện xin Đức Kitô phục sinh đồng hành với chúng con luôn mãi. Đồng hành trong mỗi Thánh lễ chúng con cử hành, để chúng con mỗi ngày được hiểu biết về Chúa cách đúng đắn hơn. Đồng hành với chúng con trong suốt cuộc đời này, để chúng con sống niềm tin và làm chứng về niềm tin mà chúng con đang sống cho những người chung quanh chúng con. Amen.

21. Lữ khách vẫn đồng hành

(Suy niệm của AM Trần Bình An)

Trên đường Emmau, hai môn đệ buồn bã kéo lê bước chân. Đang lúc họ trò chuyện và bàn tán, thì chính Chúa Giêsu đến gần và cùng đi với họ. Nhưng mắt họ còn bị ngăn cản, không nhận ra Người. (Lc 24, 15)

Tại sao mắt họ lại bị ngăn cản? Cũng như chúng ta vẫn thường không nhận ra Chúa, cũng đồng hành với chúng ta từng giây phút.

Ngăn cản vì theo xác thịt.

Làm sao thấy Chúa được, khi còn sợ hãi, khiếp vía, thấy chính Thầy mình phải chịu khổ nạn? Làm sao thấy, khi còn hối hả chạy trốn các quyền lực đen tối? Làm sao thấy, khi còn quý mạng sống của mình trước đe dọa bạo lực? Tính xác thịt chẳng chừa một ai, nếu không áp chế, không dám bỏ mình theo Chúa. Với con mắt xác thịt thì chẳng bao giờ nhìn thấy Chúa hiện diện, mặc dù Người vẫn đang ở ngay bên. “Ai muốn theoTa (hoặc muốn thấy Ta), hãy từ bỏ mình, vác thập giá mình mà theo.”( Mt 16, 24 ).

Ngăn cản vì theo thế gian.

Làm sao thấy Chúa được khi cứ hùa theo thế gian, hùa theo đám đông kết án và đòi xử tử Người. Không dám chống lại xu thế vô thần, chống lại chủ nghĩa duy vật, chống lại khuynh hướng loại trừ Chúa ra khỏi cuộc sống, thì làm sao nhận ra Chúa? Bởi vì Nước Chúa đâu thuộc về thế gian này. Nước tôi không thuộc về thế gian này. (Ga 18, 36)

Ngăn cản vì theo cám dỗ ma quỷ.

Làm sao nhận ra Chúa khi còn nặng nợ với cám dỗ giàu sang phú quý, quyền cao chức trọng, đắm mê theo cám dỗ hưởng lạc, gian tham, dối trá, lừa thầy, phản bạn, hay đố kỵ, ganh ghét, hận thù?

 Sau những giờ phút đau buồn, sợ hãi, lẩn trốn vì cái chết thảm thương của Chúa Giêsu, các ông đánh mất hy vọng. Niềm tin lúc này mới có dịp cam go thử thách. Các ông ngộ nhận Chúa Giêsu cũng chỉ là một ngôn sứ bình thường nào đó. “Người là một ngôn sứ đầy úy thế trong việc làm cũng như lời nói trước mắt Thiên Chúa và toàn dân.” (Lc 24, 19). Nhưng may mắn thay, Chúa Giêsu đã kịp mở mắt các ông bằng hai thần dược. Đó là Lời Chúa và Thánh Thể.

Thần dược thứ nhất, Chúa Giêsu dùng ngay Kinh Thánh để mở mắt họ ra. “Các anh chẳng hiểu gì cả! Lòng trí các anh thật là chậm tin vào lời các ngôn sứ! Nào Đấng Kitô lại chẳng phải chịu khổ hình như thế, rồi mới vào trong vinh quang của Người sao? Rồi bắt đầu từ ông Môsê và tất cả các ngôn sứ, Người giải thích cho hai ông những gì liên quan đến Người trong tất cả Sách Thánh.” (Lc 24, 25-27)

Thần dược thứ nhì, chính là mầu nhiệm Thánh Thể. “Khi đồng bàn với họ, Người cầm lấy bánh, dâng lời chúc tụng, và bẻ ra trao cho họ. Mắt họ liền mở ra, và họ nhận ra Người. Nhưng Người lại biến mất.” (Lc 24, 30-31)

Như thế nhờ hai thần dược huyền diệu, hai môn đệ mới nhận ra Chúa Giêsu. Bây giờ chúng ta cũng vậy, cần nhờ cậy đến hai thần dược ấy để nhìn thấy Chúa, đang cùng đồng hành trên đường Hy Vọng.

Lạy Chúa Giêsu xin giúp con hằng ngày tìm thấy Người qua Lời Hằng Sống và Bí Tích Thánh Thể, để con hy vọng được cứu rỗi.

Lạy Mẹ Sầu Bi, xin nhắc nhủ con hằng tìm đến với Chúa qua Kinh Thánh và Thánh Thể nhiệm mầu, để con có thể xứng đáng trở nên chứng nhân của Chúa. Amen.

22. Những chứng nhân sự phục sinh của Chúa

(Suy niệm của Phanxicô Xaviê)

Hai môn đệ, trong số bảy mươi hai vị đã được Chúa sai đi từng đôi một vào tất cả các thành, các nơi mà chính Người sẽ đến (Lc 10, 1). Nhưng sau khi Chúa Giêsu bị treo trên thập giá, họ đã vỡ mộng và tính về vườn. Do vậy, trên đường về làng Emmau cách Giêrusalem chừng một cây số, thì gặp Chúa, họ liền quay trở lại báo tin cho các tông đồ. Theo Thánh Luca, đây là lần đầu tiên Chúa hiện ra với tất cả các môn đệ, nên các ông kinh hồn bạt vía (Lc 24, 37). Thánh Luca ghi nhận sự kiện này trong hướng thu thập các bằng chứng Chúa sống lại thực sự chứ không là sản phẩm tưởng tượng do các môn đệ đặt ra, vì chính các Ngài cũng còn phải sửng sốt.

Chúa cho các ông xem các dấu đinh để kiểm chứng vì ma thì không có xương thịt. Nhưng có lẽ quá vui mừng, các ông vẫn chưa tin ngay và còn đang ngỡ ngàng. Chúa muốn cho các ông thấy thực tại thể lý sự sống lại của Người, nên Chúa đã cầm một khúc cá nướng và ăn trước mặt các ông. Nhờ vậy các môn đệ thêm tin thực là Chúa như hai môn đệ trên đường Emmau đã nhận ra Chúa Giêsu lúc Ngài bẻ bánh.

Sau khi đã mở trí cho các môn đệ am hiểu Kinh Thánh, Chúa Giêsu trao phó sứ mạng cho các ông lên đường rao giảng về cuộc Thương khó và Phục sinh của Người để kêu gọi mọi người ăn năn sám hối đón nhận ơn cứu độ. Trong môi trường văn hóa Do thái bấy giờ, việc tha tội và Phục sinh phải đi đôi với nhau, vì nếu cái chết được quan niệm như là hình phạt của tội lỗi, thì Phục sinh phải là dấu chỉ tội lỗi đã được xóa bỏ.. Chính vì vậy, những lời Kinh Thánh, các việc loan báo, các sự kiện....về sự Phục sinh của Chúa đã phải làm các tông đồ vững tin, nhưng để kiện toàn hơn về lòng tin này, vì các Ngài sẽ là những chứng nhân, cũng như vì đức tin của các thế hệ mai sau sẽ dựa trên chứng từ của các tông đồ, đặc biệt của Thánh Phêrô, mà Chúa phải hiện ra nhiều lần với các ông, ban cho các ông nhiều bằng chứng về sự sống lại của Ngài. Đó chính là điều mà Thánh Luca muốn diễn tả. Đức tin của Thánh Phêrô là nguồn mạch đức tin của người khác, kể cả của các môn đệ mà Chúa Giêsu đòi các Ngài phải là chứng nhân.

Có lần người ta hỏi đại thi hào Danic của Italia rằng: đâu là điều mà ông mong muốn và tìm kiếm trong cuộc sống. Bậc vĩ nhân đã trả lời như sau: "Tôi vẫn luôn đi tìm kiếm điều mà bất cứ ai cũng tìm kiếm đó là sự bình an". Là điều mà chúng ta vẫn cầu xin cho người quá cố: trên bia mộ nào cũng luôn ghi lời cầu xin cho họ được an nghỉ nghìn thu. Phải chăng trong cuộc sống tại thế này, chúng ta sẽ khò tìm được hòa bình và an nghỉ. Thế giới dường như chưa bao giờ được hưởng những giây phút hòa bình thực sự, có chăng chỉ là những khoảnh khắc tạm bợ đầy những rình rập của chiến tranh và lo sợ.

Trong những phút cuối đời, Chúa Giêsu đã hứa hẹn với chúng ta "Ta ban bình an cho các con. Ta ban thứ bình an mà thế giới không thể ban tặng cho các con". Đó là sự bình an đích thực trong tâm hồn, Chúa đã mang đến cho các môn đệ qua những lần hiện ra với các ông.. Chính nhờ sự bình an này đã giúp biến đổi các ông từ con người nhát đảm, cứng lòng tin trở thành những con người mạnh mẽ, nhiệt thành loan báo tin mừng Phục sinh của Chúa Giêsu.

Lời Chúa nói với chúng ta hôm nay chính là lời chứng của các tông đồ về việc Chúa Phục sinh. Các Ngài đã nói với chúng ta không chỉ bằng lời truyền lại trong Kinh Thánh, mà còn bằng chính đời sống mạnh mẽ loan tin ấy và rồi dám chết cho điều mình tin. Suốt hơn 2000 năm lịch sử, các tông đồ, các nhà truyền giáo, những nhà hoạt động xã hội nhân danh Chúa Giêsu đã làm tốt điều ấy. Tin Chúa Phục sinh đã là điều cần, nhưng cần hơn còn phải biết biến niềm tin ấy thành hiện thực trong cuộc sống. Nghĩa là lên đường loan báo những gì mình đã tin. Chúng ta được mời gọi, tùy theo cách thế, hoàn cảnh mà làm chứng việc Chúa sống lại bằng chính cuộc sống của kẻ tin có sự sống lại. Khởi đi từ suy nghĩ, lời ăn tiếng nói tới thái độ cư xử, cách sử dụng tài sản và phục vụ tha nhân của mình.

Lạy Chúa, xin cho con nên nhân chứng sự Phục sinh của Chúa bằng việc góp phần làm sống lại những con người đã chết vì chán nản, thiếu niềm tin để sống. Những nét đẹp phong hóa của tình nghĩa đã chết vì bị quên lãng hay vì tiền bạc, vì lợi nhuận.....Xin cho con biết đón nhận những khó khăn trong cuộc sống với ý thức chúng sẽ đưa tới cuộc hồi sinh của anh em con.

 

LỜI CHÚA CHÚA NHẬT II PHỤC SINH NĂM B
KÍNH LÒNG THƯƠNG XÓT CHÚA
(08/4/2018) – (Ga 20, 19-31)
"TÁM NGÀY SAU CHÚA GIÊSU HIỆN ĐẾN".

BÀI ĐỌC I: Cv 4, 32-35
"Họ đồng tâm nhất trí".
Trích sách Tông đồ Công vụ.

Lúc bấy giờ tất cả đoàn tín hữu đông đảo đều đồng tâm nhất trí. Chẳng ai kể của gì mình có là của riêng, song để mọi sự làm của chung. Các tông đồ dùng quyền năng cao cả mà làm chứng việc Chúa Giêsu Kitô, Chúa chúng ta, sống lại. Hết thảy đều được mến chuộng. Vì thế, trong các tín hữu, không có ai phải túng thiếu. Vì những người có ruộng nương nhà cửa đều bán đi và bán được bao nhiêu tiền thì đem đặt dưới chân các tông đồ. Và người ta phân phát cho mỗi người tuỳ theo nhu cầu của họ.

Đó là lời Chúa.

ĐÁP CA: Tv 117, 2-4. 16ab -18. 22-24
Đáp: Hãy cảm tạ Chúa, vì Chúa hảo tâm, vì đức từ bi của Người muôn thuở (c. 1).
Hoặc đọc: Alleluia.

1) Hỡi nhà Israel, hãy xướng lên: "Đức từ bi của Người muôn thuở". Hỡi nhà Aaron, hãy xướng lên: "Đức từ bi của Người muôn thuở". Hỡi những người tôn sợ Chúa, hãy xướng lên: "Đức từ bi của Người muôn thuở". - Đáp.

2) Tay hữu Chúa đã cất nhắc tôi lên, tay hữu Chúa đã hành động mãnh liệt. Tôi không chết, nhưng tôi sẽ sống, và tôi sẽ loan truyền công cuộc của Chúa. Chúa sửa trị, Chúa sửa trị tôi, nhưng Người đã không nạp tôi cho tử thần. - Đáp.

3) Phiến đá mà những người thợ xây loại bỏ, đã biến nên tảng đá góc tường. Việc đó đã do Chúa làm ra, việc đó kỳ diệu trước mắt chúng ta. Đây là ngày Chúa đã thực hiện, chúng ta hãy mừng rỡ hân hoan về ngày đó. - Đáp.

BÀI ĐỌC II: 1 Ga 5, 1-6
"Mọi cái sinh ra bởi Thiên Chúa đều chiến thắng thế gian".
Trích thư thứ nhất của Thánh Gioan Tông đồ.

Các con thân mến, ai tin rằng Đức Giêsu là Đấng Kitô, thì kẻ ấy sinh bởi Thiên Chúa, và ai yêu mến Đấng sinh thành, thì cũng yêu mến kẻ sinh ra bởi Đấng đó. Cứ dấu này chúng ta nhận biết rằng chúng ta yêu mến con cái Thiên Chúa, là khi chúng ta yêu mến Thiên Chúa và thực hành các giới răn Người. Vì chưng, lòng yêu mến Thiên Chúa là chúng ta tuân giữ giới răn Người, và giới răn của Người không nặng nề.

Vì những gì sinh bởi Thiên Chúa đều chiến thắng thế gian, và đây là cuộc thắng trận thế gian, là chính đức tin của chúng ta. Ai là người chiến thắng thế gian, nếu không phải là người tin rằng Chúa Giêsu là Con Thiên Chúa? Đấng đã đến nhờ nước và máu, chính là Đức Giêsu Kitô, không phải trong nước mà thôi, nhưng trong nước và máu nữa, có Thánh Thần làm chứng rằng Chúa Kitô là chân lý.

Đó là lời Chúa.

ALLELUIA: Ga 20, 29
Alleluia, alleluia! - Chúa phán: "Tôma, vì con đã xem thấy Thầy, nên con đã tin. Phúc cho những ai đã không thấy mà tin". - Alleluia.

PHÚC ÂM: Ga 20, 19-31
"Tám ngày sau Chúa Giêsu hiện đến".
Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Gioan.

Vào buổi chiều ngày thứ nhất trong tuần, những cửa nhà các môn đệ họp đều đóng kín, vì sợ người Do-thái, Chúa Giêsu hiện đến, đứng giữa các ông và nói rằng: "Bình an cho các con". Khi nói điều đó, Người cho các ông xem tay và cạnh sườn Người. Bấy giờ các môn đệ vui mừng vì xem thấy Chúa. Chúa Giêsu lại phán bảo các ông rằng: "Bình an cho các con. Như Cha đã sai Thầy, Thầy cũng sai các con". Nói thế rồi, Người thổi hơi và phán bảo các ông: "Các con hãy nhận lấy Thánh Thần, các con tha tội ai, thì tội người ấy được tha. Các con cầm tội ai, thì tội người ấy bị cầm lại". Bấy giờ trong Mười hai Tông đồ, có ông Tôma gọi là Điđymô, không cùng ở với các ông, khi Chúa Giêsu hiện đến. Các môn đệ khác đã nói với ông rằng: "Chúng tôi đã xem thấy Chúa". Nhưng ông đã nói với các ông kia rằng: "Nếu tôi không nhìn thấy vết đinh ở tay Người, nếu tôi không thọc ngón tay vào lỗ đinh, nếu tôi không thọc bàn tay vào cạnh sườn Người, thì tôi không tin".

Tám ngày sau, các môn đệ lại họp nhau trong nhà và có Tôma ở với các ông. Trong khi các cửa vẫn đóng kín, Chúa Giêsu hiện đến đứng giữa mà phán: "Bình an cho các con". Đoạn Người nói với Tôma: "Hãy xỏ ngón tay con vào đây, và hãy xem tay Thầy; hãy đưa bàn tay con ra và xỏ vào cạnh sườn Thầy; chớ cứng lòng, nhưng hãy tin". Tôma thưa rằng: "Lạy Chúa con, lạy Thiên Chúa của con!" Chúa Giêsu nói với ông: "Tôma, vì con đã xem thấy Thầy, nên con đã tin. Phúc cho những ai đã không thấy mà tin".

Chúa Giêsu còn làm nhiều phép lạ khác trước mặt các môn đệ, và không có ghi chép trong sách này. Nhưng các điều này đã được ghi chép để anh em tin rằng Chúa Giêsu là Đấng Kitô, Con Thiên Chúa, và để anh em tin mà được sống nhờ danh Người.

Đó là lời Chúa.
__________________________________

I/. GIỚI THIỆU CÁC BÀI ĐỌC:

Các Bài Đọc hôm nay cho thấy sự quan trọng của niềm tin vào sự sống lại của Đức Kitô.

TRONG BÀI ĐỌC I Trích sách Tông đồ Công vụ, niềm tin vào Chúa phục sinh giúp các tín hữu đầu tiên biết yêu thương nhau; họ bỏ mọi sự làm của chung, để không ai phải thiếu thốn gì cả.

TRONG BÀI ĐỌC II Trích thư thứ nhất của Thánh Gioan Tông đồ, tác giả Thư Gioan I, xác nhận: Ai yêu mến Thiên Chúa, cũng yêu mến Đức Kitô, Con Thiên Chúa; và nếu ai yêu mến Thiên Chúa, cũng thắng thế gian, vì thế gian từ chối không nhận biết Ngài.

TRONG BÀI TIN MỪNG theo thánh Gioan, tác giả tường thuật hai lần Chúa Giêsu hiện ra với các môn đệ: Lần đầu không có sự hiện diện của Thomas, Chúa ban bình an và sai các ông đi rao giảng Tin Mừng cho mọi người. Lần thứ hai, Chúa hiện đến với các tông đồ và có sự hiện diện của Thomas. Ngài thách thức ông hãy xỏ ngón tay ông vào các lỗ đinh đóng của Ngài, để ông tin Chúa vẫn sống.

(Theo Lm Antony Đinh Minh Tiên OP.)
______________________________________

II/. NGUỒN GỐC: LỄ KÍNH LÒNG THƯƠNG XÓT CHÚA – CHÚA NHẬT II PHỤC SINH

Năm 1931, Chúa hiện ra với thánh nữ Faustina trong một thị kiến. Thánh nữ nhìn thấy Chúa Giêsu mặc một chiếc áo trắng với cánh tay phải giơ lên như đang chúc lành. Tay trái của Ngài đụng vào áo nơi trái tim, nơi mà hai ánh sáng chiếu tỏa ra, một tia màu đó và một tia màu trắng lạt. Thánh nữ nhìn không chớp mắt thẳng vào Chúa trong thinh lặng, linh hồn thánh nữ tràn ngập lòng kính sợ, nhưng cũng tràn đầy niềm vui khôn tả.

Chúa Giêsu nói với thánh nữ:

Hãy vẽ một bức ảnh theo mẫu thức mà con nhìn thấy, kèm theo dòng chữ: Lạy Chúa Giêsu, con tín thác nơi Chúa. Cha mong ước bức ảnh này được tôn kính, trước hết, tại nguyện đường của con, sau đó, ở khắp nơi trên thế giới. Cha hứa là, linh hồn nào tôn kính bức ảnh này sẽ không bị hư mất. Cha cũng hứa cho linh hồn thắng được các kẻ thù ngay khi còn sống trên thế gian, nhất là trong giờ lâm tử. Chính Cha sẽ bảo vệ linh hồn ấy như là bảo vệ vinh quang của riêng Cha.

Khi con nói điều này với cha giải tội của con, con nhận được câu trả lời thế này: "Điều ấy có ý chỉ về linh hồn của con". Người bảo con là: "Đúng đấy, hãy vẽ hình ảnh Thiên Chúa trong linh hồn của con". Ra khỏi toà giải tội, con lại nghe thấy những lời như sau: Hình ảnh của Cha đã sẵn có nơi linh hồn con rồi.

Cha mong có một LỄ KÍNH LÒNG THƯƠNG XÓT.

Cha muốn bức ảnh mà con vẽ bằng cây cọ này phải được long trọng làm phép vào ngày Chúa Nhật Thứ Nhất sau Lễ Phục Sinh. Ngày Chúa Nhật này phải là ngày Lễ Kính Lòng Thương Xót. Cha ước mong các linh mục loan truyền tình thương vĩ đại này của Cha cho các linh hồn những tội nhân. Để tội nhân đừng sợ tiến đến với Cha. Những ngọn lửa tình thương đang nung nấu Cha - bừng bừng muốn toé ra, Cha muốn tuôn đổ những ngọn lửa tình thương này xuống trên các linh hồn ấy. Cha muốn bức ảnh này phải được trưng bày nơi công cộng vào ngày Chúa Nhật thứ nhất sau Lễ Phục Sinh. Chúa Nhật này là Lễ Kính Lòng Thương Xót.

Khi Ðức Cha Karol Wojtila (Ðức Gioan Phaolô II tương lai) trở thành Tổng Giám mục Krakow năm 1964, ngài đứng trước một tình trạng tế nhị. Dầu sao đi nữa, ngài rất quen thuộc với sứ điệp nữ tu Faustina phổ biến vì lúc còn là chủng sinh "chui" trong thời Ðệ Nhị Thế chiến khi Ðức Quốc Xã cai trị Ba Lan, ngài đã thường xuyên viếng thăm Ðền Lòng Thương Xót Chúa ở đồi Lagiewniki, Krakow, nơi nữ tu Faustina từng cư ngụ và qua đời.

Ðức Tổng Giám mục Karol Wojtila cho điều tra sự việc và sau đó cho dịch lại một bản mới nhật ký của sơ Faustina để gửi cho Toà Thánh. Nhờ đó, vào năm 1978 Toà Thánh đã rút lại lệnh cấm cuốn nhật ký của Faustina, chỉ sáu tháng trước khi Ðức Tổng Giám mục Karol được bầu làm Giáo hoàng.

Ngày 18/04/1993, Ðức Thánh Cha Gioan Phaolô II đã phong Chân phước cho Nữ tu Faustina Kowalska sau khi một người phụ nữ tên Maureen Digan được chữa lành khỏi một bệnh di truyền về máu nhờ lời cầu bầu của nữ tu Faustina. Và cuộc phong thánh vào ngày 30/04/2000 với rất nhiều người tham dự là kết quả của một phép lạ chữa lành cha Ronald P. Pytel (Baltimore, Hoa Kỳ) khỏi bệnh tim.

Ðức Thánh Cha Gioan Phaolô II gọi Thánh nữ Maria Faustina là "món quà của Thiên Chúa ban cho thời đại chúng ta".

Trong bài giảng của buổi lễ phong thánh, Ðức Thánh Cha nói: "Tương lai của nhân loại trên mặt đất này sẽ ra sao?

Chúng ta không được biết. Tuy nhiên, con người có thêm tiến bộ thì không may cũng không thiếu kinh nghiệm đớn đau. Nhưng ánh sáng của lòng thương xót Chúa. sẽ chiếu sáng đường đi cho con người trong thiên niên kỷ thứ ba. Ðức Thánh Cha cũng đã chính thức công bố từ nay về sau Chúa nhật II Phục sinh sẽ được gọi là Chúa nhật kính Lòng Thương Xót Chúa.

Trong bài giảng, Ðức Thánh Cha cho rằng chỉ khi nào con người cảm nhận được lòng thương xót vô biên của Thiên Chúa dành cho nhân loại thì con người mới có thể "nhìn vào anh chị em của mình với đôi mắt mới, với thái độ vị tha và liên đới, đại lượng và tha thứ".

Việc tôn sùng Lòng Thương Xót Chúa hiện nay được phổ biến trong nhiều quốc gia khắp thế giới qua sự cổ võ hoạt động của khoảng 2 triệu thành viên trong tổ chức "Tông đồ Lòng Thương Xót Chúa" gồm các linh mục, tu sĩ và giáo dân.

(Trích nguồn: banthothienchua.com)
___________________________________

III/. BÀI CHIA SẺ (Ga 20, 19-31)

“VÀO BUỔI CHIỀU NGÀY THỨ NHẤT TRONG TUẦN, NHỮNG CỬA NHÀ CÁC MÔN ĐỆ HỌP ĐỀU ĐÓNG KÍN, VÌ SỢ NGƯỜI DO-THÁI, CHÚA GIÊSU HIỆN ĐẾN, ĐỨNG GIỮA CÁC ÔNG VÀ NÓI RẰNG: "BÌNH AN CHO CÁC CON".

“VÀO BUỔI CHIỀU NGÀY THỨ NHẤT TRONG TUẦN”.

Gioan lại đề cập đến Ngày thứ nhất trong tuần. Như vậy theo Gioan Ngày thứ nhất trong tuần đã xảy ra các sự kiện sau đây:

+ Bà Maria Madalena ra thăm mộ thấy cửa mộ đã được mở toang.
+ Sau đó bà Maria chạy về báo tin cho Phêrô và Gioan. Hai ông này và cả bà Maria đã ra mộ Chúa nhưng chỉ gặp ngôi mộ trống, không có xác Chúa, nhưng các khăn liệm và quấn xác đã được xếp lại ngay ngắn.
+ Sau khi hai ông trở về, bà Maria ở lại và được gặp Chúa hiện ra dưới bộ dạng người làm vườn.

Nhưng ở đây Gioan đề cập đến “BUỔI CHIỀU”. Nếu dựa theo thánh sử Luca thì lúc này Chúa Giêsu phục sinh đang ở cùng hai môn đệ trên đường Emmaus để giải thích Kinh thánh cho họ.

Ta có thể khẳng định đây là một đặc tính của thân xác Chúa phục sinh: Ngài có thể hiện diện hai nơi cùng một lúc, vừa ở Emmaus, vừa ở Giêrusalem, tức đã vượt ra ngoài sự ràng buộc không gian và thời gian.

“CỬA NHÀ CÁC MÔN ĐỆ HỌP ĐỀU ĐÓNG KÍN”.

Gioan mô tả tâm trạng của các môn đệ lúc ấy, các ông rất hoang mang lo sợ người Do Thái nên các cửa đều đóng kín.

Đó cũng là tâm trạng sợ hãi của người Việt trong ngày Giải phóng 30 – 4 – 1975.

Họ sợ hãi điều gì?

Thưa sợ hãi vì bị trả thù. Các môn đệ sợ người Do Thái sẽ tìm giết các ông vì chính trị phải như vậy. Đã nhổ cỏ thì phải nhổ tận gốc. Họ đã giết Chúa Giêsu thì các môn đệ của Ngài cũng không thoát khỏi số phận đó.

“BÌNH AN CHO CÁC CON”.

Trong cơn sợ hãi hoang mang như vậy, Chúa Giêsu lại hiện đến và đứng giữa các môn đệ. Cho dù là cửa đóng then cài, nhưng điều đó không ngăn cản được Chúa đến với các ông.

Lời nói đầu tiên của Chúa Giêsu bao giờ cũng là lời ban bình an. Đó là món quà quý nhất cho các môn đệ lúc này. Vì chỉ có bình an, các ông mới có thể đón nhận Tin mừng Phục sinh.

“KHI NÓI ĐIỀU ĐÓ, NGƯỜI CHO CÁC ÔNG XEM TAY VÀ CẠNH SƯỜN NGƯỜI. BẤY GIỜ CÁC MÔN ĐỆ VUI MỪNG VÌ XEM THẤY CHÚA. CHÚA GIÊSU LẠI PHÁN BẢO CÁC ÔNG RẰNG: "BÌNH AN CHO CÁC CON. NHƯ CHA ĐÃ SAI THẦY, THẦY CŨNG SAI CÁC CON”.

Sau khi ban bình an, Chúa Giêsu muốn chứng minh cho các môn đệ biết Ngài đã sống lại, bằng chứng: “NGƯỜI CHO CÁC ÔNG XEM TAY VÀ CẠNH SƯỜN NGƯỜI”.

Xem tay chân và cạnh sườn để xem cái gì?

Thưa: đó là những lằn roi và các dấu danh. Gioan muốn chứng minh cho người Do Thái biết: Không có chuyện các môn đệ đã lấy trộm xác Chúa như luận điệu họ đã rêu rao.

Cái thân xác bị đánh bầm dập treo trên thập giá, cái thân xác được an táng trong mộ và cái thân xác đang hiện diện tại đây chỉ là một, chứ không phải là cái xác khác.

Nhưng có một đặc điểm, Gioan còn thêm một chi tiết quan trọng: “CẠNH SƯỜN NGƯỜI”. Có nghĩa, đó là vết tích tên lính đã lấy lưỡi đòng đâm vào cạnh sườn Chúa Giêsu khiến cho máu và nước chảy ra.

Chi tiết này làm nổi bật ý nghĩa LỄ KÍNH LÒNG THƯƠNG XÓT CHÚA” hôm nay. Chúa Giêsu đã yêu nhân loại đến giọt máu và giọt nước cuối cùng. Dòng máu đó là nguồn mạch lòng thương xót của Thiên Chúa đã tuôn chảy cho nhân loại.

Trong khi đó Luca chỉ cho xem tay chân thôi (Lc 24, 39)

“CHÚA GIÊSU LẠI PHÁN BẢO CÁC ÔNG RẰNG: "BÌNH AN CHO CÁC CON.”

Sau khi đã khẳng định Ngài đã phục sinh, Chúa Giêsu lại ban bình an cho các môn đệ lần thứ hai.

Lần ban bình an thứ nhất để các ông đừng xao xuyến đón mừng Tin vui Phục sinh.

Lần ban bình an thứ hai để các ông không được vui mừng quá mức mà phải để lòng mình lắng lại đón nhận sứ mệnh Ngài sắp giao phó.

Quả đúng như vậy, con người thường bị bấn loạn vì đau buồn quá mức và vui mừng cũng quá mức. Nỗi buồn có sức huỷ diệt con người thế nào thì niềm vui quá mức cũng huỷ diệt con người như vậy. Nói chung, con người dễ bị chết không những cả trong nỗi buồn và cũng chết trong cả niềm vui, nếu họ không biết kiềm chế và làm chủ.

Như vậy lần ban bình bình an thứ hai này cũng không kém tầm quan trọng của lần ban bình an thứ nhất.

“NHƯ CHA ĐÃ SAI THẦY, THẦY CŨNG SAI CÁC CON”.

Bây giờ Chúa Giêsu cũng sai các môn đệ đi loan báo Tin mừng cũng như Chúa Cha đã sai Ngài vậy. Các ông phải là người nối tiếp sứ vụ của Chúa.

Như vậy ta thấy rõ ràng có một sự liên tục: Chúa Cha đã sai Chúa Giêsu, đến lượt Chúa Giêsu cũng sai các môn đệ và cả chúng ta.

Như vậy, sứ mệnh Truyền giáo là một đặc tính của Giáo hội, Giáo hội là Giáo hội truyền giáo. Không ai được lấy bất cứ lý do nào, vì tôi không phải là các tông đồ, mà thoái thác sứ mệnh đó.

Sau khi đã đón nhận Tin mừng Phục Sinh, các môn đệ phải có bổn phận loan báo Tin mừng đó.

“NÓI THẾ RỒI, NGƯỜI THỔI HƠI VÀ PHÁN BẢO CÁC ÔNG: "CÁC CON HÃY NHẬN LẤY THÁNH THẦN, CÁC CON THA TỘI AI, THÌ TỘI NGƯỜI ẤY ĐƯỢC THA. CÁC CON CẦM TỘI AI, THÌ TỘI NGƯỜI ẤY BỊ CẦM LẠI"

Nhưng trước khi được sai đi, các môn đệ cần được lãnh Thánh Thần, là Đấng ban sức mạnh và Thánh hoá. Chúa Giêsu ban Thánh thần cho các môn đệ qua hành động: “THỔI HƠI”. Chúa Thánh Thần là Thần Khí Thiên Chúa. Như vậy khi Chúa Giêsu “thổi hơi”, tức Ngài ban Thần khí Chúa.

Qua đoạn này ta thấy những điểm cần chú ý như sau:

1/. Ngay trong Ngày thứ nhất trong tuần, ta có đến 3 Mầu nhiệm cùng lúc: Chúa Phục Sinh – Chúa lên trời – Chúa Thánh Thần ngự xuống. Ba biến cố này là Một duy nhất vì Chúa Giêsu đã được tôn vinh.

Trong khi Giáo hội lại cử hành riêng biệt 3 Mầu nhiệm này. Ta có Lễ Chúa lên trời, Lễ Chúa Thánh Thần hiện xuống như để hữu hình 3 Mầu nhiệm này. Nhưng điều này không hề làm giảm đi ý nghĩa Tin mừng Chúa Giêsu phục sinh.

2/. Chúa Giêsu Phục sinh, và lên trời để bắt đầu thời điểm khai sinh Giáo hội với Chúa Thánh Thần, đó là thời điểm bùng nổ dữ dội dưới sức mạnh Thánh Thần.

3/. Chúa Giêsu cũng ban cho các môn đệ QUYỀN CẦM BUỘC – THÁO CỞI cho các môn đệ. Quyền đó chỉ được thực thi với Chúa Thánh Thần.

Như vậy, Gioan đã chứng minh cho thấy tầm quan trọng của Chúa Thánh Thần. Không có Ngài, cũng không thể có Giáo hội.

“BẤY GIỜ TRONG MƯỜI HAI TÔNG ĐỒ, CÓ ÔNG TÔMA GỌI LÀ ĐIĐYMÔ, KHÔNG CÙNG Ở VỚI CÁC ÔNG KHI CHÚA GIÊSU HIỆN ĐẾN

“ÔNG TÔMA GỌI LÀ ĐIĐYMÔ (sinh đôi)”.

Tại sao Gioan lại viết câu này?

Thưa, vì vào thế kỷ thứ ba và thứ tư, người ta thấy xuất hiện một ngụy thư mang tên Tông Đồ Công Vụ của Tôma (Acts of Thomas) và gọi Tôma là Giuđa Tôma và cho rằng Tôma là anh em sinh đôi với Chúa Giêsu.

Có người còn cho rằng: Tôma là anh em sinh đôi với Matthêu.

Tất cả đều sai lầm.

Vì Tôma trong tiếng Aram có nghĩa là “sinh đôi” (Twin).

Phúc Âm Thánh Gioan, dịch từ “Sinh đôi” sang tiếng Hy Lạp là Didymus để nói với các Cộng Đoàn người biết tiếng Hy Lạp, Tôma có nghĩa là “Sinh đôi”. Như vậy ngay bản thân từ “Tôma” có nghĩa là “Sinh đôi” rồi, chứ không phải dựa vào từ Đyđimô mà nói này nói nọ. Gioan chỉ dịch từ “Tôma” thành Dyđimô mà thôi.

“KHÔNG CÙNG Ở VỚI CÁC ÔNG KHI CHÚA GIÊSU HIỆN ĐẾN”

Tôma là một trong những nhân vật chính của Phúc âm thứ tư. Người ta không hiểu tại sao ông lại vắng mặt trong lần hiện ra này, ông đi đâu, Gioan không nói. Chắc chắn ông không cố tình vì không ai biết Đức Giêsu sẽ đến lúc nào, nhưng sự vắng mặt của ông lại là một điều hay, vì nó đem lại cho Giáo hội một bài học quý báu.

“CÁC MÔN ĐỆ KHÁC ĐÃ NÓI VỚI ÔNG RẰNG: "CHÚNG TÔI ĐÃ XEM THẤY CHÚA". NHƯNG ÔNG ĐÃ NÓI VỚI CÁC ÔNG KIA RẰNG:

"NẾU TÔI KHÔNG NHÌN THấY VẾT ĐINH Ở TAY NGƯỜI, NẾU TÔI KHÔNG THỌC NGÓN TAY VÀO LỔ ĐINH, NẾU TÔI KHÔNG THỌC BÀN TAY VÀO CẠNH SƯỜN NGƯỜI, THÌ TÔI KHÔNG TIN".

“CÁC MÔN ĐỆ KHÁC ĐÃ NÓI VỚI ÔNG RẰNG: "CHÚNG TÔI ĐÃ XEM THẤY CHÚA".

Điều đó hoàn toàn đúng vì các ông đã thấy Chúa, nhưng nó không có giá trị gì đối với Tôma vì trải nghiệm về Đấng Phục sinh không có tính lan truyền, có nghĩa sự trải nghiệm của người này không phải là của người kia.

Cho dù đây là lời chứng của số đông (10 người), đã vượt quá con số 2 mà lề luật đòi hỏi. Lề luật quy định lời chứng của hai người là lời chứng đáng tin.

“NẾU ……. NẾU……NẾU….”

Cho dù có số đông người làm chứng như vậy, Gioan nói: Tôma vẫn không tin.

Trái lại ông đã đặt ra quá nhiều điều kiện: “Nếu…. nếu …. Nếu…” Chỉ khi nào làm thoả mãn tất cả các chữ “nếu” này thì ông mới tin. Ở đây có đến 3 chữ “nếu”, điều kiện nhiều quá như để nói lên sự chắc chắn loại bỏ tất cả sự hoài nghi

Niềm tin của Tôma còn thấp hơn mức thấp nhất. Ở cấp độ thấp nhất, đó là “THẤY RỒI MỚI TIN”, còn ở Tôma: ĐỨC TIN PHẢI CÓ ĐIỀU KIỆN. Như vậy, niềm tin của Tôma còn ở dưới mức thấp nhất.

Đối với Tôma, ông không tin dễ dàng như vậy, vì từ xưa đến nay, ông chưa hề nghe nói có một ai tự mình sống lại từ cõi chết bao giờ. Cứ bình thường mà xét, phải nói rằng Tôma khôn ngoan và thận trọng hơn các tông đồ khác.

Không phải ông cứng lòng tin, nhưng ông không chấp nhận có bất kỳ sai sót nào trong niềm tin của mình. Một con người không dễ tin, đó là một đức tính cao quý, vì phải gạt bỏ tất cả những sự hoài nghi, nó dễ dẫn đến sai lầm và mê tín. Một con người không dễ tin, nhưng một khi đã tin, niềm tin đó sẽ trở nên chắc chắn không gì có thể lay chuyển.

Độc giả có thể chê trách thái độ của Tôma ư?

Hãy khoan, vì đây chính là điểm son của ông.

Ngày nay, con người đã bước vào kỷ nguyên của khoa học kỹ thuật, nên con người chịu ảnh hưởng của tinh thần khoa học thực nghiệm rất nhiều.

Tinh thần khoa học thực nghiệm chính là tinh thần của Descartes (1596-1650): "Chỉ tin sau khi đã chứng minh". Tinh thần ấy chính là tinh thần của Tôma, chính vì thế, các nhà khoa học Công giáo đã nhận thánh Tôma làm bổn mạng của các nhà khoa học.

“TÁM NGÀY SAU, CÁC MÔN ĐỆ LẠI HỌP NHAU TRONG NHÀ VÀ CÓ TÔMA Ở VỚI CÁC ÔNG. TRONG KHI CÁC CỬA VẪN ĐÓNG KÍN, CHÚA GIÊSU HIỆN ĐẾN ĐỨNG GIỮA MÀ PHÁN: "BÌNH AN CHO CÁC CON".

“TÁM NGÀY SAU”

Nó cũng rơi vào Ngày thứ nhất trong tuần, nhưng là tuần lễ kế tiếp, tức cũng ngày Chúa nhật. Các môn đệ lại họp nhau. Như vậy, ngay từ buổi ban đầu, các môn đệ đã có thói quen quý trọng ngày Chúa nhật, đó là ngày thờ phượng Chúa và kịch bản đã xảy ra đúng như tuần trước, Chúa Giêsu phục sinh lại hiện ra với các môn đệ và ban bình an cho các ông. Nhưng lần này đặc biệt có sự hiện diện của Tôma.

“ĐOẠN NGƯỜI NÓI VỚI TÔMA: "HÃY XỎ NGÓN TAY CON VÀO ĐÂY, VÀ HÃY XEM TAY THẦY; HÃY ĐƯA BÀN TAY CON RA VÀ XỎ VÀO CẠNH SƯỜN THẦY; CHỚ CỨNG LÒNG, NHƯNG HÃY TIN".

“HÃY….HÃY….HÃY…”

Đây là phần Chúa Giêsu dành riêng cho Tôma. Nếu lần trước ông dám ra điều kiện “nếu…. nếu…. nếu….” chỉ khi nào thoả mãn cả 3 chữ “nếu” thì ông mới tin.

Chúa Giêsu sẵn sàng chiều theo ý ông, Ngài sẽ đáp ứng đủ 3 chữ “nếu” đó. Ngài mời ông xỏ tay vào lỗ đinh nơi Ngài và xỏ tay vào cạng sườn Ngài. Đến nước này thì không còn gì mà Tôma phải nghi ngờ nữa.

Có nghĩa Chúa Giêsu muốn đáp ứng đòi hỏi của ông, vì ông đòi: Phải thấy dấu đinh ở tay; Đòi xỏ ngón tay vào lỗ đinh và đặt bàn tay vào cạnh sườn Đức Giêsu. Có nghĩa ông muốn dùng thị giác – mắt, và xúc giác – tay để kiểm tra. Bây giờ các đòi hỏi của ông đã được Đức Giêsu đáp ứng.

Ngài cho phép Tôma có toàn quyền kiểm tra như ông muốn.

Gioan viết: “Chớ cứng lòng nhưng hãy tin”.

“TÔMA THƯA RẰNG: "LẠY CHÚA CON, LẠY THIÊN CHÚA CỦA CON!" CHÚA GIÊSU NÓI VỚI ÔNG: "TÔMA, VÌ CON ĐÃ XEM THẤY THầY, NÊN CON ĐÃ TIN. PHÚC CHO NHỮNG AI ĐÃ KHÔNG THẤY MÀ TIN!"

Nhưng độc giả thấy Tôma thế nào? Ông có kiểm tra như ông đòi hỏi không?

Thưa KHÔNG. Vì đứng trước Đức Giêsu phục sinh, mọi nghi ngờ của ông đã biến mất, sự hoài nghi đã bị chặn đứng, chỉ cần thấy, tức chỉ cần thị giác đã đủ đưa ông đến thái độ tin tưởng hoàn toàn. (Không cần dùng đến xúc giác – tay)

Ngày nay có nhiều tấm hình mô tả Tôma đã thọc ngón tay vào cạnh sườn Đức Giêsu hoàn toàn sai với Tin mừng Gioan. Không biết tác giả của những bức hình này có ý gì khác chăng?

"LẠY CHÚA CON, LẠY THIÊN CHÚA CỦA CON!"

Tôma đã biều lộ niềm tin của mình trong câu tuyên xưng: "Lạy Chúa của con, lạy Thiên Chúa của con!"

Đây là lời tuyên xưng đức tin vào Đức Giêsu Phục Sinh một cách đầy đủ và trực tiếp nhất, vì ông tuyên xưng đức tin vào Đấng Đã Sống Lại và vào thiên tính của Ngài.

“VÌ CON ĐÃ XEM THẤY THẦY, NÊN CON ĐÃ TIN. PHÚC CHO NHỮNG AI ĐÃ KHÔNG THẤY MÀ TIN!"

Đức Giêsu không hề trách Tôma, nhưng Ngài nói với ông: "Vì đã thấy Thầy, nên anh tin. Phúc thay những người không thấy mà tin!" Có nghĩa ông thuộc loại người THẤY RỒI MỚI TIN, ông vẫn có phúc, nhưng không có phúc bằng người: TIN RỒI SẼ THẤY.

“Phúc cho người không thấy mà tin”, Đức Giêsu đang nói về chúng ta, là những người không thấy Ngài bằng con mắt xác thịt như thời các tông đồ, nhưng ta đã tin Ngài, vì đức tin không phải là nỗ lực cá nhân, không là ý chí con người, đức tin trước hết và trên hết là hồng ân Thiên Chúa ban.

Vâng Thiên Chúa đã ban cho ta niềm tin vào Ngài, và từ niềm tin ấy ta đã nhìn thấy Ngài trong từng biến cố đời mình.

Người ta cứ đòi phải thấy Thiên Chúa thì mới tin có Ngài, đó là thái độ của người cố chấp, họ muốn ở lì trong tình trạng thấp hèn và dùng những luận điệu rẻ tiền để biện minh.

Nếu họ vẫn cố chấp như vậy cho đến hết cuộc đời, họ sẽ không bao giờ thấy Thiên Chúa, vì Thiên Chúa không bao giờ là đối tượng của khoa học thực nghiệm, Ngài không phải cái gì đó con người có thể sờ mó được, nắm bắt được.

Bài học Đức Giêsu dạy hôm nay: “Phúc thay những người không thấy mà tin”, Ngài muốn dạy ta: CỨ TIN ĐI RỒI SẼ THẤY. Mà ta đã nói, đức tin là một hồng ân Chúa ban, đó không phải là nỗ lực con người.

Như vậy, nếu muốn thấy Thiên Chúa trong cuộc đời mình, ta phải loại bỏ sự cố chấp, loại bỏ thành kiến và nài xin Chúa ban thêm đức tin cho mình. Và khi đã có đức tin, ta sẽ thấy Ngài, vì CỨ TIN ĐI RỒI SẼ THẤY.

“CHÚA GIÊSU CÒN LÀM NHIỀU PHÉP LẠ KHÁC TRƯỚC MẶT CÁC MÔN ĐỆ, VÀ KHÔNG CÓ GHI CHÉP TRONG SÁCH NÀY. NHƯNG CÁC ĐIỀU NÀY ĐÃ ĐƯỢC GHI CHÉP ĐỂ ANH EM TIN RẰNG CHÚA GIÊSU LÀ ĐẤNG KITÔ, CON THIÊN CHÚA, VÀ ĐỂ ANH EM TIN MÀ ĐƯỢC SỐNG NHỜ DANH NGƯỜI.”

Đây là những dòng sau cùng của Sách Tin mừng thứ tư của Gioan, kết thúc Chương 20 (sau này ông viết thêm Chương 21, là phần Phụ chương). Ông viết: “Đức Giê-su đã làm nhiều dấu lạ khác nữa trước mặt các môn đệ; nhưng những dấu lạ đó không được ghi chép trong sách này”, có nghĩa còn rất nhiều dấu lạ khác nữa mà ông không ghi vào Sách Tin mừng của ông.

Trong phần Phụ chương, Chương 21, dòng cuối cùng Gioan viết như sau: “Còn có nhiều điều khác Đức Giê-su đã làm. Nếu viết lại từng điều một, thì tôi thiết nghĩ: cả thế giới cũng không đủ chỗ chứa các sách viết ra.” (Ga 21, 25) Có nghĩa còn nhiều, còn nhiều điều mà ông đã bỏ qua không viết.

Nhưng Gioan nói: “Còn những điều đã được chép ở đây là để anh em tin rằng Đức Giê-su là Đấng Ki-tô, Con Thiên Chúa, và để anh em tin mà được sự sống nhờ danh Người.”

Vâng chỉ với những điều Gioan viết ra cũng đủ cho ta tin Đức Giêsu là Con Thiên Chúa, và niềm tin đó đã đưa ta đến sự sống đời đời.

Lạy Chúa Giêsu, Chúa nói với chúng con: “Phúc thay những ai không thấy mà tin”. Xin cho chúng con tin, dù không thấy Chúa, và vì tin, nên nhìn thấy Chúa đang hiện diện, đang thi ân giáng phúc cho chúng con.

Amen.
__________________________
Giuse Nguyễn Viết Tâm.

Trong hình ảnh có thể có: 4 người, mọi người đang cười, mọi người đang đứng, bầu trời và ngoài trời
Trong hình ảnh có thể có: 2 người, mọi người đang đứng
Trong hình ảnh có thể có: 1 người, đang đứng và văn bản
 

ƠN TOÀN XÁ CỦA NGÀY KÍNH LÒNG THƯƠNG XÓT CHÚA

Chúa Nhật Thứ ll Phục Sinh 08/04/2018

Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II đã quyết định các tín hữu có thể được hưởng ơn toàn xá trong ngày Chúa Nhật Lễ Kính Lòng Thương Xót Chúa vào Chúa Nhật thứ hai Lễ Phục Sinh. Quyết định trên đây được công bố trong sắc lệnh của Tòa Ân Giải Tối Cao đăng trên báo Quan Sát Viên Rôma của Tòa Thánh.

Sắc lệnh khẳng định rằng Ơn Toàn xá được ban với những điều kiện thường lệ là xưng tội, rước lễ và cầu nguyện theo ý Đức Thánh Cha cho những tín hữu nào trong ngày Chúa Nhật thứ hai sau lễ Phục Sinh tức là Chúa Nhật Kính Lòng Thương Xót Chúa tại bất kỳ nhà thờ nào, với lòng quyết tâm từ bỏ mọi quyến rũ tội lỗi, kể cả tội nhẹ; và tham dự vào các việc đạo đức tôn vinh lòng từ bi Chúa, hay ít là đọc Kinh Lạy Cha và Kinh Tin Kính cùng với sự kêu cầu Chúa Giêsu từ bi trước sự hiện diện của Mình Thánh Chúa được trưng bày công khai hoặc giữ trong nhà tạm.

Để xứng đáng mừng ngày lễ Kính Lòng Thương Xót Chúa, chúng ta cần:

1. Đón mừng lễ Kính Lòng Thương Xót Chúa vào Chủ Nhật đầu tiên sau Lễ Phục Sinh (Chúa Nhật II Phục Sinh).

2. Thành tâm thống hối ăn năn tất cả tội lỗi của chúng ta.

3. Đặt tin tưởng tuyệt đối vào Chúa Giêsu.

4. Đi xưng tội, tốt nhất là nên xưng tội trước ngày Chúa Nhật của ngày lễ này.

5. Rước Mình và Máu Thánh Chúa trong ngày lễ này.

6. Tôn kính thánh ảnh Lòng Thương Xót Chúa.

7. Đối xử đầy thương xót với mọi người qua hành động, lời nói, việc làm và cầu nguyện thay cho họ.

SỰ TÔN SÙNG ẢNH LÒNG THƯƠNG XÓT CHÚA

Ảnh Chúa Giêsu, Lòng Thương Xót Chúa phải có ở một nơi vinh dự nhất vào ngày mừng lễ Kính Lòng Thương Xót Chúa. Ảnh của Ngài cũng nhắc cho ta tưởng nhớ về cuộc Khổ Nạn, sự Chết và sự Phục-Sinh mà Ngài đã trải qua vì chúng ta, và cũng để nhắc nhở điều mà Chúa đòi hỏi chúng ta đáp trả cho Ngài – tuyệt đối tin tưởng nơi Ngài và khoan dung với mọi người:

“Ta muốn hình ảnh Ta phải được tôn kính trong ngày Chúa Nhật đầu tiên sau Lễ Phục Sinh, và ta muốn điều này phải được tôn vinh một cách công khai để các linh hồn biết về điều này.

Trong hình ảnh có thể có: 1 người
 
ThíchHiển thị thêm cảm xúc
Bình luận
 
 

31/03 – THỨ BẢY TUẦN THÁNH

 

CANH THỨC VƯỢT QUA PHẦN THỨ NHẤT KHAI MẠC TRỌNG THỂ ĐÊM CANH THỨC NGHI THỨC THẮP NẾN PHỤC SINH

 

Làm phép lửa và chuẩn bị nến + Tắt hết đèn trong nhà thờ. Chuẩn bị sẵn một bếp lửa nơi xứng hợp ngoài nhà thờ. Dân chúng tụ họp quanh lò lửa. Linh mục và các người giúp lễ tiến đến, một người cầm nến phục sinh. + Linh mục chào dân chúng như thường lệ và nói vắn tắt về ý nghĩa đêm canh thức, bằng những lời sau đây hoặc tương tự: Anh chị em thân mến, Trong đêm rất thánh này, đêm Đức Giêsu Ki-tô, Chúa chúng ta, đã hoàn tất mầu nhiệm Vượt Qua, tức là từ cõi chết sống lại, Hội Thánh kêu mời con cái ở khắp nơi trên hoàn cầu, cùng họp nhau lại mà canh thức cầu nguyện. Vậy chúng ta sẽ cùng nhau chăm chú nghe Lời Chúa, và sốt sắng cử hành những bí tích tưởng niệm mầu nhiệm Vượt Qua của Đức Ki-tô, với niềm hy vọng sẽ được cùng Người chiến thắng sự chết, và cùng Người luôn sống kết hợp với Chúa Cha. + Rồi làm phép lửa. Lời Nguyện Lạy Chúa, Chúa đã sai Con Một đến giãi ánh vinh quang rực rỡ của Chúa vào lòng tín hữu. Xin thánh + hoá ngọn lửa mới này, và trong suốt thời gian mừng lễ Vượt Qua, xin cho niềm khao khát Nước Trời cũng bừng lên thiêu đốt lòng chúng con, và thanh tẩy muôn vàn tội lỗi, để mai sau chúng con xứng đáng vào thiên quốc tham dự lễ ánh sáng muôn đời. Chúng con cầu xin… + Người giúp lễ hoặc một phụ tế cầm nến phục sinh đứng trước chủ tế. Chủ tế dùng mũi nhọn vẽ hình thánh giá trên nến, rồi viết chữ An-pha phía trên, và chữ Ô-mê-ga ở phía dưới hình thánh giá, đoạn viết 4 con số chỉ năm đó ở 4 góc thánh giá, vừa viết vừa đọc những lời sau đây: 1. Đức Ki-tô vẫn là một. (vẽ đường dọc) 2. Hôm qua cũng như hôm nay. (vẽ đường ngang) 3. Là An-pha và Ô-mê-ga. (viết chữ An-pha phía trên thánh giá) 4. Nghĩa là khởi nguyên và tận cùng. (viết chữ Ô-mê-ga phía dưới thánh giá) 5. Người làm chủ thời gian. (viết số đầu của năm nơi góc trái phía trên thánh giá: 2) 6. Và muôn thế hệ. (viết số thứ hai của năm nơi góc phải phía trên thánh giá: 0) 7. Vạn tuế Đức Ki-tô, Đấng vinh hiển quyền năng. (viết số thứ ba của năm nơi góc trái phía dưới thánh giá: 1) 8. Vạn vạn tuế. A-men. (viết số thứ tư của năm nơi góc phải phía dưới thánh giá: 8) + Vẽ thánh giá và ghi số năm xong, chủ tế có thể cắm 5 hạt hương theo hình thánh giá trên nến phục sinh, vừa gắn vừa đọc như sau: * Vì năm vết thương * chí thánh và vinh hiển, * xin Chúa Ki-tô * gìn giữ * và bảo vệ chúng ta. A-men. + Linh mục lấy lửa mới thắp nến phục sinh và nói: Xin Đức Ki-tô, Đấng phục sinh vinh hiển, chiếu giãi ánh sáng của Người để phá tan bóng tối đang bao phủ lòng trí chúng ta. KIỆU NẾN PHỤC SINH + Phó tế hoặc chính linh mục cầm nến phục sinh nâng cao và hát một mình: - Ánh sáng Chúa Ki-tô. Và mọi người thưa: - Tạ ơn Chúa. + Người cầm nến đi đầu, mọi người theo sau tiến vào nhà thờ. + Đến giữa nhà thờ, người cầm nến phục sinh đứng lại, giơ cao cây nến và hát một lần thứ hai: - Ánh sáng Chúa Ki-tô. Mọi người thưa: - Tạ ơn Chúa. + Sau đó mọi người lấy lửa từ nến phục sinh thắp nến của mình và tiếp tục đi. Khi đến trước bàn thờ, người cầm nến đứng lại, quay về phía giáo dân và hát lần thứ ba: - Ánh sáng Chúa Ki-tô. + Mọi người thưa: - Tạ ơn chúa. + Đến đây thắp hết các đèn trong nhà thờ. CÔNG BỐ TIN MỪNG PHỤC SINH + Khi đến bàn thờ, đặt nến phục sinh trên giá đèn đã dọn sẵn giữa cung thánh hoặc gần giảng đài; linh mục về ghế, bỏ hương như khi đọc Tin Mừng trong thánh lễ, nếu là phó tế, thì xin linh mục chủ tế ban phép lành, và linh mục nói: Xin Chúa ngự nơi tâm hồn và môi miệng thầy, để thầy xứng đáng và đủ tư cách công bố Tin Mừng của Chúa. Nhân danh Cha và Con + và Thánh Thần. + Nếu người công bố Tin Mừng phục sinh không phải là phó tế thì không xin phép lành. + Phó tế hoặc chính linh mục tuỳ nghi xông hương sách và nến phục sinh, rồi công bố Tin Mừng phục sinh tại giảng đài hay giá sách. Mọi người đứng, tay cầm nến sáng. + Do nhu cầu, bài công bố Tin Mừng phục sinh cũng có thể do một ca viên không phải là phó tế công bố nhưng bỏ câu: “Vậy giờ đây...” cho đến hết lời kêu gọi, kể cả lời chào: “Chúa ở cùng anh chị em”. + Công Bố Tin Mừng Phục Sinh Mừng vui lên, hỡi chư thần chư thánh, cấp thừa hành của Chúa cõi thiên cung. Trổi vang lên, kèn loan ơn cứu độ, kính chào Đức Vua chiến thắng oai hùng. Mừng vui lên, hỡi khắp miền dương thế, bốn bề đang rực rỡ ánh hào quang: Vua vĩnh cửu nay rạng ngời chiếu sáng, đẩy lùi xa bóng tối của trần gian. Mừng vui lên, hỡi Hội Thánh mẹ hiền, lộng lẫy trong ánh huy hoàng của Chúa. Thánh đường này hãy rộn rã vang lên, tiếng ca hát của toàn dân hoan hỷ. (X. Chúa ở cùng anh chị em Đ. Và ở cùng cha (thầy) X. Hãy nâng tâm hồn lên Đ. Chúng con đang hướng về Chúa X. Hãy tạ ơn Chúa là Thiên Chúa chúng ta. Đ. Thật là chính đáng.) Thật là chính đáng và phải đạo khi chúng ta đem hết tâm hồn và muôn lời hoan hỷ để ca tụng Thiên Chúa vô hình là Cha toàn năng, và ca tụng Đức Giêsu Ki-tô là Con Một Thiên Chúa, và là Chúa chúng ta Người đã thay chúng ta dâng lên Cha hằng hữu giá chuộc tội A-đam. Người đã đổ máu đào xoá bản án nguyên tội xưa truyền lại. Vì đây chính là lễ Vượt Qua, lễ hiến tế Con Chiên đích thực là Con Chiên đã lấy máu đào thánh hiến cửa nhà người tín hữu. Chính đêm nay, lạy Cha nhân từ, Cha đã giải thoát cha ông chúng con là dân Ít-ra-en ra khỏi Ai-cập, và đưa họ đi qua Biển Đỏ ráo chân. Chính đêm này cột lửa sáng rực cả bầu trời đẩy lùi xa bóng tối tăm tội lỗi. Chính đêm nay, tín hữu Đức Ki-tô, trên khắp mặt địa cầu, được tách khỏi thói đời sa đoạ và thoát vòng tội lỗi bủa vây, được trả về tình trạng ân nghĩa và hiệp thông với nguồn thánh thiện. Chính đêm nay Đức Ki-tô toàn thắng hiển vinh, diệt tử thần, từ âm phủ trỗi dậy. Ôi! Ân tình Cha thật kỳ diệu, Ôi! Ân phúc Cha thật khôn lường. Để cứu dân lầm than nô lệ, Cha đã thí Con Một quý yêu. Ôi! Tội A-đam quả là cần thiết, tội được xoá bỏ nhờ cái chết của Đức Ki-tô. Ôi! Tội đã hoá thành hồng phúc, nhờ tội, chúng con mới có được Đấng Cứu Tinh cao cả dường này! Đêm cực thánh khử trừ muôn tội vạ, đêm vạn năng thanh tẩy hết lỗi lầm, biến tội nhân thành con người công chính, đem vui mừng cho hồn nặng sầu thương. Ôi! Đêm thật diễm phúc, trời cùng đất kết giao, Chúa với người gặp gỡ. Lạy Cha chí thánh, đêm nay, đêm tràn đầy ân sủng, cúi xin Cha vui nhận lễ tán tạ chiều hôm mà Hội Thánh chân thành cung tiến qua tay thừa tác viên trong nghi lễ long trọng hiến dâng cây nến sáp ong này. Vậy xin Cha cho cây nến này chúng con đã thắp lên để tôn vinh Danh Thánh, được cháy mãi không ngừng hầu xua đuổi bóng tối đêm nay. Xin Cha chấp nhận ánh lửa này như hương trầm nghi ngút và cho nhập hội hoa đăng với tinh tú bầu trời. Ước chi ngọn lửa còn cháy mãi lúc xuất hiện Sao Mai: một vì sao không bao giờ lặn, là Đức Ki-tô, Con yêu quý của Cha, Đấng từ cõi chết sống lại, đem ánh sáng thanh bình soi chiếu vạn dân. Người hằng sống và hiển trị muôn đời. Đ. Amen. PHẦN THỨ HAI PHỤNG VỤ LỜI CHÚA + Việc đọc Lời Chúa là phần căn bản của đêm Canh Thức Vượt Qua. Phải đọc ít nhất ba bài đọc Cựu Ước và trong trường hợp gấp rút thì đọc ít nhất là hai bài. Nhưng không bao giờ được bỏ bài trích sách Xuất hành chương 14. + Mọi người tắt nến, ngồi nghe. Trước khi bắt đầu các bài đọc, linh mục nên nhắn nhủ giáo dân bằng những lời sau đây, hoặc những lời tương tự: Anh chị em thân mến, Chúng ta đã long trọng khai mạc đêm Canh Thức Vượt Qua, giờ đây chúng ta hãy lắng nghe Lời Chúa. Chúng ta hãy ngẫm xem trong thời Cựu Ước, Chúa đã cứu chuộc dân Người làm sao, và trong thời đại cuối cùng này, Người lại sai Con Một đến cứu chuộc chúng ta thế nào. Chúng ta hãy xin Chúa hoàn tất công trình cứu độ mà Người đã khởi sự trong mầu nhiệm Vượt Qua. + Sau đó là các bài đọc, người đọc sách đến giảng đài đọc bài đọc. Canh Thức Vượt Qua (Ðề nghị đọc chín bài đọc, bảy bài trích ở Cựu Ước và hai bài trích ở Tân Ước. Nếu hoàn cảnh không cho phép, và khi có lý do đặc biệt, có thể bớt số bài đọc. Nhưng phải đọc ít là ba bài trích ở Cựu Ước trước Thánh Thư và Tin Mừng; còn nếu gấp quá, thì đọc ít là hai bài đọc trước Thánh Thư và Tin Mừng. Nhưng không khi nào được bỏ bài trích sách Xuất Hành (Xh 14, 15 - 15, 1) nói về việc qua Biển Ðỏ.) BÀI ĐỌC I: St 1,1 - 2,2 "Thiên Chúa thấy mọi sự Người đã làm thật là tốt đẹp". Bài trích sách Sáng Thế. Từ nguyên thuỷ Thiên Chúa đã tạo thành trời đất. Ðất còn hoang vu trống rỗng, tối tăm bao trùm vực thẳm, và thần trí Thiên Chúa bay sà trên mặt nước. Thiên Chúa phán: "Hãy có ánh sáng". Và có ánh sáng. Thiên Chúa thấy ánh sáng tốt đẹp, Người phân rẽ ánh sáng khỏi tối tăm. Thiên Chúa gọi ánh sáng là ngày, tối tăm là đêm. Qua một buổi chiều và một buổi sáng: đó là ngày thứ nhất. Thiên Chúa phán: "Hãy có một vòm trời ở giữa nước, phân rẽ nước với nước"; và Thiên Chúa làm nên vòm trời, và phân rẽ nước phía dưới vòm trời với nước phía trên vòm trời. Và xảy ra như vậy. Thiên Chúa gọi vòm đó là trời. Qua một buổi chiều và một buổi sáng: đó là ngày thứ hai. Thiên Chúa phán: "Nước dưới trời hãy tụ lại một nơi, để lộ ra chỗ khô cạn. Và đã xảy ra như vậy. Thiên Chúa gọi chỗ khô cạn là đất, và Người gọi khối nước là biển. Thiên Chúa thấy tốt đẹp. Và Thiên Chúa phán: "Ðất hãy trổ sinh thảo mộc xanh tươi mang hạt giống; và cây ăn trái phát sinh trái theo giống nó, và trong trái có hạt giống, trên mặt đất. Và đã xảy ra như vậy. Tức thì đất sản xuất thảo mộc xanh tươi mang hạt theo giống nó, và cây phát sinh trái trong có hạt tuỳ theo loại nó. Và Thiên Chúa thấy nó tốt đẹp. Qua một buổi chiều và một buổi sáng: đó là ngày thứ ba. Thiên Chúa còn phán: "Hãy có những vật sáng trên vòm trời và hãy phân chia ngày và đêm, và trở thành dấu chỉ thời gian, ngày và năm tháng, để soi sáng trên vòm trời và giãi sáng mặt đất". Và đã xảy ra như vậy. Thiên Chúa đã làm nên hai vầng sáng lớn: Vầng sáng lớn hơn làm chủ ban ngày, và vầng sáng nhỏ hơn làm chủ ban đêm; Và Ngài cũng làm nên các tinh tú. Thiên Chúa đặt chúng trên vòm trời để soi sáng trên mặt đất, và làm chủ ngày đêm, và phân chia ánh sáng với tối tăm. Thiên Chúa thấy nó tốt đẹp. Qua một buổi chiều và một buổi sáng: đó là ngày thứ tư. Thiên Chúa lại phán: "Nước hãy sản xuất những sinh vật bò sát, và loài chim bay trên mặt đất, dưới vòm trời. Vậy Thiên Chúa tạo thành những cá lớn, mọi sinh vật sống động mà nước sản xuất theo loại chúng, và mọi chim bay tuỳ theo giống. Thiên Chúa thấy chúng tốt đẹp. Thiên Chúa chúc phúc cho chúng rằng: "Hãy sinh sôi nẩy nở cho nhiều, đầy nước biển; loài chim hãy sinh cho nhiều trên mặt đất". Qua một buổi chiều và một buổi sáng: đó là ngày thứ năm. Thiên Chúa lại phán: "Ðất hãy sản xuất các sinh vật tuỳ theo giống: gia súc, loài bò sát và dã thú dưới đất tuỳ theo loại". Và đã xảy ra như vậy. Thiên Chúa đã dựng nên dã thú dưới đất tuỳ theo loại, gia súc, và mọi loài bò sát dưới đất tuỳ theo giống. Thiên Chúa thấy chúng tốt đẹp. Và Thiên Chúa phán: "Chúng ta hãy dựng nên con người theo hình ảnh giống như Ta, để chúng làm chủ cá biển, chim trời, dã thú khắp mặt đất và tất cả loài bò sát di chuyển trên mặt đất". Vậy Thiên Chúa đã tạo thành con người giống hình ảnh Chúa, Chúa tạo thành con người giống hình ảnh Thiên Chúa. Người tạo thành họ có nam có nữ. Thiên Chúa chúc phúc cho họ và phán rằng: "Hãy sinh sôi nẩy nở cho nhiều, đầy mặt đất, và thống trị nó; hãy bá chủ cá biển, chim trời và toàn thể sinh vật di chuyển trên mặt đất". Thiên Chúa phán: "Ðây Ta ban cho các ngươi làm thức ăn mọi thứ cây cỏ mang hạt giống trên mặt đất và toàn thể thảo mộc sinh trái có hạt tuỳ theo giống. Ta ban mọi thứ cây cỏ xanh tươi làm thức ăn cho mọi loài dã thú trên mặt đất, chim trời và toàn thể sinh vật di chuyển trên mặt đất". Và đã xảy ra như vậy. Thiên Chúa thấy mọi sự Người đã làm rất tốt đẹp. Qua một buổi chiều và một buổi sáng: đó là ngày thứ sáu. Thế là trời đất và mọi trang điểm của chúng đã hoàn thành. Ngày thứ bảy Thiên Chúa đã hoàn tất công việc Người đã làm. Và sau khi hoàn tất công việc Người đã làm, thì ngày thứ bảy Người nghỉ ngơi. Ðó là lời Chúa. ÐÁP CA: Tv 32, 4-5. 6-7. 12-13. 20 và 22 Ðáp: Ðịa cầu đầy ân sủng Chúa (c. 5b). 1) Vì lời Chúa là lời chân chính, bao việc Chúa làm đều đáng cậy tin. Chúa yêu chuộng điều công minh chính trực, địa cầu đầy ân sủng Chúa. 2) Do lời Chúa mà trời xanh được tạo thành, và mọi cơ binh chúng đều do hơi thở miệng Người. Chúa thu nước biển lại như để trong bầu, Người đặt những ngọn sóng trong kho chứa đựng. 3) Phúc thay quốc gia mà Chúa là chúa tể, dân tộc mà Chúa chọn làm cơ nghiệp riêng mình. Tự trời cao Chúa nhìn xuống, Người xem thấy hết thảy con cái loài người. 4) Linh hồn chúng tôi mong đợi Chúa, chính Người là Ðấng phù trợ và che chở chúng tôi. - Lạy Chúa, xin đổ lòng từ bi xuống trên chúng con, theo như chúng con tin cậy ở nơi Ngài. BÀI ĐỌC II: Xh 14,15 - 15,1 (bắt buộc) "Con cái Israel đi vào giữa lòng biển khô cạn". Bài trích sách Xuất Hành. Trong những ngày ấy, Chúa phán cùng Môsê rằng: "Có gì mà kêu đến Ta? Hãy bảo con cái Israel cứ lên đường. Còn ngươi, đưa gậy lên, và giơ tay trên biển, hãy phân rẽ biển ra, cho con cái Israel đi vào giữa lòng biển khô cạn. Còn Ta, Ta sẽ làm cho lòng người Ai-cập ra chai đá, chúng sẽ rượt theo sau các ngươi. Bấy giờ Ta sẽ tỏ vinh quang cho Pharaon, toàn thể quân lực, chiến xa và kỵ binh của vua ấy biết. Người Ai-cập sẽ biết Ta là Chúa khi Ta tỏ vinh quang cho Pharaon, chiến xa và kỵ binh của vua ấy biết". Sứ thần Thiên Chúa thường đi trước hàng ngũ Israel, liền bỏ trở lại sau họ. Cột mây thường đi phía trước, cũng theo sứ thần trở lại phía sau, đứng giữa hàng ngũ Ai-cập và hàng ngũ Israel. Và đám mây thường soi sáng ban đêm trở thành mù mịt, đến nỗi suốt đêm, hai bên không thể tới gần được. Môsê giơ tay trên biển, thì bằng một cơn gió đông thổi mạnh suốt đêm, Chúa dồn biển lui và làm cho biển khô cạn. Nước rẽ ra và con cái Israel đi vào giữa lòng biển khô cạn, nước dựng lên như bức thành hai bên tả hữu. Người Ai-cập đuổi theo, toàn thể binh mã của Pharaon, chiến xa và kỵ binh đi theo sau Israel vào giữa lòng biển. Lúc gần sáng, qua cột mây lửa, Chúa nhìn xuống hàng ngũ Ai-cập, gây rối loạn trong hàng ngũ chúng. Người lật đổ bánh xe, khiến xe tiến tới thật vất vả. Người Ai-cập nói: "Ta hãy chạy trốn Israel, vì Chúa chiến đấu giúp họ, chống chúng ta". Chúa phán bảo Môsê: "Hãy giơ tay trên biển để nước trở lại vùi dập người Ai-cập, chiến xa và kỵ binh của chúng". Môsê giơ tay trên biển, và lúc tảng sáng, biển trở lại như cũ. Người Ai-cập chạy trốn, gặp ngay nước biển ập lại. Chúa xô chúng ngã giữa lòng biển. Nước trở lại, vùi dập chiến xa và kỵ binh. Toàn thể quân lực của Pharaon đã theo dân Israel xuống biển, không còn tên nào sống sót. Còn con cái Israel đã đi giữa lòng biển khô cạn, nước dựng như bức thành hai bên tả hữu. Ngày đó Chúa cứu Israel khỏi tay Ai-cập. Và họ thấy xác người Ai-cập trôi dạt đầy bờ, và thấy cánh tay oai hùng của Thiên Chúa đè bẹp Ai-cập. Toàn dân kính sợ Chúa, tin vào Chúa và vào Môsê tôi tớ người. Bấy giờ Môsê cùng với con cái Israel hát mừng Chúa bài ca này: (Không đọc: Ðó là lời Chúa). ÐÁP CA: Xh 15, 1-2. 3-4. 5-6. 17-18 Ðáp: Tôi sẽ ca tụng Chúa, vì Người uy linh cao cả (c. 1a). 1)Tôi sẽ ca tụng Chúa, vì Người uy linh cao cả. Người đã ném ngựa và người xuống biển khơi. Chúa là sức mạnh và là khúc ca của tôi, chính Người đã cho tôi được cứu thoát. Người là Thiên Chúa tôi, tôi sẽ tôn vinh Người; Người là Chúa tổ phụ tôi, tôi sẽ hát ca mừng Chúa. 2) Chúa như là người chiến sĩ, danh thánh Người thật toàn năng. Người đã ném xe cộ và đạo binh của Pharaon xuống biển, và dìm xuống Biển Ðỏ các tướng lãnh của ông. 3) Các vực thẳm đã chôn sống họ, họ rơi xuống đáy biển như tảng đá to. Lạy Chúa, tay hữu Chúa biểu dương sức mạnh; lạy Chúa, tay hữu Chúa đánh tan quân thù. 4) Chúa đem con cái Israel trồng trên núi gia nghiệp Chúa, nơi vững chắc Chúa làm nơi cư ngụ, ôi lạy Chúa, là cung thánh tay Chúa đã lập nên; Chúa sẽ thống trị muôn đời muôn kiếp. BÀI ĐỌC III: Is 55, 1-11 "Hãy đến cùng Ta và hồn các ngươi sẽ được sống. Ta sẽ ký kết với các ngươi một giao ước vĩnh cửu". Bài trích sách Tiên tri Isaia. Ðây Chúa phán: Hỡi tất cả những ai khát nước, hãy đến uống nước; hỡi kẻ không tiền bạc, hãy đến mua lúa mà ăn; hãy đến mà mua rượu và sữa, không cần trả tiền, không cần đổi chác gì. Tại sao các ngươi không dùng tiền mà mua bánh, sao không dùng tiền lương mà mua đồ nuôi thân? Vậy hãy lắng tai nghe, hãy đến ăn đồ bổ và các ngươi sẽ được thưởng thức món ăn mĩ vị. Hãy lắng tai và đến cùng Ta, hãy nghe, thì các ngươi sẽ được sống; Ta sẽ ký kết với các ngươi một giao ước vĩnh cửu, đó là những hồng ân đã hứa cho Ðavít: Ðây Ta đặt ngươi làm nhân chứng cho các dân, làm tướng lãnh tôn sư cho các dân tộc. Này ngươi sẽ kêu gọi dân mà trước ngươi không biết, và các dân trước chưa biết ngươi, sẽ chạy đến cùng ngươi, vì Chúa là Thiên Chúa ngươi, là Ðấng Thánh Israel, bởi vì Chúa làm cho ngươi được hiển vinh. Hãy tìm Chúa khi còn tìm được, hãy kêu cầu Người khi Người còn ở gần. Kẻ gian ác, hãy bỏ đường lối mình, và kẻ bất lương, hãy bỏ những tư tưởng mình, hãy trở về với Chúa, thì Người sẽ thương xót, hãy trở về với Thiên Chúa chúng ta, vì Chúa rộng lòng tha thứ. Vì tư tưởng Ta không phải tư tưởng các ngươi, và đường lối các ngươi không phải đường lối của Ta, Chúa phán như vậy. Như trời cao hơn đất thế nào, thì đường lối Ta vượt trên đường lối các ngươi, và tư tưởng Ta cũng vượt trên tư tưởng các ngươi thể ấy. Như mưa tuyết từ trời rơi xuống và không trở lên trời nữa, nhưng chúng thấm xuống đất, làm cho đất phì nhiêu, cây cối sinh mầm, cho người gieo có hạt giống, cho người ta có cơm bánh ăn; cũng thế, lời từ miệng Ta phán ra sẽ không trở lại với Ta mà không sinh kết quả, nhưng nó thực hiện ý muốn của Ta, và làm tròn sứ mạng Ta uỷ thác. Ðó là lời Chúa. ÐÁP CA: Is 12, 2-3. 4bcd. 5-6 Ðáp: Các ngươi sẽ hân hoan múc nước nơi suối Ðấng Cứu Ðộ (c. 3). 1) Ðây Thiên Chúa là Ðấng Cứu Chuộc tôi, tôi sẽ tin tưởng mà hành động và không khiếp sợ: vì Chúa là sức mạnh, là Ðấng tôi ngợi khen, Người sẽ trở nên cho tôi phần rỗi. 2) Hãy ca tụng Chúa và kêu cầu danh Người, hãy công bố cho các dân biết kỳ công của Chúa, hãy nhớ lại danh Chúa rất cao sang. 3) Hãy ca tụng, vì Người làm nên những việc kỳ diệu, hãy cao rao việc đó trên khắp hoàn cầu. Hỡi người cư ngụ tại Sion, hãy nhảy mừng ca hát, vì Ðấng cao cả là Ðấng Thánh Israel ở giữa ngươi. BÀI ĐỌC IV: Ed 36, 16-17a. 18-28 "Ta sẽ đổ trên các ngươi nước trong sạch và sẽ ban cho các ngươi quả tim mới". Bài trích sách Tiên tri Êdêkiel. Ðây lời Chúa phán cùng tôi rằng: "Hỡi con người, khi dân Israel cư ngụ trên đất mình, họ đã làm dơ bẩn đất ấy bằng đời sống và việc làm của họ. Và Ta đã nổi giận họ, vì họ đã đổ máu trên phần đất ấy, và vì các thần tượng họ thờ làm dơ bẩn phần đất ấy. Ta đã phân tán họ đi khắp các dân tộc, và cho họ sống rải rác trong các nước; Ta đã xét xử theo đời sống và việc làm của họ. Họ đã đi đến các dân tộc và ở đó họ xúc phạm thánh danh Ta, vì thiên hạ nói về họ rằng: "Này là dân của Chúa, họ bị đuổi ra khỏi đất của Người". Và Ta đã thương hại thánh danh Ta mà nhà Israel đã xúc phạm nơi các dân tộc họ đến cư ngụ. Vì thế, ngươi hãy nói với nhà Israel rằng: "Ðây Chúa là Thiên Chúa phán: Hỡi nhà Israel, không phải vì các ngươi mà Ta hành động, nhưng vì thánh danh Ta đã bị các ngươi xúc phạm nơi các dân tộc mà các ngươi đi đến cư ngụ. Ta sẽ thánh hoá danh cao cả Ta đã bị xúc phạm giữa các dân tộc, nơi mà các ngươi đã xúc phạm danh thánh Ta, để các dân tộc biết Ta là Chúa, Thiên Chúa các đạo binh phán, khi Ta tự thánh hoá nơi các ngươi trước mặt họ. Ta sẽ kéo các ngươi ra khỏi các dân tộc, sẽ quy tụ các ngươi từ các nước, và dẫn dắt các ngươi trên đất các ngươi. Ta sẽ dùng nước trong sạch mà rảy trên các ngươi, và các ngươi sẽ được rửa sạch mọi vết nhơ. Ta sẽ thanh tẩy các ngươi sạch mọi vết nhơ các bụt thần. Ta sẽ ban cho các ngươi quả tim mới, đặt giữa các ngươi một thần trí mới, cất khỏi xác các ngươi quả tim bằng đá và ban cho các ngươi quả tim bằng thịt. Ta đặt thần trí Ta giữa các ngươi, làm cho các ngươi thực thi các huấn lệnh Ta, làm cho các ngươi tuân giữ và thực hành các lề luật Ta. Các ngươi sẽ cư ngụ trong xứ Ta đã ban cho tổ phụ các ngươi; các ngươi sẽ là dân Ta, còn Ta, Ta sẽ là Thiên Chúa các ngươi". Ðó là lời Chúa. ÐÁP CA: Tv 41, 3. 5bcd; Tv 42, 3. 4 Ðáp: Như nai rừng khát mong nguồn nước, hồn con khát Chúa, Chúa Trời ôi! (c. 41, 2) 1) Hồn con khát Chúa Trời, Chúa Trời hằng sống: ngày nào con được tìm về ra mắt Chúa Trời? 2) Tôi nhớ lúc xưa đi giữa muôn người, tôi đứng đầu đưa dân tiến vào nhà Ðức Chúa Trời, giữa muôn tiếng reo mừng, ca ngợi. 3) Xin chiếu giãi quang minh và chân thực của Chúa, để những điều đó hướng dẫn con, đưa con lên núi thánh và cung lâu của Ngài. 4) Con sẽ tiến tới bàn thờ Thiên Chúa, đến cùng Thiên Chúa làm cho con được hoan hỉ mừng vui. Với cây cầm thụ, con sẽ ca ngợi Chúa, ôi Chúa là Thiên Chúa của con. THÁNH THƯ: Rm 6, 3-11 "Chúa Kitô, một khi tự trong cõi chết sống lại, Người không chết nữa". Bài trích thư Thánh Phaolô Tông đồ gửi tín hữu Rôma. Anh em thân mến, tất cả chúng ta đã chịu phép rửa trong Ðức Giêsu Kitô, tức là đã chịu phép rửa trong sự chết của Người. Và chúng ta đã cùng chịu mai táng với Người, bởi được thanh tẩy trong sự chết của người, để như Ðức Kitô nhờ vinh hiển của Chúa Cha mà sống lại từ cõi chết thế nào, thì cả chúng ta cũng phải sống đời sống mới như thế. Vì nếu chúng ta được liên kết với Người trong cùng một cái chết, giống như cái chết của Người, thì chúng ta cũng được hợp nhất với Người, trong sự sống lại giống như vậy. Nên biết điều này: con người cũ của chúng ta đã cùng chịu đóng đinh khổ giá, để xác thịt tội lỗi bị huỷ đi, hầu cho chúng ta không còn làm nô lệ tội lỗi nữa, vì con người đã chết, tức là được giải thoát khỏi tội lỗi. Mà nếu chúng ta đã chết với Ðức Kitô, chúng ta tin rằng chúng ta cũng sẽ cùng sống với Người, vì biết rằng Ðức Kitô, một khi từ cõi chết sống lại, Người không chết nữa, sự chết không còn làm chủ được Người nữa. Người đã chết, tức là chết một lần dứt khoát đối với tội lỗi, mà khi Người sống, là sống cho Thiên Chúa. Cả anh em cũng thế, anh em hãy tự kể như mình đã chết đối với tội lỗi, nhưng sống cho Thiên Chúa, trong Ðức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta. Ðó là lời Chúa. ÐÁP CA: Tv 117, 1-2. 16ab-17. 22-23 Ðáp: Alleluia, alleluia, alleluia. 1) Hãy cảm tạ Chúa, vì Chúa hảo tâm, vì đức từ bi của Người muôn thuở. Hỡi nhà Israel, hãy xướng lên: "Ðức từ bi của Người muôn thuở". 2) Tay hữu Chúa đã hành động mãnh liệt, tay hữu Chúa đã cất nhắc tôi lên. Tôi không chết, nhưng tôi sẽ sống, và tôi sẽ loan truyền công cuộc của Chúa. 3) Phiến đá mà những người thợ xây loại bỏ, đã biến nên tảng đá góc tường. Việc đó đã do Chúa làm ra, việc đó kỳ diệu trước mắt chúng ta. PHÚC ÂM: Mc 16,1-8 "Giêsu Nazarét chịu đóng đinh, đã sống lại". Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Marcô. Hết ngày Sabbat, bà Maria Mađalêna, bà Maria, mẹ ông Giacôbê và bà Salômê mua thuốc thơm để đi xức xác Chúa Giêsu. Và từ sáng sớm ngày thứ nhất trong tuần, khi mặt trời hé mọc, các bà đến mồ, họ bảo nhau: "Ai sẽ lăn tảng đá ra khỏi cửa mồ cho chúng ta". Khi đưa mắt nhìn, các bà thấy tảng đá đã được lăn ra bên cạnh. Mà tảng đá đó rất lớn. Các bà đi vào trong mồ, thấy một thanh niên ngồi bên phải, mặc áo dài trắng, nên các bà khiếp sợ. Nhưng người đó bảo các bà rằng: "Các người đừng sợ: Các bà đi tìm Chúa Giêsu Nazarét chịu đóng đinh: nhưng Người đã sống lại, không còn ở đây nữa. Đây là chỗ người ta đã đặt Người. Các bà hãy đi nói với các môn đệ Người, nhất là với Phêrô rằng: Ở đó các ông sẽ thấy Người như Người đã từng nói trước". Nhưng các bà chạy ra khỏi mồ trốn đi, run rẩy kinh hồn chẳng dám nói gì với ai vì sợ hãi. Đó là Lời Chúa. NHỮNG LỜI NGUYỆN SAU BÀI ĐỌC X BÀI ĐỌC 1 (St 1,1 - 2,2) – Đáp Ca – Mọi người đứng lên, linh mục đọc: “Chúng ta dâng lời cầu nguyện”. Lạy Thiên Chúa toàn năng hằng hữu, mọi công trình của Chúa thật kỳ diệu phi thường. Xin làm cho chúng con là những kẻ được Chúa cứu chuộc luôn luôn hiểu biết rằng: công trình tạo thành vũ trụ thuở ban đầu tuy đã kỳ diệu, nhưng công trình cứu độ của Đức Ki-tô, Đấng hy sinh làm Chiên lễ Vượt Qua của chúng con trong thời sau hết, còn kỳ diệu hơn nữa. Chúng con cầu xin… X BÀI ĐỌC 2 (bắt buộc: Xh 14,15 - 15,1a) – Đáp Ca – Mọi người đứng lên, linh mục đọc: “Chúng ta dâng lời cầu nguyện”. Lạy Chúa, những công trình kỳ diệu Chúa đã làm thuở trước, nay còn như xuất hiện rỡ ràng. Quả vậy, xưa Chúa đã ra oai thần lực cứu một mình dân Ít-ra-en khỏi bàn tay Pha-ra-ô áp bức. Ngày nay Chúa cũng dùng nước thánh tẩy, để cứu độ muôn dân khắp hoàn cầu. Xin cho mọi người trên thế giới được lòng tin mạnh mẽ như tổ phụ Áp-ra-ham, và đạt tới địa vị làm dân riêng của Chúa. Chúng con cầu xin… X BÀI ĐỌC 3 (Is 55,1-11) – Đáp Ca – Mọi người đứng lên, linh mục đọc: “Chúng ta dâng lời cầu nguyện”. Lạy Thiên Chúa toàn năng hằng hữu, là niềm hy vọng độc nhất của trần gian, Chúa đã dùng lời các ngôn sứ tiên báo những mầu nhiệm đang được thực hiện ngày nay. Xin khơi dậy trong lòng dân Chúa những ước nguyện cao đẹp, vì nếu không có Chúa soi trí mở lòng, chẳng một ai trong chúng con có thể tiến bước trên con đường thánh thiện. Chúng con cầu xin… X BÀI ĐỌC 4 (Ed 36,16-17a.18-28) – Đáp Ca – Mọi người đứng lên, linh mục đọc: “Chúng ta dâng lời cầu nguyện”. Lạy Chúa là sức mạnh thường hằng bất biến, là ánh sáng tồn tại muôn đời, xin đoái nhìn toàn thể Hội Thánh và dùng Hội Thánh như bí tích kỳ diệu, để hoàn tất công trình cứu độ muôn dân. Ước chi cả thế giới nghiệm thấy và nhìn nhận rằng: vạn vật suy vong đã được trỗi dậy, muôn loài già cỗi được đổi mới và hết thảy được phục hồi nguyện vẹn như xưa, nhờ chính Đức Ki-tô là căn nguyên tất cả. Người hằng sống và hiển trị muôn đời. + Đốt nến trên bàn thờ và linh mục xướng kinh Vinh Danh. KINH VINH DANH (Mọi người cùng đọc hay hát tiếp. Trong lúc đó kéo chuông hoặc đánh chiêng trống, tuỳ theo thói quen địa phương). LỜI NGUYỆN NHẬP LỄ Lạy Chúa, Chúa đã dùng ánh vinh quang của Đức Ki-tô sống lại, làm cho đêm thánh này rực sáng. Xin cử Thánh Thần đến đổi mới, và làm cho chúng con thêm lòng hiếu thảo để phục vụ Chúa tận tình. Chúng con cầu xin… X BÀI THÁNH THƯ (Rm 6, 3-11) Sau bài Thánh thư, mọi người đứng lên. Linh mục, nếu cần thì phó tế hoặc ca viên giúp, long trọng xướng Ha-lê-lui-a và mọi người lặp lại. Hát ba lần, mỗi lần lên giọng cao hơn. + ALLÊLUIA. Cộng Đoàn đáp lại: ALLÊLUIA. + ĐÁP CA: Tv 117,1-2.16ab và 17.22-23 + TIN MỪNG: (Khi đọc Tin Mừng không mang đèn nến, nhưng nếu có xông hương thì mang bình hương). + Sau bài Tin Mừng có diễn giảng. Sau đó cử hành phụng vụ Thánh Tẩy. PHẦN THỨ BA PHỤNG VỤ THÁNH TẨY Nếu không có những người dự tòng và cũng không làm phép giếng, thì bỏ kinh cầu và tiến hành việc làm phép nước ngay: LÀM PHÉP NƯỚC Lời chủ tế hướng dẫn: Anh chị em thân mến, Giờ đây chúng ta cầu xin Chúa thánh hoá nước này, để chúng ta rảy trên mình mà nhớ lại bí tích thánh tẩy ta đã lãnh nhận. Cúi xin Chúa đổi mới chúng ta, giúp chúng ta luôn trung thành sống theo ơn Thánh Người đã ban. Linh mục dừng lại, thinh lặng cầu nguyện trong giây lát, rồi dang tay đọc tiếp: Lạy Thiên Chúa toàn năng hằng hữu, trong đêm cực thánh này, chúng con là dân Chúa, đang họp nhau canh thức cầu nguyện, để tưởng nhớ công ơn Chúa đã sáng tạo chúng con cách lạ lùng, và cứu chuộc còn lạ lùng hơn nữa. Xin Chúa thương nhận lời chúng con và thánh hoá nước này do chính Chúa đã dựng nên, để làm cho ruộng đất phì nhiêu mầu mỡ, cho thân xác con người được sạch sẽ và thoải mái. Và trải qua lịch sử cứu độ, nước thiên nhiên đã trở nên khí cụ của tình thương hải hà: Quả vậy, Chúa dùng nước Biển Đỏ cứu dân riêng khỏi vòng nô lệ, và làm vọt lên giữa sa mạc khô cằn một nguồn nước cho dân giải khát. Các ngôn sứ cũng dùng hình ảnh nước mạch tuôn trào, để tiên báo Chúa sẽ lập giao ước mới với loài người chúng con. Và sau hết, khi Đức Ki-tô chịu phép rửa tại sông Gio-đan, Chúa đã thánh hoá nước trong lành, để thanh tẩy con người tội lỗi chúng con, và cho chúng con được tái sinh nên con người mới. Vậy giờ đây, khi chúng con rảy nước thánh trên mình, để nhớ lại bí tích Thánh Tẩy chúng con đã lãnh nhận, xin Chúa cho tất cả chúng con được chia sẻ niềm vui với anh chị em chịu phép thánh tẩy trong mùa Vượt Qua này. Chúng con cầu xin… LẶP LẠI LỜI TUYÊN HỨA KHI LÃNH NHẬN BÍ TÍCH THÁNH TẨY Sau khi thánh hoá nước, mọi người đứng cầm nến cháy trong tay, lặp lại lời tuyên xưng đức tin khi lãnh nhận bí tích Thánh Tẩy. Linh mục nói với giáo dân những lời sau đây hoặc những lời tương tự: Anh chị em thân mến, Nhờ mầu nhiệm Vượt Qua, chúng ta được mai táng với Đức Ki-tô trong bí tích Thánh Tẩy, để được cùng Người sống đời sống mới. Bởi thế, giờ đây, thời gian thanh luyện của Mùa Chay đã kết thúc, chúng ta cùng nhau lặp lại những điều đã tuyên hứa khi lãnh nhận bí tích Thánh Tẩy: là từ bỏ Xa-tan với tất cả những gì thuộc về nó, và trung thành phụng sự Chúa trong Hội Thánh Công Giáo. Linh mục: Để sống cho xứng là con cái tự do của Thiên Chúa, anh chị em có từ bỏ tội lỗi không? Cộng đoàn: Thưa từ bỏ. Linh mục: Để khỏi làm nô lệ tội lỗi, anh chị em có từ bỏ những quyến rũ gian tà không? Cộng đoàn: Thưa từ bỏ. Linh mục: Anh chị em có từ bỏ Xa-tan là đầu mối gây ra mọi tội ác không? Cộng đoàn: Thưa từ bỏ. Linh mục: Anh chị em có tin kính Thiên Chúa là Chúa Cha toàn năng, Đấng tạo thành trời đất không? Cộng đoàn: Thưa tin. Linh mục: Anh chị em có tin kính Đức Giêsu Ki-tô là Con Một của Chúa Cha và là Chúa chúng ta, đã được Đức Trinh Nữ Ma-ri-a sinh ra, đã chịu khổ hình và mai táng, đã từ cõi chết sống lại và đang ngự bên hữu Chúa Cha không? Cộng đoàn: Thưa tin. Linh mục: Anh chị em có tin kính Chúa Thánh Thần, tin kính Giáo Hội thánh thiện và công giáo, tin mầu nhiệm hiệp thông trong dân thánh, tin có ơn tha tội, tin xác phàm sẽ sống lại, và tin có sự sống đời đời không? Cộng đoàn: Thưa tin. Rồi linh mục kết thúc: Thiên Chúa toàn năng là Cha Đức Giêsu Ki-tô, Chúa chúng ta, đã giải thoát chúng ta khỏi vòng tội lỗi, và cho chúng ta được tái sinh nhờ nước và Thánh Thần. Nguyện xin Người ban ơn gìn giữ chúng ta luôn kết hiệp với Đức Ki-tô, để được sống muôn đời. Cộng đoàn: A-men. + Linh mục rảy nước thánh trên giáo dân, trong lúc đó mọi người hát: Tôi đã thấy dòng nước từ cửa đông đền thờ tuôn ra. Ha-lê-lui-a. Và tất cả những người được nước ấy thanh tẩy đều hưởng ơn cứu độ, và cất tiếng reo mừng: Ha-lê-lui-a. Ha-lê-lui-a. + Sau khi rảy nước thánh, linh mục về ghế chủ toạ, + không đọc kinh Tin Kính. + Đọc Lời nguyện tín hữu. PHẦN THỨ TƯ PHỤNG VỤ THÁNH THỂ Lời Nguyện Tiến Lễ Lạy Chúa, xin thương nhận lời cầu và của lễ chúng con dâng tiến Chúa, để lễ tế này, khơi nguồn từ mầu nhiệm Vượt Qua, trở nên thần dược đem lại cho chúng con sức sống muôn đời. Chúng con cầu xin… Kinh Tiền Tụng Lạy Chúa, chúng con tuyên xưng Chúa mọi lúc, nhất là trong đêm cực thánh này, chúng con càng hãnh diện tung hô Chúa khi Đức Kitô đã được hiến tế làm Chiên Vượt Qua của chúng con, thật là chính đáng, phải đạo và đem lại ơn cứu độ cho chúng con. Vì chính Người là Chiên thật đã xoá bỏ tội trần gian, Người đã chết để huỷ diệt sự chết nơi chúng con, và sống lại để phục hồi sự sống cho chúng con. Vì thế, với niềm hân hoan chứa chan trong lễ Phục Sinh, toàn thể nhân loại trên khắp địa cầu đều nhảy mừng. Cũng vậy, các Dũng thần và các Quyền thần không ngừng hát bài ca chúc tụng vinh quang Chúa rằng: Thánh! Thánh! Thánh! Ca Hiệp Lễ Đức Ki-tô đã chịu sát tế làm Chiên lễ Vượt Qua của chúng ta. Vậy chúng ta hãy dùng bánh không men là lòng chân thật và tinh tuyền để ăn mừng đại lễ. Ha-lê-lui-a. Lời Nguyện Hiệp Lễ Lạy Chúa, Chúa đã dùng những bí tích Vượt Qua để nuôi dưỡng chúng con; xin cũng ban Thánh Thần là nguồn mạch tình yêu, giúp chúng con biết tâm đầu ý hợp, và chân thành yêu thương nhau. Chúng con cầu xin… + Để giải tán, phó tế hoặc chính linh mục nói: Lễ xong, chúc anh chị em đi bình an. Ha-lê-lui-a. Ha-lê-lui-a. Cộng đoàn: Tạ ơn Chúa. Ha-lê-lui-a. Ha-lê-lui-a. CHÚA NHẬT PHỤC SINH Thánh lễ chính ngày Ca Nhập Lễ Chúa sống lại thật rồi. Ha-lê-lui-a. Kính dâng Người vinh quang và uy quyền đến muôn đời muôn thuở. Ha-lê-lui-a. Lời Nguyện Nhập Lễ Lạy Cha từ ái, ngày hôm nay, Đức Giêsu đã đánh bại thần chết, khai đường mở lối cho chúng con vào cuộc sống muôn đời. Này chúng con đang hoan hỷ mừng Người sống lại, xin Cha ban Thánh Thần làm cho chúng con trở nên người mới, để sống một cuộc đời tràn ngập ánh sáng Đấng Phục Sinh. Người là Thiên Chúa hằng sống và hiển trị cùng Cha, hiệp nhất với Chúa Thánh Thần đến muôn thuở muôn đời. Lời Nguyện Tiến Lễ Lạy Chúa, hôm nay mừng đại lễ Vượt Qua, chúng con hoan hỷ dâng lên Chúa lễ tế này, là lễ tế làm cho Giáo Hội được tái sinh vào đời sống mới, và được nuôi dưỡng cách lạ lùng. Chúng con cầu xin… Kinh Tiền Tụng Lạy Chúa, chúng con tuyên xưng Chúa mọi lúc, nhất là trong ngày cực thánh này, chúng con càng hãnh diện tung hô Chúa khi Đức Kitô đã được hiến tế làm Chiên Vượt Qua của chúng con, thật là chính đáng, phải đạo và đem lại ơn cứu độ cho chúng con. Vì chính Người là Chiên thật đã xoá bỏ tội trần gian, Người đã chết để huỷ diệt sự chết nơi chúng con, và sống lại để phục hồi sự sống cho chúng con. Vì thế, với niềm hân hoan chứa chan trong lễ Phục Sinh, toàn thể nhân loại trên khắp địa cầu đều nhảy mừng. Cũng vậy, các Dũng thần và các Quyền thần không ngừng hát bài ca chúc tụng vinh quang Chúa rằng: Thánh! Thánh! Thánh! Ca Hiệp Lễ Đức Ki-tô đã chịu sát tế làm Chiên lễ Vượt Qua của chúng ta. Vậy chúng ta hãy dùng bánh không men là lòng chân thật và tinh tuyền để ăn mừng đại lễ. Ha-lê-lui-a. Lời Nguyện Hiệp Lễ Lạy Chúa rất từ bi nhân hậu, nhờ mầu nhiệm Vượt Qua, Chúa đã thương đổi mới Hội Thánh; xin Chúa cũng luôn luôn che chở giữ gìn, để Hội Thánh được thấy ngày sống lại vinh quang. Chúng con cầu xin… Để giải tán, phó tế hoặc chính linh mục nói: Lễ xong, chúc anh chị em đi bình an. Ha-lê-lui-a. Ha-lê-lui-a. Cộng đoàn: Tạ ơn Chúa. Ha-lê-lui-a. Ha-lê-lui-a. Câu giải tán này dùng cho đến hết Chúa Nhật II Phục Sinh.

 

Tại sao lại che phủ các thánh giá và các ảnh tượng trong tuần cuối mùa Chay?

Chủ nhật - 25/03/2018 09:08
Về thời gian, một số người cho là thói quen che Thánh giá và tượng ảnh thánh xuất hiện từ thế kỷ IX-X, nhưng một số khác lại tin rằng từ thế kỷ XII. Còn quy định chính thức về việc này chỉ tìm thấy trong Sách Lễ nghi Giám mục hồi tiền bán thế kỷ XVII.
Tại sao lại che phủ các thánh giá và các ảnh tượng trong tuần cuối mùa Chay
Tại sao lại che phủ các thánh giá và các ảnh tượng trong tuần cuối mùa Chay
Đây là một thói quen không dễ dàng giải thích hay trình bày ý nghĩa của nó, cũng chẳng biết nó ra đời thế nào và ở đâu. Tuy nhiên, cũng có những giả thuyết sau:

● Giả thiết thứ nhất: Có lẽ từ ban đầu (thế kỷ XI), người ta có một loại khăn gọi là “khăn trùm đầu hay khăn che của việc chay tịnh”, thường được trang hoàng cùng với những biểu tượng của cuộc thương khó Chúa. Khi khởi đầu mùa Chay, người ta dùng nó để phủ và che bàn thờ sao cho cộng đoàn không thể nhìn thấy. Ý định của hành động này là nhằm ngăn cản những ai đang trải qua thời kỳ thống hối công khai nhìn thấy những gì đang diễn ra trên bàn thờ. Chúng ta nhớ rằng, những hối nhân công khai đã bị trục xuất khỏi nhà thờ ngay từ đầu mùa Chay và không được phép tham dự cử hành Thánh Thể.

Tại sao lại che phủ các thánh giá và các ảnh tượng trong tuần cuối mùa Chay?

Sau này, vì cộng đoàn diễn tả sự liên đới của mình đối với những hối nhân công khai, cũng như ý thức rằng tất cả đều là tội nhân, nên họ cũng ao ước bị tước đoạt quyền nhìn thấy bàn thờ trong thời gian mùa Chay. Từ chỗ chỉ phủ bàn thờ, thực hành đi xa hơn là phủ luôn cả Thánh giá và ảnh tượng thánh. Thực hành này đã xuất hiện ở bên Đức trong thế kỷ IX, khi người ta dùng một tấm màn lớn gọi là “Hungertuch” (màn chay) để che hoàn toàn bàn thờ. Tấm màn này được gỡ bỏ khi đọc đến câu “màn trong đền thờ bị xé ra làm đôi ngay chính giữa” của bài thương khó được công bố hôm thứ Tư Tuần Thánh.

● Giả thiết thứ hai: một số người tin là thực hành che phủ bắt nguồn từ nghệ thuật Roma. Theo trường phái này, khoảng thế kỷ XI-XII, tượng chịu nạn được trình bày như một vị vua trên Thánh giá: ngài không bị trần truồng nhưng mặc y phục và thay vì đầu đội mão gai thì đội vương miện của vua được trang trí thêm ngọc và đá quý. Trong thời gian cử hành cuộc thương khó, họ che phủ các Thánh giá trình bày Đức Kitô vinh quang như thế để có thể tưởng niệm tốt hơn và tập trung hơn vào Đức Giêsu khiêm hạ, bị khinh khi và chống đối.

Theo tác giả Elliott, tập tục che Thánh giá và ảnh tượng thánh liên quan nhiều đến phương diện tâm lý học tôn giáo, bởi vì thực hành này giúp chúng ta dễ dàng tập trung vào các yếu tố cao trọng của công trình cứu độ của Chúa Kitô.3

Tại sao lại che phủ các thánh giá và các ảnh tượng trong tuần cuối mùa Chay? - Ảnh minh hoạ 2

Trong thực hành:

● Từ Chúa nhật thứ V mùa Chay, chúng ta có thể che Thánh giá và tượng ảnh thánh dù thực hành này không bắt buộc. Thánh giá được che phủ cho tới khi kết thúc cử hành cuộc thương khó Chúa ngày thứ Sáu Thánh. Còn tượng ảnh thánh vẫn được che phủ cho tới khi bắt đầu lễ Phục sinh. Điều này cũng tùy thuộc vào quyết định của Hội đồng Giám mục.4

● Thói quen này hiện nay vẫn được tiếp tục vì tác động mục vụ rất lớn của nó. Vì thế, cho dù không bắt buộc, các giáo xứ cũng nên duy trì thực hành khôn ngoan này. Khăn phủ mang màu tím. Không cần phủ đàng Thánh giá hay ảnh thánh trên cửa kính màu.

Tại sao lại che phủ các thánh giá và các ảnh tượng trong tuần cuối mùa Chay? - Ảnh minh hoạ 3

● Chắc chắn người ta không thể nào không bị ấn tượng khi Thánh giá, một dấu chỉ đẹp đẽ và quyền lực nhất của ơn cứu độ chúng ta, bị “che phủ”. Thật là ý nghĩa khi dấu chỉ hay biểu tượng tôn giáo là Thánh giá hay các ảnh tượng thánh không được các tín hữu nhìn thấy bằng cách che phủ hay lấy đi các đối tượng này trong một thời gian. Các tín hữu như cảm thấy “đói và khát Thánh giá”. Tới ngày thứ Sáu Thánh, chúng ta sẽ lại thấy Thánh giá trong một tâm thế khác hẳn.

Nghĩa là chúng ta phải bỏ khăn phủ Thánh giá sau cử hành nghi thức thứ Sáu Thánh. Điều này cũng như Giáo hội không hát kinh Vinh Danh trong mùa Vọng hay Halleluia trong mùa Chay vì muốn cho chúng được cất lên trở lại vào mùa Giáng sinh và mùa Phục sinh trong một sắc thái hoàn toàn mới mẻ. Không có nghi thức nào đi kèm, nhưng chỉ trước thánh lễ Vọng Phục sinh, chúng ta mới bỏ tất cả khăn phủ ảnh tượng thánh.

Lm. Giuse PHẠM ĐÌNH ÁI, SSS

 

Sắc lệnh của Bộ Phụng Tự và Kỷ luật các Bí tích về việc cử hành lễ kính nhớ Đức Trinh Nữ Maria, Mẹ Hội Thánh

Thứ hai - 26/03/2018 20:43
Ngày 03/03/2018, Toà thánh đã công bố Sắc lệnh của Bộ Phụng Tự và Kỷ luật các Bí tích – ký ngày 11 tháng 2 năm 2018, ngày kính nhớ Đức Mẹ Lộ Đức– về việc cử hành trong lịch chung Rôma lễ kính nhớ Đức Trinh Nữ Maria, Mẹ Hội Thánh.
Sắc lệnh của Bộ Phụng Tự và Kỷ luật các Bí tích về việc cử hành lễ kính nhớ Đức Trinh Nữ Maria, Mẹ Hội Thánh
Sắc lệnh của Bộ Phụng Tự và Kỷ luật các Bí tích về việc cử hành lễ kính nhớ Đức Trinh Nữ Maria, Mẹ Hội Thánh

Sau đây là toàn văn Sắc lệnh, cùng bản văn phụng vụ với các bài đọc, và bài đọc II Giờ Kinh Sách của lễ này; bản dịch tiếng Việt của Uỷ ban Phụng tự trực thuộc Hội đồng Giám mục Việt Nam.

***

SẮC LỆNH

về việc cử hành trong lịch chung Rôma

lễ kính nhớ Đức Trinh Nữ Maria, Mẹ Hội Thánh

Trong Hội Thánh hiện nay, việc hân hoan dâng lòng tôn kính Mẹ Thiên Chúa, dưới ánh sáng của những suy tư về mầu nhiệm Chúa Kitô và về bản tính của chính Hội Thánh, luôn phải nhắc đến hình ảnh của một người nữ (x. Gl 4,4):  Đức Trinh nữ Maria, Đấng vừa là Mẹ của Chúa Kitô vừa là Mẹ của Hội Thánh.

Điều này đã được khơi lên trong suy tư của Hội Thánh từ những gợi ý của thánh Augustinô và thánh Lêô Cả. Theo thánh Augustinô, Đức Maria là mẹ của các chi thể Chúa Kitô, vì Mẹ đã yêu thương cộng tác vào việc tái sinh các tín hữu trong Hội Thánh; theo thánh Lêô, khi Đầu được sinh ra thì toàn thân thể cũng được sinh ra, vì thế Đức Maria vừa là mẹ của Chúa Kitô, Con Thiên Chúa, vừa là mẹ của các chi thể trong nhiệm thể Người chính là Hội Thánh. Đây là những khẳng định liên quan đến tư cách Thánh Mẫu của Đức Maria và sự kết hợp mật thiết của Mẹ với công trình của Đấng Cứu thế, đạt đến cao điểm trong giờ hy tế thập giá.

Bên chân thập giá (x. Ga 19,25), Mẹ đã đón nhận lời trối đầy yêu thương của Chúa Giêsu Con Mẹ, và nơi người môn đệ được Chúa sủng ái, Mẹ đã tiếp nhận mọi người như những người con phải được tái sinh vào đời sống thần linh, và như thế, Mẹ đã trở nên người mẹ từ ái của Hội Thánh đã được tác sinh trên Thánh giá khi Chúa Kitô trao ban Thần Khí. Trong khi đó, cũng nơi người môn đệ yêu dấu, Chúa Kitô muốn tất cả các môn đệ thay mặt Người thể hiện tình yêu thương đối với Đức Maria, Người trao gửi để họ đón nhận Mẹ trong tâm tình thảo hiếu kính yêu.

Như một người hướng dẫn tận tâm của Hội Thánh vừa được thiết lập, Đức Maria bắt đầu sứ mạng làm mẹ khi hiện diện với các Tông đồ nơi phòng Tiệc ly, cùng cầu nguyện đợi chờ Chúa Thánh Thần (x. Cv 1,14). Trong tâm tình đó, suốt bao thế kỷ, nền đạo đức Kitô giáo đã tôn vinh Đức Maria với những tước hiệu khác nhau, mang ý nghĩa tương tự nhau, chẳng hạn Mẹ các môn đệ, Mẹ các giáo hữu, Mẹ các tín hữu, Mẹ của tất cả những kẻ được tái sinh trong Chúa Kitô, và “Mẹ của Hội Thánh”, tước hiệu này đã xuất hiện trong những tác phẩm của các tác giả tu đức cũng như trong các văn kiện Huấn quyền của Đức Bênêđictô XIV và Lêô XIII.

Vào ngày 21 tháng 9 năm 1964, khi bế mạc kỳ họp thứ ba của Công đồng Vatican II, Đức chân phước Giáo hoàng Phaolô VI đã dựa vào những yếu tố nói trên như cơ sở nền tảng để công bố Đức Trinh Nữ Maria là “Mẹ của Hội Thánh, nghĩa là Mẹ của toàn thể các Kitô hữu, giáo dân cũng như mục tử, những người vẫn gọi Mẹ là Mẹ vô cùng nhân ái”, và Đức Giáo hoàng xác lập việc “toàn thể đoàn dân Kitô giáo từ nay phải luôn gia tăng lòng tôn kính đối với Mẹ Thiên Chúa dưới tước hiệu vô cùng dịu ngọt ấy”.

Trong Năm Thánh Hòa giải 1975, Tòa Thánh đã biên soạn và đưa vào Sách Lễ Rôma bản văn lễ ngoại lịch kính Đức Trinh Nữ Maria Mẹ Hội Thánh; tước hiệu này cũng được thêm vào Kinh cầu Đức Mẹ (1980), một số bản văn khác cũng được phổ biến trong tập sách các lễ kính Đức Trinh Nữ Maria (1986). Theo ý thỉnh nguyện, lễ này đã được phép ghi vào lịch riêng của một số quốc gia, giáo phận và hội dòng.

Đức Giáo hoàng Phanxicô, sau khi thận trọng cân nhắc hiệu quả của việc sùng kính này có thể giúp nâng cao cảm thức làm mẹ của Hội Thánh, đồng thời cũng gia tăng lòng tôn kính Đức Mẹ nơi các mục tử, tu sĩ và các tín hữu, đã quyết định đưa vào lịch chung của Hội Thánh Rôma, lễ nhớ Đức Trinh Nữ Maria, Mẹ Hội Thánh, được cử hành hằng năm vào ngày thứ Hai sau lễ Hiện xuống.

Việc cử hành lễ này sẽ giúp chúng ta nhớ rằng, sự tăng trưởng của đời sống Kitô hữu phải luôn gắn kết với mầu nhiệm Thánh Giá, với hy tế của Chúa Kitô nơi bàn tiệc Thánh Thể cũng như với tâm tình hiến dâng của Đức Trinh Nữ, Mẹ của Đấng Cứu thế và của những người được cứu chuộc.

Lễ nhớ này phải được ghi trong lịch và sách phụng vụ để cử hành Thánh lễ và Phụng vụ Giờ kinh. Bản văn phụng vụ liên quan được phổ biến cùng với sắc lệnh này, và các bản dịch sẽ được công bố sau khi đã được các Hội Đồng Giám Mục phê duyệt và Bộ Phụng Tự chuẩn nhận.

Tại những nơi đã được phép đặc biệt để cử hành lễ Đức Trinh Nữ Maria, Mẹ Hội Thánh, vào một ngày khác và với bậc lễ cao hơn, vẫn có thể tiếp tục cử hành như thế.

Bất chấp mọi điều trái nghịch.

Ban hành từ trụ sở Bộ Phụng Tự và Kỷ luật các Bí tích, ngày 11 tháng 2 năm 2018, ngày kính nhớ Đức Mẹ Lộ Đức.

        Hồng y Robert Sarah 
        Tổng trưởng

        Tổng Giám mục Arthur Roche 

      Thư ký

***

Thứ Hai sau lễ Hiện Xuống
Đức Trinh Nữ Maria Mẹ Hội Thánh
Lễ nhớ

Ca nhập lễ                                                                                        x. Cv 1, 14

Các môn đệ đồng tâm kiên trì cầu nguyện
cùng với Đức Maria, Mẹ Chúa Giêsu.

Lời nguyện nhập lễ

Lạy Thiên Chúa là Cha hay thương xót, 
khi chịu treo trên thập giá, 
Con Một Chúa đã trao ban Đức Trinh Nữ Maria, thân mẫu Người, 
làm Mẹ chúng con, 
nhờ có Đức Mẹ yêu thương trợ giúp, 
xin cho Hội Thánh Chúa đang ngày càng thêm đông số, 
được mừng vui vì sự thánh thiện của con cái, 
và dẫn đưa tất cả muôn dân nhập đoàn cùng Hội Thánh Chúa.
Chúng con cầu xin nhờ Đức Giêsu Kitô Con Chúa, Chúa chúng con, 
Người là Thiên Chúa hằng sống và hiển trị cùng Chúa, 
trong sự hợp nhất của Chúa Thánh Thần đến muôn đời.

Lời nguyện tiến lễ

Lạy Chúa, xin thương chấp nhận và biến đổi của lễ chúng con dâng 
thành bí tích cứu độ, 
xin cho lòng chúng con cũng cháy bừng lửa yêu mến 
như Đức Trinh Nữ Maria, Mẹ Hội Thánh,
và ước chi sức mạnh của bí tích này 
thúc đẩy chúng con cộng tác mật thiết hơn vào công trình cứu chuộc. 
Chúng con cầu xin nhờ Đức Kitô Chúa chúng con.

Kinh Tiền tụng: Đức Maria là khuôn mẫu và là Mẹ của Hội Thánh.

X. Chúa ở cùng anh chị em.

Đ. Và ở cùng cha.

X. Hãy nâng tâm hồn lên.

Đ. Chúng con đang hướng về Chúa.

X. Hãy tạ ơn Chúa là Thiên Chúa chúng ta.

Đ. Thật là chính đáng.

Lạy Chúa là Cha chí thánh, là Thiên Chúa toàn năng hằng hữu,
chúng con tạ ơn Chúa mọi nơi mọi lúc, 
thật là chính đáng, phải đạo và đem lại ơn cứu độ cho chúng con.
Mỗi khi kính nhớ Đức Trinh Nữ Maria,
chúng con dâng lời ngợi khen tung hô Chúa.
Khi đón nhận Lời Chúa với tâm hồn trong trắng, 
Mẹ đã cưu mang Ngôi Lời trong cung lòng khiết trinh,
và khi hạ sinh Đấng thiết lập Hội Thánh,
Mẹ đã cộng tác trong việc khai sinh Hội Thánh.
Khi đứng bên thập giá, 
Mẹ đón nhận lời trối đầy yêu thương của Con Chúa,
và đã nhận tất cả mọi người làm con,
những người được tái sinh vào đời sống siêu nhiên
nhờ cái chết của Đức Kitô.
Khi cùng các Tông đồ trông đợi Đấng Chúa hứa ban,
Mẹ đã hợp với các ngài tha thiết khẩn cầu,
và nên mẫu gương cho một Hội Thánh không ngừng cầu nguyện.
Khi được đưa lên cõi vinh quang thiên quốc,
Mẹ vẫn lấy lòng từ mẫu dõi theo Hội Thánh đang còn lữ hành,
và ân cần phù trợ Hội Thánh trên đường về quê trời,
cho tới ngày Chúa Kitô ngự đến trong vinh quang.
Vì thế, cùng với toàn thể Thiên thần và các Thánh,
chúng con hợp tiếng ca ngợi Chúa và tung hô rằng:

Thánh, Thánh, Thánh, Chúa là Thiên Chúa các đạo binh, …

Ca hiệp lễ                                                                                    x. Ga 2, 1. 11

Có tiệc cưới tại Cana xứ Galilêa, và có mẹ Chúa Giêsu ở đó; 
bấy giờ Chúa Giêsu đã làm dấu lạ đầu tiên 
và đã tỏ vinh quang của Người, và các môn đệ đã tin Người.

Hoặc                                                                                         x. Ga 19, 26-27

Lúc bị treo trên thập giá,
Chúa Giêsu nói với môn đệ Người yêu: Này là Mẹ con.

Lời nguyện hiệp lễ

Lạy Chúa, 
chúng con vừa lãnh nhận bảo chứng ơn cứu chuộc và sự sống, 
xin cho Hội Thánh Chúa,
nhờ sự trợ giúp của Thánh mẫu Maria, 
luôn nhiệt thành rao giảng Tin Mừng cho các dân tộc
và làm cho địa cầu được đầy tràn Chúa Thánh Thần.
Chúng con cầu xin nhờ Đức Kitô Chúa chúng con.

Bài đọc I                                                                      St 3,9-15.20

                                                            “Mẹ của toàn thể chúng sinh”

Bài trích sách Sáng thế

Sau khi Ađam ăn trái cấm,
9  Chúa là Thiên Chúa đã gọi ông
và nói cùng ông rằng: “Ngươi ở đâu vậy?”
10 Ông thưa: “Con nghe tiếng Ngài trong vườn, nhưng con sợ hãi,
vì con trần truồng và con ẩn núp”.
11 Chúa hỏi ông: “Ai đã cho ngươi biết ngươi đang trần truồng?
Có phải tại ngươi đã ăn trái cây mà Ta cấm ngươi ăn không?”
12 Ađam thưa: “Người phụ nữ mà Ngài đã cho làm bạn với con,
chính bà ấy đã cho con trái cây và con đã ăn”.
13 Chúa là Thiên Chúa nói cùng người phụ nữ rằng:
“Tại sao ngươi làm điều đó?”
Người phụ nữ thưa: “Con rắn đã lừa dối con, và con đã ăn”.
14 Chúa là Thiên Chúa phán cùng con rắn rằng: “Bởi vì mi đã làm điều đó,
mi là thứ bị chúc dữ giữa mọi súc vật và thú hoang!
Mi sẽ bò bằng bụng và sẽ ăn bụi đất suốt đời mi.
15 Ta sẽ đặt mối thù giữa mi và người phụ nữ,
giữa miêu duệ mi và miêu duệ Bà,
người miêu duệ này sẽ đạp đầu mi, còn mi sẽ cắn gót chân người”.
20 Rồi Ađam đặt tên cho vợ mình là Evà, vì bà là mẹ của chúng sinh.

Đó là Lời Chúa.

Hoặc:

Cv 1,12-14 
Các Tông đồ đồng tâm kiên trì cầu nguyện cùng với Đức Maria, mẹ của Chúa Giêsu

Bài trích sách Công vụ Tông đồ

        12 Sau khi Chúa Giêsu lên trời, 
            các Tông đồ rời núi Cây Dầu trở về Giêrusalem, 
        núi này ở gần Giêrusalem, 
        chỉ cách một quãng đường được đi trong ngày sabbat.
        13 Sau khi trở về thành, các ông lên phòng trên lầu. 
        Hiện diện tại đây có các ông Phêrô, Gioan, Giacôbê, Anrê, 
        Philipphê, Tôma, Bartôlômêô, Matthêu, Giacôbê con ông Alphê, 
        Simon nhiệt thành, và Giuđa con ông Giacôbê.
        14 Mọi người đều đồng tâm kiên trì cầu nguyện, 
        cùng với mấy người phụ nữ, với bà Maria, mẹ của Chúa Giêsu, 
        và các anh em Người.

Đó là Lời Chúa.

Thánh vịnh đáp ca                                  Tv 86 (87) 1-2.3 và 5.6-7

Đáp: Hỡi thành đô của Thiên Chúa,

mọi người truyền tụng những điều hiển hách về thành.

1 Nền móng Sion được đặt trên núi thánh,

2 Chúa yêu chuộng cửa thành

   hơn mọi nơi cư ngụ của nhà Giacob.

3 Hỡi thành đô của Thiên Chúa.

   Mọi người truyền tụng những điều hiển hách về thành. – Đ.

5 Nói đến Sion, thiên hạ bảo:

   “Tại đó, người người đã sinh ra,

   chính Đấng Tối Cao củng cố thành”. – Đ.

6 Thiên Chúa ghi vào sổ bộ các dân:

   “Kẻ này người nọ đã sinh ra tại đó”,

7 và họ múa nhảy hát ca:

   “Mọi nguồn mạch của tôi ở nơi thành”. – Đ.

Alleluia Kính chào Đức Trinh Nữ diễm phúc, Mẹ đã hạ sinh Chúa Giêsu.

Kính chào Mẹ Hội Thánh, Mẹ là Đấng giữ gìn trong chúng con

Thần Khí của Thánh Tử Giêsu Kitô

Tin Mừng                                                                   Ga 19, 25-27

                                                           "Này là Con Bà. Này là Mẹ con."

Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo thánh Gioan

        Khi ấy, 
        25 đứng gần thập giá Chúa Giêsu, có mẹ Người, 
        cùng với chị mẹ Người là bà Maria, vợ ông Clêôpas 
        và Maria Mađalêna. 
        26 Khi thấy mẹ và bên cạnh có môn đệ Người yêu, 
        Chúa Giêsu nói với mẹ rằng: “Thưa Bà, này là Con Bà”. 
        27 Rồi Người nói với môn đệ: “Này là Mẹ con”. 
        Và từ giờ đó môn đệ đã đón bà về nhà mình.

Đó là Lời Chúa.

Bài đọc II Giờ Kinh Sách

Trích diễn từ của Đức Giáo hoàng Phaolô VI

ngày bế mạc kỳ họp thứ ba của Công đồng Vatican II – 21.11.1964

Để tôn vinh Đức Trinh Nữ Maria và để chúng ta được hưởng nhờ ơn cứu giúp, sau khi cẩn thận luận xét các lý chứng liên hệ đến mối tương quan giữa Đức Maria và Hội Thánh, Chúng tôi tuyên nhận Đức Maria là Mẹ của Hội Thánh, nghĩa là của toàn thể các Kitô hữu, giáo dân cũng như mục tử, những người vẫn gọi Đức Maria là Mẹ vô cùng nhân ái; và Chúng tôi xác lập rằng từ nay toàn thể đoàn dân Kitô giáo phải luôn gia tăng lòng tôn kính đối với Mẹ Thiên Chúa và kêu cầu Mẹ dưới tước hiệu vô cùng dịu ngọt ấy.

Thưa chư huynh đáng kính, tước hiệu này không hề xa lạ đối với lòng đạo đức của các Kitô hữu; trái lại các tín hữu và toàn thể Hội Thánh vẫn luôn gọi Đức Maria là Mẹ. Danh hiệu này quả thật đã gắn liền với ý nghĩa đích thực của lòng sùng kính dành cho Đức Maria, dựa trên chính phẩm giá Mẹ đã nhận được trong tư cách là Mẹ của Ngôi Lời Thiên Chúa nhập thể. Thiên chức Thánh Mẫu đã làm cho Mẹ có những mối liên hệ đặc biệt với Chúa Kitô và hiện diện trong công trình cứu rỗi nhân loại do Chúa Giêsu Kitô thực hiện, cũng chính thiên chức đó tạo nên mối tương quan giữa Đức Maria và Hội Thánh; vì Đức Maria là Mẹ của Chúa Kitô, Đấng đã nhận lấy bản tính nhân loại trong cung lòng khiết trinh của Mẹ, Đấng là Đầu của Nhiệm thể là Hội Thánh. Vì thế Đức Maria, Mẹ của Chúa Kitô, cũng là Mẹ của tất cả các tín hữu và mục tử, nghĩa là của Hội Thánh.

Đó là lý do tại sao chúng ta, dù bất xứng, dù yếu hèn, nhưng vẫn luôn ngước nhìn lên Mẹ với đôi mắt bừng sáng niềm tin tưởng và lòng yêu mến của những người con. Nếu xưa Mẹ đã trao cho chúng ta Đức Giêsu là nguồn mạch ân sủng bởi trời, thì nay Mẹ không thể không dành tấm lòng hiền mẫu của Mẹ cho Hội Thánh, đặc biệt trong thời điểm này, khi Hiền Thê của Chúa Kitô đang gia tăng nỗ lực để chu toàn sứ mạng thông ban ơn cứu độ.

Để tiếp tục nuôi dưỡng và củng cố niềm tin này, Chúng tôi muốn trình bày những tương quan mật thiết giữa người Mẹ trên trời của chúng ta và nhân loại. Dù được Thiên Chúa ban tràn đầy ân huệ cao trọng để xứng đáng là Mẹ của Ngôi Lời nhập thể, Đức Maria vẫn luôn thân cận với chúng ta. Như chúng ta, Mẹ là con cháu Evà, có chung bản tính nhân loại nên cũng là người Chị của chúng ta; được gìn giữ khỏi tội nguyên tổ do hưởng trước công phúc cứu chuộc của Chúa Kitô, nhưng Mẹ đã lãnh nhận các ân huệ thần linh với đức tin trọn hảo, đến độ Mẹ đáng nhận được lời ngợi khen trong Tin Mừng: “Phúc cho bà là kẻ đã tin”.

Trong cuộc sống trần thế, Mẹ đã thể hiện hình ảnh hoàn hảo của người môn đệ Chúa Kitô, nên mẫu gương của mọi nhân đức,và nếp sống của Mẹ phản ánh trọn vẹn các mối phúc thật được Chúa Giêsu Kitô rao giảng. Bởi đó, trong đời sống đa dạng và sinh hoạt đầy năng động của mình, toàn thể Hội Thánh phải noi theo mẫu gương của Đức Trinh nữ Mẹ Thiên Chúa, người đã trọn vẹn sống theo gương mẫu Chúa Kitô.

 Bộ Phụng Tự và Kỷ luật các Bí tích

 

Hỏi đáp về Mùa Chay

 

 

 

Mùa Chay là gì ? Mùa Chay kéo dài bao nhiêu ngày, bắt đầu và kết thúc vào ngày nào ?

 

Mùa Chay là mùa sám hối đặc biệt để chuẩn bị mừng lễ Vượt Qua của Ðức Ki-tô. Mùa Chay kéo dài 40 ngày, bắt đầu từ thứ tư Lễ Tro và kết thúc trước thánh lễ Tiệc Ly chiều ngày thứ Năm Tuần Thánh.

 

Kinh Thánh cho ta biết con số 40 ám chỉ những biến cố lớn nào ?

 

Con số 40 ( ám chỉ ) gợi nhớ 40 năm dân Do Thái Vượt Qua trong sa mạc tiến về Ðất Hứa ( Ds 14,33; 32,13 ), lụt Hồng Thủy kéo dài 40 đêm ngày ( St 7 ) và cuộc chay tịnh 40 đêm ngày của Chúa Ki-tô trong rừng vắng trước khi rao giảng ơn cứu độ ( Mt 4,2; Lc 4,1-2 ). Các Giáo Phụ cũng coi thời gian giữ chay tương tự thời gian bốn mươi ngày ông Mô-sê ở trên núi Xi-nai ( Xh 34,28 ), hoặc bốn mươi ngày ông Ê-li-a chạy trốn ở núi Kho-rép ( 1V 19,8 )...

 

Mùa Chay có mấy đặc tính ?

 

Mùa Chay có hai đặc tính:

 

- Mùa Chay là mùa sám hối đặc biệt để chuẩn bị mừng lễ Vượt Qua của Ðức Ki-tô, và nhất là nhớ lại hoặc dọn mình lãnh nhận Bí tích Thánh Tẩy.

 

- Mùa Chay còn là mùa chuẩn bị các tín hữu cử hành Mầu Nhiệm Vượt Qua bằng sự nhiệt thành nghe Lời Chúa và chuyên chăm cầu nguyện mỗi ngày.

 

Mùa Chay mang ý nghĩa gì ?

 

Mùa Chay có những ý nghĩa sau:

 

- Mùa Chay là thời kỳ sám hối, cầu nguyện: Hội Thánh kêu gọi mọi người quay về với Chúa, thanh tẩy tâm hồn, từ bỏ các tật xấu, hy sinh hãm mình và làm việc bác ái.

 

- Mùa Chay cũng là thời gian huấn luyện đức tin của các Ki-tô hữu cho thêm vững mạnh, và sâu xa hơn khi nhớ lại Bí tích Rửa Tội đã lãnh nhận.

 

- Mùa Chay còn là mùa chuẩn bị cho anh chị em dự tòng đón nhận sự sống thiêng liêng nhờ việc sống tinh thần của Bí tích Rửa Tội.

 

Bốn phương thế Hội Thánh quen dùng trong Mùa Chay là những phương thế nào ?

 

Bốn phương thế Hội Thánh quen dùng trong Mùa Chay là: sám hối, ăn chay hãm mình, cầu nguyện và làm các việc bác ái.

 

Sám hối là gì ?

 

Sám hối là can đảm và khiêm tốn nhìn nhận những lỗi lầm mình đã phạm.

 

Việc chay tịnh giúp con người những gì ?

 

Qua việc chay tịnh, con người nhìn nhận mình lệ thuộc Thiên Chúa, vì chính lúc không sử dụng lương thực Chúa ban, con người mới cảm nghiệm được tính cách bấp bênh của sức lực mình. Hơn nữa, ăn chay là muốn bày tỏ cùng Thiên Chúa rằng: Nếu không có Người, chúng ta không thể làm gì được; và qua việc thực lòng nhìn nhận tính cách hư vô của mình, con người khẩn cầu Chúa tha thứ.

 

Theo luật Hội Thánh, đến tuổi nào thì buộc phải giữ chay và kiêng thịt ?

 

Theo luật Hội Thánh, mọi người từ tuổi thành niên ( tức là 18 tuổi trọn. GL 97 ) cho đến khi bắt đầu 60 tuổi thì buộc phải giữ chay ( GL 1252 ). Còn luật kiêng thịt buộc những người từ 14 tuổi trọn trở lên.

 

Giáo Hội buộc ta phải giữ chay và kiêng thịt vào những ngày nào ?

 

Giáo Hội buộc ta phải giữ chay và kiêng thịt vào hai ngày thứ Tư lễ Tro và ngày thứ Sáu Tuần Thánh ( x. GL 1251 ). Việc chay tịnh của Hội Thánh vào hai ngày này nói lên ý muốn đền tội và từ bỏ tội lỗi và đó cũng là một sự chuẩn bị để mừng lễ Phục Sinh.

 

Phụng vụ ngày thứ Tư Lễ Tro gợi lên cho người tín hữu những gì ?

 

Phụng vụ ngày thứ Tư Lễ Tro gợi lên cho người tín hữu ý thức về thân phận thụ tạo tội lỗi của mình. Khi nhận tro rắc trên đầu, người tín hữu được nhắc nhớ: "hãy nhớ mình là tro bụi và sẽ trở về bụi tro".

 

Tại sao Chúa Nhật thứ VI Mùa Chay lại được gọi là Chúa Nhật Lễ Lá ?

 

Ngày lễ Chúa Nhật bắt đầu Tuần Thánh gọi là Chúa Nhật Lễ Lá, vì có cuộc kiệu lá để kỷ niệm việc Chúa Giê-su long trọng tiến vào thành thánh Giêrusalem để hoàn tất Mầu Nhiệm Vượt Qua của Người. Tục lệ này khởi đầu tại Giêrusalem vào cuối thế kỷ thứ IV.

 

Nghi thức làm phép lá và rước lá nhắc nhở chúng ta ý thức về điều gì ?

 

Nghi thức làm phép lá và rước lá nêu cao vương quyền của Ðức Ki-tô, đồng thời để giúp chúng ta sống lại cảnh tượng Chúa Ki-tô khải hoàn tiến vào Giêrusalem. Người muốn tỏ uy quyền và vinh quang của Người để chúng ta bền vững, tin tưởng và trung thành với Người.

 

Tuần Thánh là gì ? Trong tuần Thánh, Giáo Hội cử hành những cuộc tưởng niệm nào ?

 

Tuần Thánh là tuần lễ chủ yếu của năm Phụng vụ, bắt đầu từ Chúa Nhật Lễ Lá đến Chúa Nhật Phục Sinh. Trong Tuần Thánh, Giáo Hội cử hành cách đặc biệt hơn các biến cố trong những ngày cuối cùng của Chúa Giê-su, tức là cuộc khổ nạn, cái chết và sự Phục Sinh của Người. Trong tuần lễ này, Tam Nhật Vượt Qua là những ngày quan trọng nhất.

 

Hằng năm, người Do Thái mừng lễ Vượt Qua để làm gì ?

 

Hằng năm người Do Thái mừng lễ Vượt Qua để tưởng nhớ lại biến cố Vượt Qua Biển Ðỏ mà ngợi khen, cảm tạ Thiên Chúa đã yêu thương giải thoát họ khỏi cảnh nô lệ Ai Cập, và nhắc nhở họ phải sống xứng đáng là dân riêng của Chúa.

 

Hội Thánh cử hành Tam Nhật Vượt Qua với mục đích nào ?

 

Hội Thánh cử hành Tam Nhật Vượt Qua để cho ta thấy trước và sống trước những thực tại của ngày cánh chung, ngày mà Chúa Ki-tô sẽ tập hợp tất cả chúng ta lại trong Nước của Cha Người. Mầu nhiệm Thương Khó và Phục Sinh của Chúa Giê-su đã khơi mào và bảo đảm cho ta được hưởng ngày hồng phúc ấy. Hơn nữa, Hội Thánh dùng Tam Nhật Vượt Qua để đón nhận những con cái mới được sinh ra trong ân sủng, để giao hòa những hối nhân và canh tân đời sống những người đã được thanh tẩy.

 

Tam Nhật Vượt Qua có ý nghĩa gì đối với người Ki-tô hữu ?

 

Tham dự Tam Nhật Vượt Qua, người tín hữu được sống với Ðức Ki-tô trong bữa Tiệc Ly, theo Người lên Núi Sọ, bước vào chốn an nghỉ của Người và chiêm ngắm Người Phục Sinh vinh hiển.

 

Tại sao Tam Nhật Vượt Qua lại là trung tâm điểm của Phụng vụ Ki-tô giáo ?

 

Tam Nhật Vượt Qua là trung tâm điểm của Phụng vụ Ki-tô giáo, bởi vì tất cả nền Phụng vụ của Hội Thánh đều phát xuất từ mầu nhiệm Vượt Qua của Ðức Ki-tô: khổ nạn, chịu chết và phục sinh. Ngày Chúa Phục Sinh là ngày lễ Mẹ của mọi ngày Chúa Nhật trong năm. Bởi vì, Thánh Lễ nào cũng đều tưởng niệm và tái diễn công cuộc Vượt Qua của Ðức Ki-tô.

 

Trong ngày thứ Năm Tuần Thánh, Hội Thánh cử hành những nghi thức long trọng nào ?

 

Trong ngày thứ Năm Tuần Thánh, Hội Thánh cử hành hai nghi thức long trọng, đó là:

 

- Thánh Lễ Truyền Dầu: thánh lễ này được cử hành vào ban sáng do Ðức Giám Mục Giáo Phận chủ tế cùng với Linh Mục đoàn để làm phép dầu Bệnh Nhân, dầu Dự Tòng và để thánh hiến Dầu Thánh.

 

- Thánh lễ tưởng niệm bữa Tiệc Ly của Chúa Giê-su được cử hành ban chiều để nhắc nhớ việc Chúa Giê-su thiết lập Bí tích Thánh Thể. Thánh lễ này khai mạc Tam Nhật Vượt Qua.

 

Phụng vụ chiều thứ Năm Tuần Thánh, Giáo Hội tưởng niệm những biến cố gì ?

 

Phụng vụ chiều thứ Năm Tuần Thánh trước hết là tưởng niệm bữa Tiệc Ly của Chúa Giê-su, việc Ngài thiết lập Bí tích Thánh Thể và chức Linh Mục, cũng như nghi thức rửa chân, biểu tượng tình yêu phục vụ của Ðức Ki-tô.

 

Khi cử hành nghi thức rửa chân, Giáo Hội muốn nhắc nhở chúng ta điều gì ?

 

Chính vì yêu thương mà Chúa Giê-su đã hạ mình xuống rửa chân cho các môn đệ, như đầy tớ rửa chân cho chủ. Qua nghi thức này, Giáo Hội muốn nhắc nhở chúng ta phải noi gương Ðức Ki-tô trong tinh thần phục vụ: "Phục vụ vì yêu thương".

 

Kinh Thánh cho ta biết tâm trạng của Chúa Giê-su trong vườn Giệtximani thế nào ?

 

Trong vườn Ghết-sê-ma-ni Ðức Giê-su cảm thấy sợ sệt, buồn rầu và xao xuyến. Ngài đã xin Chúa Cha cho khỏi qua giờ đau khổ, khỏi phải uống chén đắng này. Tuy nhiên, dầu sợ hãi, Người cũng sẵn sàng chết, nếu đó là Thánh ý Chúa Cha: "nhưng xin đừng theo ý Con, mà xin theo ý Cha".

 

Chén đắng mà Chúa Giê-su xin Chúa Cha cho Ngài khỏi uống ám chỉ điều gì ?

 

Chén đắng ở đây ám chỉ những thử thách và những đau khổ mà Ðức Giê-su sắp phải chịu. Ðó chính là cuộc thương khó của Ngài.

 

Trọng tâm của việc cử hành chiều ngày Thứ Sáu Tuần Thánh là gì ? Tại sao ?

 

Trọng tâm của việc cử hành chiều Thứ Sáu Tuần Thánh là nghi thức suy tôn và kính thờ Thánh Giá, vì nhờ Thánh Giá mà ơn cứu độ được ban cho chúng ta.

 

Trên Thập Giá Ðức Giê-su đã nói những lời nào ?

 

Trên Thập Giá, Ðức Giê-su đã nói Bảy Lời mà Kinh Thánh cho ta biết:

 

- Lời thứ nhất: Ðức Giê-su cầu nguyện với Chúa Cha xin Người tha cho những kẻ làm khổ mình: "Lạy Cha xin tha cho họ, vì họ không biết việc họ làm" ( Lc 23,34 );

 

- Lời thứ hai: Ðức Giê-su chấp nhận lời xin của tên trộm bị đóng đanh cùng: "Tôi bảo thật anh, hôm nay anh sẽ được ở với Tôi trên Thiên Ðàng" ( Lc, 23,43 );

 

- Lời thứ ba: Ðức Giê-su trao gửi Thánh Gioan cho Ðức Mẹ: "Thưa Bà, đây là Con Bà" ( Ga 19,26 );

 

- Lời thứ bốn: Ðức Giê-su trao gửi Ðức Mẹ cho Thánh Gioan: "Ðây là Mẹ của anh" ( Ga 19,27 );

 

- Lời thứ năm: Ðức Giê-su than thở với Chúa Cha: "Lạy Thiên Chúa, lạy Thiên Chúa của Con, sao Ngài bỏ rơi Con!" ( Mt 27,46 );

 

- Lời thứ sáu: Ðức Giê-su phó thác linh hồn cho Chúa Cha: "Lạy Cha, Con xin phó thác linh hồn Con trong tay Cha" ( Lc 23,46 );

 

- Lời thứ bảy: Ðức Giê-su kêu khát và sau khi uống chút giấm chua, Ðức Giê-su nói: "Thế là mọi sự đã hoàn tất". Rồi Người tắt thở. ( Ga 19,30 ).

 

Khi chết trên Thập Giá, Ðức Ki-tô muốn nói với chúng ta điều gì ?

 

Ðức Ki-tô muốn nói rằng Thiên Chúa yêu thương chúng ta vô cùng: "Không có tình yêu nào lớn lao cho bằng tình yêu của người dám hy sinh mạng sống mình vì người mình yêu" ( Ga 15,13 ).

 

Tại sao gọi tình yêu của Thiên Chúa là tình yêu cứu chuộc ?

 

Chúng ta gọi tình yêu của Thiên Chúa là tình yêu cứu chuộc vì qua hy lễ của Ðức Ki-tô, tình yêu Thiên Chúa giải thoát loài người khỏi ách nô lệ tội lỗi và sự chết. ( Rm 5,8 ).

 

Khi chiêm ngắm Chúa Giê-su chết trên Thập Giá, chúng ta phải có những thái độ nào ?

 

Khi chiêm ngắm Chúa Giê-su chết trên Thập Gía, chúng ta hướng nhìn về Chúa với những tâm tình:

 

- Suy tôn: vì Chúa đã chiến thắng sự chết;

 

- Cảm phục: vì Chúa đã hy sinh chịu chết;

 

- Cảm mến: vì Chúa đã dùng cái chết để tỏ lòng yêu thương ta;

 

- Tri ân: vì Chúa đã chịu chết để chuộc tội cho ta;

 

- Ngưỡng mộ: vì Chúa muốn chúng ta noi theo Người: "Ai muốn theo Ta, thì hãy bỏ mình và vác thập giá mình mà theo";

 

Vì thế, chúng ta giục lòng ăn năn tội và quyết tâm sống mỗi ngày đẹp lòng Chúa hơn.

 

Ngày thứ Bảy Tuần Thánh, Giáo Hội muốn chúng ta làm gì ?

 

Ngày thứ Bảy Tuần Thánh, Giáo Hội mời gọi chúng ta cùng với Mẹ Maria cầu nguyện bên Mồ Chúa, cùng Người suy ngắm các đau khổ, cái chết và việc mai táng của Chúa Giê-su trong niềm hy vọng và tin tưởng.

 

Trên hình Thánh Giá ở cây nến Phục Sinh, Linh Mục ghim năm hạt hợp hương mang ý nghĩa gì ?

 

Trên hình Thánh Giá ở cây nến Phục Sinh, năm hạt hợp hương chính là biểu tuợng năm dấu đanh của Chúa Giê-su ( dấu đanh tay tả, dấu đanh tay hữu, dấu đanh chân tả, dấu đanh chân hữu và dấu đanh cạnh sườn của Chúa Giê-su ).

 

Dấu Thánh Giá mang ý nghĩa gì ?

 

Thánh Giá là dấu chỉ của sự cứu độ. Khi làm dấu thánh giá, chúng ta nhận biết mình thuộc về Chúa Ki-tô và bày tỏ niềm tin vào Chúa Ki-tô, Ðấng đã chết trên Thánh giá để cứu chuộc chúng ta.

Giáo Xứ Bùi-Phát, Giáo Phận Sàigòn

 

Mùa Chay: Hãy can đảm trở về

 

VietCatholic News (21/02/2004 )

 

Mahatma Gandhi có kể về cuộc đời ông như sau: Hồi tôi mười lăm tuổi, tôi mắc một tội rất xấu, là tội ăn trộm. Khi đó tôi mắc nợ người bạn một số tiền khá lớn, thế rồi tôi đã về lấy của cha tôi một vòng đeo tay bằng vàng để bán lấy số tiền trả nợ.

 

Nhưng sau đó tôi luôn luôn bị lương tâm cắt rứt, không cho tôi được giây phút bình an. Tôi không thể sống trong tình trạng này nữa. Tôi nhất quyết phải đến thú tội với cha tôi càng sớm càng tốt. Nhưng khi đến trước người, vì xấu hổ và sợ hãi nên tôi không thể thốt ra lời. Sau đó tôi liền nghĩ ra một cách thú tội bằng giấy mực. Tôi đã cầm tờ giấy đó đến trước mặt cha tôi, toàn thân tôi run rẩy và trao tờ giấy đó cho cha tôi. Ông đã đọc tờ thú lỗi của tôi, sau đó ông nhắm mắt lại trong giây lát và đã xé tờ giấy thành nhiều mảnh rồi nói với tôi: "Biết mình là điều rất tốt" và đến ôm chầm lấy tôi trong vòng tay tràn đầy yêu thương, tha thứ của người. Từ giây phút đó tôi hiểu và thương mến cha tôi hơn.

 

Lời Chúa trong tuần đầu mùa chay cũng nhắc nhở cho mỗi người chúng ta, là những con cái yêu thương của Ngài: "Anh em hãy sám hối và tin vào Tin Mừng." Sám hối ở đây theo ngôn sứ Giêrêmia là thay đổi hướng đi, thực tình quay về với Thiên Chúa của Giao ước và dấn bước vào một cuộc sống mới. Ðón nhận Tin Mừng và sống thực thi Tin Mừng của Thiên Chúa, Tin Mừng về việc Người can thiệp trong lịch sử nhân loại nhờ Ðức Giêsu, Ðấng Mê-si-a là Quân Vương được xức dầu tấn phong để cai trị muôn dân. Người là con một yêu dấu của Thiên Chúa được dâng hiến làm lễ vật trong hy lễ; Người là tôi trung của Thiên Chúa có nhiệm vụ rao giảng, thực hiện công việc giải thoát và cứu độ. Ðó là Tin Mừng mà Ðức Giêsu muốn loan truyền và kêu gọi chúng ta lấy đức tin mà đón nhận toàn diện thông điệp hôm nay Ngài công bố.

 

Ðể sống Tin mừng hôm nay, chúng ta hãy bắt chước thái độ của Gandhi, thực tình trở về với cha trong tâm tình thống hối ăn năn; bỏ đường xấu quay về chính lộ để xứng đáng lãnh nhận ơn cứu độ và lòng nhân từ của Thiên Chúa.

Sr. Margareta Maria Hiền

 

Sống Mùa Chay

 

VietCatholic News (21/02/2004 )

 

SỐNG MÙA CHAY

 

Muà Chay là mùa quan trọng nhất trong năm của người tín hữu Công Giáo, là thời điểm Giáo Hội muốn nhắc nhở mọi người thống hối để chuẩn bị cho cuộc tử nạn của Đức Kitô và sự Phục Sinh của Người.

 

Nguồn gốc của mùa Chay

 

Theo lịch sử, Mùa Chay Thánh gồm 40 ngày, bắt đầu từ ngày thứ Tư Lễ Tro cho đến ngày thứ Bảy Tuần Thánh, không tính các ngày Chủ Nhật, vì Chủ Nhật được coi là ngày cử hành việc Chúa sống lại. Tuy nhiên, ngày nay việc cử hành Mùa Chay cũng gồm 40 ngày, được tính từ Chúa Nhật thứ Nhất Muà Chay đến chiều thứ Năm Tuần Thánh, là lúc cử hành thánh lễ Tiệc Ly vào ban chiều, trong đó Chúa lập bí tích Thánh Thể, rửa chân cho 12 môn đệ và truyền lại giới răn mới.

 

Mùa Chay kéo dài 40 ngày, trước hết để nhớ lại 40 ngày Chúa Giêsu ăn chay và cầu nguyện nơi hoang địa, trước khi Người ra rao giảng.

 

Phúc Âm cuả ba thánh sử Matthew, Luca và Mátcô đều ghi lại biến cố Đức Kitô ăn chay và chịu qủy cám dỗ. Thánh Matthew đoạn 4 thuật lại: “Bấy giờ Đức Giêsu được Thần Khí dẫn vào hoang địa, để chịu qủy cám dỗ. Người ăn chay ròng rã bốn mươi đêm ngày, và ngay sau đó người thấy đói” (Mt. 4:1-2).

 

Phúc Âm Thánh Luca trình thuật cũng tương tự: “Đức Giêsu được đầy Thánh Thần, từ sông Giođan trở về. Suốt bốn mươi đêm ngày, Người được Thánh Thần dẫn đi trong hoang địa và chịu qủy cám dỗ. Trong những ngày ấy, Người không ăn gì cả, và khi hết thời gian đó, thì Người thấy đói.” (Lk 4:1-3).

 

Tin Mừng theo thánh Mátcô kể lại việc Người được ông Gioan làm phép rửa dưới sông Giođan, khi ra khỏi nước Người liền thấy các tầng trời xé ra, và thấy Thần Khí như hình chim bồ câu ngự xuống trên mình, và có tiếng từ trời phán, “Con là Con yêu dấu của Cha, Cha hài lòng về Con”. Sau đó, thánh Mátcô thuật lại việc Chúa bị cám dỗ trong sa mạc: “Thần Khí liền đẩy Người vào hoang địa. Người ở trong hoang địa bốn mươi ngày, chịu Satan cám dỗ, sống giữa loài dã thú, và có các thiên sứ hầu hạ Người” (Mc 1:12-13).

 

Các sách Phúc Âm nói rằng, vào cuối thời gian ăn chay, Satan đã ba lần tìm cách thử thách Chúa và Chúa đã xua đuổi một cách thành công các cuộc tấn công nầy.

 

Thời gian Muà Chay 40 ngày cũng để nhớ lại 40 đêm ngày ông Maisen cầu nguyện trên núi Sinai và được Chúa trao cho 10 điều răn (XH 24:18). “Maisen ở đó với Đức Chúa bốn mươi ngày bốn mươi đêm, không ăn không uống, và ông viết trên những bia các điều khoản của giao ước, tức là Mười Điều Răn” (XH 34:18).

 

Rồi 40 ngày còn để nhớ lại trật lụt Hồng Thủy kéo dài 40 ngày 40 đêm, cũng như cuộc hành trình 40 ngày trong sa mạc của Tiên Tri Êlia, lúc ông trốn khỏi cơn thịnh nộ của Hoàng Hậu I-de-ven, để đi xa và rồi Chúa trao cho ông sứ vụ mới (1Vua: 19).

 

Ý nghĩa của Mùa Chay

 

Đức cha Ngô Quang Kiệt, trong bài chia sẻ Mùa Chay tháng 2 năm 2002, đã nói: “Nhiều người thắc mắc: Ăn chay là gì? Phải chăng là để dằn vặt thân xác, hành khổ con người cho Chúa vui lòng? “ Ngài nói, “Hỏi như vậy là chưa hiểu đạo, chưa hiểu hết ý nghĩa của việc ăn chay. Chúa đâu phải độc ác, bệnh hoạn, vui lòng khi thấy con người chịu khốn khổ.” Ngài nói, “Ăn chay một phần để hy sinh đền tội, nhưng mục đích chính của việc ăn chay là thao luyện tâm hồn chống lại qủi dữ”.

 

Mùa Chay của Giáo Hội Công Giáo là thời kỳ chuẩn bị trong cầu nguyện, sám hối, suy tư, trong thanh vắng bằng những hy sinh, những công việc bác ái, đặc biệt đối với các anh chị em nghèo khổ, để chúng ta có thể được tái sinh thiêng liêng trong ngày Chúa Phục Sinh.

 

Trong Sứ Điệp Mùa Chay 2002, Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô Đệ II đã nói, “Mùa Chay là thời gian quan phòng nhằm hoán cải, giúp chúng ta chiêm ngưỡng tình yêu lạ lùng của Đức Kitô.” Ngài đã chọn một câu Phúc Âm của thánh Matthew làm chủ đề cho sứ điệp của ngài: “Anh em đã được ban tặng nhưng không, anh em cũng hãy cho không như vậy” (Mt 10:8).

 

Gương mẫu của Đức Kitô khi Người tự hiến trên Đồi Canvê đặc biệt trong Mùa Chay giúp chúng ta hiểu rằng cuộc sống chúng ta được Người cứu chuộc. Nhờ Chúa Thánh Thần, Người canh tân cuộc sống, làm cho chúng ta tham dự vào sự sống của Thiên Chúa và cảm nếm tình yêu của Người. Đây là một qùa tặng tuyệt vời mà là Kitô hữu, chúng ta phải vui mừng loan báo.

 

Thực hành sống Mùa Chay

 

Mùa Chay, theo truyền thống của Giáo Hội Công Giáo, là để thực thi ba điều căn bản:

 

Ăn chay

Cầu nguyện, và

Làm việc bác ái

 

 

Ăn Chay:

 

Xã hội ngày nay là một xã hội tiêu thụ. Nó khuyến khích người ta tiêu xài, mua sắm càng nhiều càng tốt. Nhưng tiêu thụ nhiều làm con người dễ ra hư hỏng. Những người nghiện ngập rượu chè, xì ke, bài bạc cho chúng ta thấy rõ điều đó. Họ dùng qúa liều và đâm ghiền.

 

Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô Đệ II nói: “Ăn chay tốt cho thân xác, tốt cho linh hồn”.

 

Ăn chay là một sự tự chế, thao luyện tâm hồn để chống lại qủy dữ. Sách Lễ Rôma, trong lời nguyện nhập lễ, đọc rằng: “Lạy Chúa, ngày hôm nay, tất cả chúng con ăn chay, hãm mình, để bước vào mùa tập luyện chiến đấu thiêng liêng. Xin giúp chúng con hằng biết sống khắc khổ, để ngày thêm vững mạnh mà chiến thắng ác thần”.

 

Và lời Tiền Tụng Mùa Chay cũng đọc rằng: “Lạy Cha, Cha muốn chúng con dùng việc hãm mình để cảm tạ Cha. Nhờ đó, chúng con là những người tội lỗi, giảm bớt được tính kiêu căng và khi giúp nuôi dưỡng những người thiếu thốn, chúng con biết noi theo lòng nhân hậu của Cha”.

 

Vậy mục tiêu của việc ăn chay kiêng thịt là để rèn luyện ý chí, nhờ khắc khổ trong việc ăn uống và tiêu xài, để chúng ta đương đầu và thắng các chước cám dỗ, đồng thời có thêm tiền bạc để giúp đỡ người nghèo.

 

Nhưng thái độ ăn chay của chúng ta phải thế nào? Chúa nói: “Khi ăn chay, anh em chớ làm bộ rầu rĩ như bọn đạo đức gỉa: Chúng làm cho ra vẻ thiểu não, để thiên hạ thấy là chúng ăn chay. Thầy bảo thật anh em, chúng đã được phần thưởng rồi. Còn anh, khi ăn chay, nên rửa mặt cho sạch, chải đầu cho thơm, để không ai thấy là anh ăn chay, ngoại trừ Cha của anh, Đấng hiện diện nơi kín đáo. Và Cha của anh, Đấng thấu suốt những gì kín đáo, sẽ trả lại cho anh” (Mt. 6:16-18).

 

Mùa chay nầy, Chúa kêu gọi chúng ta trở về với Chúa. Muốn trở về với Chúa, chúng ta phải chiến đấu chống lại ma qủy, tập luyện bỏ ý riêng mình và tìm vâng phục ý Ngài. Thiên Chuá là Đấng giầu lòng thương, nếu biết trông cậy và phó thác, chúng ta sẽ được Ngài ban cho sức mạnh cần thiết để đủ sức chống lại các chước cám dỗ.

 

Cầu nguyện:

 

Mùa Chay kêu gọi chúng ta cầu nguyện.

 

Nhưng chúng ta cầu nguyện thế nào? Thánh Gioan Kim Khẩu nói, “Dù ở ngoài chợ hay đi dạo một mình, chúng ta vẫn có thể cầu nguyện và cầu nguyện sốt sắng. Ngồi trong tiệm của bạn, hoặc khi mua bán, cả khi làm bếp, bạn vẫn có thể cầu nguyện”.

 

Trong Mùa Chay, chúng ta cần cố gắng hơn trong việc đọc Phúc Âm, Sách Thánh, các sách thao luyện tâm hồn, tham dự các lễ nghi phụng tự, lãnh nhận Phép Thánh Thể và các phép bí tích khác, hoặc ngắm nguyện, đọc kinh, hát ca Thánh Vịnh.

 

Cầu nguyện cũng có nghĩa là tham dự vào phụng vu. Qua việc tham dự các lễ nghi phụng vụ, người tín hữu được tháp nhập một cách sâu sắc vào nhiệm thể Chúa Kitô.

 

 

 

Việc ăn chay chúng ta có thể lâu lâu mới làm một lần, nhưng cầu nguyện là một việc mà người tín hữu phải làm thường xuyên. Cầu nguyện, có thể là những lời nguyện tắt, nhưng ít nhất một ngày phải vài ba lần. Cầu nguyện giúp chúng ta khiêm tốn hơn và tâm hồn bình an hơn.

 

Làm việc bác ái:

 

Muà Chay là thời giờ khám phá ra các nhu cầu của anh chị em mình và nhắc nhở chúng ta tìm mọi cách để gặp gỡ và giúp đỡ những người đau khổ thể xác cũng như tinh thần.

 

Trong Sứ Điệp Mùa Chay năm 2002, Đức Giáo Hoàng trích dẫn câu hỏi của thánh Phaolô trong thư thứ Nhất gửi Corintô: “Bạn có gì mà bạn đã không nhận lãnh?” (1Cor 4:7). Và Đức Thánh Cha tiếp, “Một khi đã nhìn nhận như thế thì bạn phải yêu mến anh chị em và hy sinh cho họ.”

 

Vào ngày Thứ Năm Tuần Thánh, Giáo Hội cử hành Lễ Chúa Rửa Chân cho các môn đệ và tường thuật lại việc Chúa Giêsu truyền một giới răn mới được gọi là luật Yêu Thương: “Thầy truyền cho anh em một điều răn mới là anh em hãy yêu thương nhau; anh em hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương anh em. Mọi người sẽ nhận biết anh em là môn đệ của Thầy ở điểm nầy: là anh em có lòng yêu thương nhau” (Jn 13: 34-35).

 

Thế nhưng, yêu thương như thế nào? Đức Khổng Tử dạy chúng ta: “Kỷ sở bất dục, vật thi ư nhân”, nghĩa là điều gì chúng ta không muốn người ta làm cho mình thì mình đừng làm cho người ta. Chuá Giêsu dạy chúng ta một cách tích cực hơn. Ngài nói: “Vậy tất cả những gì anh em muốn người ta làm cho mình thì chính anh em hãy làm cho người ta” (Mt. 7:12).

 

Mẹ Teresa thành Calculta nói, “Hãy cho cho đến khi bạn thấy đau mới là cử chỉ bác ái”. Đây là mức lý tưởng, nhưng thiết nghĩ nếu mình có tiền, “Ai xin thì cứ cho”. Và chia sớt cho mỗi nơi một chút, đừng dồn vào một chỗ.

 

Trong Muà Chay, người tín hữu cần đặc biệt làm việc bác ái qua các hành động cụ thể. Giúp đỡ tiền bạc đã đành, nhưng chúng ta còn có thể làm các việc khác như hy sinh thì giờ, sức lực cho các việc công ích, tha thứ cho kẻ làm mất lòng mình, bớt nóng giận, làm hoà với người mình có chuyện bất hòa… Trong thực tế, làm các hành vi nầy nhiều khi còn khó khăn hơn là hy sinh tiền bạc.

 

Mùa Chay đòi hỏi chúng ta thống hối để kết hiệp một cách mật thiết vào cuộc tử nạn của Chúa Kitô, để cùng hưởng sự Phục Sinh vinh hiển của Người. Vì vậy, ăn chay hãm mình, cầu nguyện và làm việc bác ái là thực hành sống những điều cốt yếu của tinh thần Mùa Chay.

Trần Hiếu

 

40 bài tĩnh tâm Mùa Chay dành cho giới trẻ:

40 bài tĩnh tâm Mùa Chay dành cho giới trẻ là tuyển tập 40 bài Suy Niệm trong Mùa Chay dịch từ tạp chí The Word Among Us do Catholic News Service (HĐGM Hoa Kỳ) chủ xướng. Tạp chí này chuyên đăng những bài thuyết giảng của các linh mục và Giám Mục Hoa Kỳ. Bạn có thể mua dài hạn tạp chí này tại địa chỉ http://www.wau.org. Tại địa chỉ này cũng có những bài có thể download xuống.

VietCatholic hy vọng loạt bài tĩnh tâm 40 ngày sẽ mang lại những ơn ích thiêng liêng cho chúng ta trong hành trình Mùa Chay Thánh 2002 này. Bản dịch Việt Ngữ : J.B. Đặng Minh An

Bài 1 : Hãy trở về với ta
với tất cả tâm hồn của ngươi (Joel 2:12)

Lại một lần nữa, chúng ta bắt đầu Mùa Chay, một thời điểm Thiên Chúa dang rộng đôi tay chào đón ta trở về với Ngài. Trong mùa đầy hồng ân này, Giáo Hội tăng cường nhiều hoạt động mục vụ để mời gọi ta hãy lắng đọng tâm hồn, và để Thánh Thần Chúa hoạt động thanh tẩy tâm hồn ta, khi ta thống hối và quay về với Cha.

Tội lỗi làm ta buồn phiền và xấu hổ không chỉ vì chúng gây nên những đau khổ nhân sinh nhưng vì chúng còn tách biệt ta khỏi Thiên Chúa. Đó là lý do tại sao sự thống hối là quan trọng. Sự thống hối thực sự không chỉ dừng lại ở cảm giác hối tiếc vì tội ta, nhưng còn phải bao gồm nhận thức rằng tội lỗi xúc phạm đến sự thánh thiện của Thiên Chúa; và một quyết định khẩn cầu Thiên Chúa giúp ta thay đổi hành vi của mình. Khi chúng ta khiêm nhường hạ mình xuống, chúng ta để cho Thánh Thần Chúa ban cho ta một quả tim mới và một tinh thần đúng đắn.

Thiên Chúa không muốn dừng lại ở việc tha thứ tội lỗi ta. Ngài còn muốn đổ đầy trên ta ơn lành của Ngài. Ngài muốn cả sự tha thứ lẫn sự biến đổi ta. Thật là vui mừng hơn nhiều trong khi nhận ra Cha trên trời yêu thương ta và đồng thời lại thấy quyền năng của Ngài đang thay đổi tâm hồn ta.

Trong ngày đầy hồng ân và thương xót này, chúng ta hãy thử suy niệm về mức độ kỳ vọng của chúng ta. Hôm nay đây, bạn hãy chọn lấy chỉ một điều nào đó bạn nghĩ rằng Chúa muốn chữa lành cho bạn. Đó có thể là sự nóng giận, sự mất kiên nhẫn, sự thờ ơ cầu nguyện, lòng tham lam, hay một điều gì đó. Hãy lặng thinh để nghe Thánh Thần Chúa chỉ cho bạn nên bắt đầu từ đâu. Sau đó, hãy xin Thánh Thần Chúa giúp bạn đứng vững trong quyết tâm thay đổi điều này.

Mỗi ngày trong Mùa Chay này, bạn hãy nhắc nhở mình rằng bạn là một tạo vật mới trong Chúa Giêsu, và bạn không bao giờ còn bị ràng buộc bởi hành vi đó nữa. Hãy tin rằng khi bạn làm phần việc của bạn, Thiên Chúa sẽ tuôn đổ hồng ân và quyền năng trên bạn để giúp bạn chọn Ngài chứ không phải là tội lỗi. Trong khi Mùa Chay tiếp tục, bạn sẽ thấy mình thay đổi ngày càng nhiều nhờ hồng ân của Đức Kitô.

"Ly Chúa Giêsu, con cám ơn Chúa cho con nim vui được tha th. Con hướng v Ngài vi tt c tâm hn con và đặt hy vng ca con nơi hng ân biến đổi ca Chúa".

Bài 2 . Phúc cho ai ao ước sống trong lề luật Chúa (Tv 1:1,2)

Có khi nào bạn nghĩ rằng theo Chúa và tuân theo những huấn thị của Ngài là một cuộc chiến đấu đi ngược dốc mà chẳng được gì ? Nếu có như vậy, bạn cũng không phải cô độc đâu. Ngay cả vịnh gia trong Thánh Vịnh 73 cũng đã có lần nghĩ như vậy. Vịnh gia thú nhận đã có lúc nghĩ rằng tất cả những cố gắng của ông để vô tội và thanh khiết là vô vọng (Tv 73:13). Tuy nhiên, ông giữ được đức tin, gặp gỡ Chúa trong lời cầu nguyện và cuối cùng nói được rằng "Ngài nâng đỡ tay phải tôi. Ngài dẫn tôi đi trong đường lối Ngài để rồi dẫn tôi đến vinh quang" (Tv 73:23-24).

Hoa trái của sự bền đỗ trong lời cầu nguyện và trong sự vâng phục thánh ý Chúa là một cuộc sống được thăng hoa với Đức Giêsu Kitô - không phải chỉ khi chúng ta chết đi, nhưng ngay lúc này, tại dương thế này. Thiên Chúa muốn cho ta nhiều hơn những gì ta có thể xin hay tưởng tượng ra. Ngài muốn ban ơn lành cho ta mọi ngày trong đời ta. Thật đúng là ta gieo cái gì thì gặt được cái đó. Nếu ta gieo để làm vui lòng thân xác, chúng ta sẽ gặt lấy hủy diệt. Nhưng nếu ta gieo để vui lòng Thần Khí, chúng ta gặt được sự sống muôn đời (Gal 6:7-10).

Đó là lý do ta sao những lựa chọn hằng ngày để theo Chúa là quan trọng. Khi chúng ta gieo để vui lòng Thần Khí bằng cách lắng nghe tiếng Ngài trong suốt cả ngày; tuân theo huấn lệnh của Ngài; và nuôi dưỡng đức tin ta qua lời cầu nguyện, Kinh Thánh, và các phép bí tích, chúng ta sẽ ngập tràn trong ân sủng Ngài tuôn đổ xuống tâm hồn ta. Chúng ta sẽ cảm nhận được sự thân mật với Ngài, và sự hướng dẫn trong các quyết định của ta. Chúng ta sẽ có một tâm hồn hân hoan, hoàn toàn tự do không vướng bận đến những kỷ niệm buồn trong ký ức, không sợ hãi, và khả năng phục vụ người khác và còn nhiều hơn thế nữa.

Chúng ta còn đợi gì ? Tất cả điều cần phải làm là quyết định theo Chúa mỗi ngày. Hồng ân của Ngài đã sẵn đó. Chúng ta hãy tìm kiếm sự kết hiệp mật thiết hơn với Ngài và sống sao cho ta mở lòng ra trước những ân sủng của Ngài để ta vui mừng được sống trong lề luật của Ngài.

"Lạy Chúa Thánh Thần, xin là Đấng Cố Vấn cho con hôm nay. Xin cho con biết cảnh giác trước những lựa chọn hàng ngày mà con phải quyết định sao cho con luôn chọn Ngài. Con tán tụng vì cuộc sống quá phong phú mà Ngài ban cho con".

Bài 3 : Giữ chay trong hân hoan và hy vọng

Ấn tượng của bạn khi giữ chay là gì ? Có phải đó là một cách để than khóc cho tội lỗi của bạn không ? Bạn có thấy đó là một nghĩa vụ tôn giáo - một điều mà hễ là người Công Giáo thì phải thực thi không ?

Đức Giêsu muốn việc giữ chay của các môn đệ Ngài khác hoàn toàn với những ấn tượng trên. Thực ra, thay vì là một dịp để than khóc, việc giữ chay là một dịp để vui mừng hớn hở và mong đợi.

Đức Giêsu nói rằng khi ngài, là tân lang trong tiệc cưới, được cất đi, các khách dự tiệc cưới, là các môn đệ ngài, hãy than khóc. Nhưng, Đức Giêsu cũng đã hứa với chúng ta "Và đây, Thầy ở cùng anh em mọi ngày cho đến tận thế".(Mt 28:20). Ngài ở cùng ta bằng nhiều cách: trong Thánh Thần của Ngài, trong Kinh Thánh, trong bí tích Thánh Thể, trong Giáo Hội, trong các vị mục tử, và giữa chúng ta khi chúng ta tập hợp nhau cầu nguyện trong danh Ngài. Trong rất nhiều cách thực sự và đụng chạm được, "tân lang" đang ở với chúng ta! Do đó, người Kitô hữu không nên giữ chay như một dấu hiệu than khóc.

Đối với con cái Thiên Chúa- tất cả những ai thấu hiểu sự hiện diện của Chúa trong tâm hồn họ - giữ chay liên hệ mật thiết với cầu nguyện. Khi chúng ta từ bỏ chính mình cách này cách khác, chúng ta tìm thấy sự cần thiết phải hành động vì các nhu cầu của người khác. Chúng ta nên một hơn, được tự do hơn khỏi những ràng buộc của thế gian, và gần gũi hơn với sự đói khát Đức Giêsu trong lòng mọi người. Khi được liên kết với lời cầu nguyện, giữ chay giúp ta chiến thắng tội lỗi và giữ chúng ta chú tâm vào những gì là thiết yếu. Chay tịnh giúp ta xua đi những chia trí để ta nghe tiếng Chúa rõ ràng hơn. Chay tịnh cũng giúp ta đánh giá cao những gì ta có và cầu nguyện thêm cho những người thiếu may mắn hơn. Xa hơn nữa, chay tịnh và lời cầu nguyện dẫn chúng ta đến những nỗ lực cho công lý, hòa bình và lòng thương xót trên thế giới này.

Có thể nào giữ chay một cách hân hoan không ? Được chứ. Đúng ra, giữ chay mà đừng thiểu não có lẽ chính là điều mà Đức Giêsu đề cập trong Bài Giảng Trên Núi "Còn khi ăn chay, anh em chớ làm bộ rầu rĩ như bọn đạo đức giả: chúng làm cho ra vẻ thiểu não, để thiên hạ thấy là chúng ăn chay. Thầy bảo thật anh em, chúng đã được phần thưởng rồi. Còn anh, khi ăn chay, nên rửa mặt cho sạch, chải đầu cho thơm, để không ai thấy là anh ăn chay ngoại trừ Cha của anh, Đấng hiện diện nơi kín đáo. Và Cha của anh, Đấng thấu suốt những gì kín đáo, sẽ trả công cho anh." (Mt 6:16-18).

Mùa Chay này sao bạn không thử giữ chay "đầy hân hoan" ? Hãy chọn một hình thức giữ chay hợp lý và cầu xin Thánh Thần hướng dẫn những ý cầu nguyện của bạn. Và luôn luôn nhớ rằng Đức Giêsu, tân lang, đang ở giữa chúng ta.

"Lạy Chúa Giêsu, xin giúp con giữ chay cách hân hoan trong Mùa Chay này. Xin cho việc giữ chay và lời cầu nguyện của con đem lại nhiều điều tốt đẹp cho những người chung quanh con và cho thế giới".  

Bài 4 : Đứng xét đoán ai

(14/02/2002). Mọi người đều có thể hoán cải để quay về với đường lối Chúa. Ngay cả những kẻ tội lỗi cứng lòng nhất cũng có thể được biến đổi bởi tình yêu thương và sự tử tế. Đó là bài học trong câu chuyện Đức Giêsu gặp gỡ người thu thuế tên Lê-vi, cùng ăn uống với ông và những bạn bè tội lỗi của ông. Mọi ngày trong đời Ngài, Đức Giêsu đã minh họa lời khuyên nhủ của tiên tri Isaia: "đừng chỉ trỏ xét đoán" (Isaia 58:9). Ngài khước từ lên án bất cứ ai. Thay vào đó, ngài chấp nhận họ và tìm phương chữa lành cho tâm hồn họ.

Đức Giêsu không chùn bước trước tội lỗi của ông Lê-vi. Điều quan tâm chủ yếu của Ngài là liệu rằng người này có ăn năn, từ bỏ tội lỗi, và nhận lấy một quả tim mới không. Đức Giêsu không tránh xa những kẻ "ô uế" hay tội lỗi. Ngài không bao giờ sợ hãi sự tinh tuyền của Ngài bị đe dọa bởi họ. Ngài cũng không tìm cách chứng tỏ mình lành thánh hơn bằng cách vạch ra lỗi lầm của kẻ khác. Thay vào đó, Ngài xô ngã những bức tường chia cách để đem sự tinh tuyền của Phúc Âm đến cho mọi người Ngài tiếp xúc.

Quá thường, khi chúng ta đối diện với hành vi tội lỗi của người khác, đáp trả của chúng ta là rút lui. Biết bao nhiêu người trong chúng ta xa lánh bạn bè hay người thân để có thể "lên án" họ, hay tránh mời những kẻ quen biết vào nhà để những hành vi "xấu xa" của họ khỏi làm phiền ta. Nhiều người trong chúng ta vẫn ôm giận trong lòng và từ chối hợp tác với những kẻ đã có lần xúc phạm đến ta. Nhưng có bao giờ chúng ta tự hỏi liệu những cách thế đó có mang lại sự hoán cải cho những người ta coi là tội lỗi không?

Đức Giêsu chỉ cho ta cách để đến với tha nhân. Mặc dù Ngài không bao giờ chấp nhận một thứ chân lý nhượng bộ cũng chẳng hùa theo người ta mà lơ là luật Thiên Chúa, Ngài đối xử với mọi người đầy thương xót và tôn trọng, bất kể tội lỗi của họ.

Bn hãy hc cách thc đến vi tha nhân và yêu thương h như Đức Giêsu đã làm. Bn đừng xét đoán h ! Duy mt điu đáng làm là hãy yêu thương h vi tình yêu ca Đức Kitô và bn s kinh ngc trước nhng h qu ln lao mà bn có th thc hin. Qua tình yêu và s trung tín vi Thiên Chúa mà mi người có th nên công chính.

"Lạy Chúa Thánh Linh, xin cho con quả tim của Chúa Giêsu trong Mùa Chay này. Xin hãy để một tình yêu mạnh mẽ và đầy xót thương hướng dẫn con khi con đến với tha nhân, đặc biệt với những ai đang quay mặt đi với Chúa".

Bài 5
Bất cứ ai kêu cầu danh Đức Chúa sẽ được cứu thoát (Ro 10:13)

Thật là những lời khích lệ mà Thánh Kinh nói với chúng ta ! Trong buổi đầu hành trình Mùa Chay này, chúng ta hãy nhớ ai đã dẫn dắt dân Do Thái ra khỏi Biển Đỏ, và đưa họ về miền đất hứa; ai đã giữ chay trong 40 ngày, chịu mọi thứ cám dỗ của ma quỷ và cuối cùng đã chiến thắng vẻ vang; ai đã hứa ở cùng ta trong hoạn nạn và cứu giúp ta khi ta kêu cầu danh Ngài ?

Câu trả lời cho tất cả các câu hỏi trên là chính Thiên Chúa. Ngài là Đấng đã cứu chúng ta một lần và mãi mãi khỏi tội lỗi và án chết muôn đời. Ngài cũng là Đấng mong được cứu ta hàng ngày khi ta kêu cầu danh Ngài. Cứu ta khỏi điều gì? Khỏi những cám dỗ ta đối diện hàng ngày: những ý tưởng kiêu căng và ngạo mạn, những trào lưu muốn độc lập khỏi Thiên Chúa, sợ hãi và cô độc, cảm giác muốn xa lánh Chúa và đủ các thứ cám dỗ khác.

Khi ta kêu cầu danh Chúa, ta kêu cầu đến mọi điều mà danh này tiêu biểu trên trời và dưới thế. Ta kêu cầu Vua của các vị Vua. Ta kêu cầu Con của Đức Mẹ. Ta kêu cầu Đấng mà sự chết và sự sống lại đã giải thoát tất cả ai tin vào Ngài và ban cho họ quyền năng chiến thắng kẻ thù. Satan sợ danh này đến mức nào| Chính danh này đã đánh bại nó nơi đồi Calvê.

Hãy bền đỗ tới cùng và đừng đánh mất đi niềm hy vọng. Hãy kêu cầu danh Đức Giêsu. Khi bạn kêu cầu danh Ngài, Ngài sẽ giúp bạn thắng trận. Ngài sẽ dẫn bạn vượt qua những ràng buộc của tội lỗi và đưa bạn đến vinh quang tự do và phẩm giá được thừa tự trong hàng con cái Chúa. Càng kêu cầu danh Ngài, càng dễ sống trong huấn lệnh Ngài.

Bạn hãy kêu cầu danh Chúa và đợi Ngài đến với bạn - ngay cả trong những cách thế bất ngờ nhất. Bạn nên nhớ điều này: rất thường là chính trong lúc chúng ta kêu cầu danh Ngài và chờ đợi Ngài, chúng ta cảm thấy sự hiện diện của Ngài sâu sắc nhất và ơn phù trợ của Ngài mạnh mẽ nhất.

"Lạy Đức Giêsu, con dâng Chúa trái tim con. Hãy dạy con biết kết hiệp mật thiết hơn với Chúa và phó thác vào quyền năng của danh Ngài".

Bài 6 : Xin cho Lời con kêu được Chúa nhận

Chúng ta thật dễ chia trí biết chừng nào trong khi cầu nguyện. Bên ngoài, môi ta mấp máy nhưng lòng trí ta lang thang đó đây. Làm sao ta cảm nhận được sự hiện diện của Thiên Chúa. Trong Thánh Vịnh 19, vịnh gia thốt lên "Lạy Chúa, xin cho lời trên miệng tôi và suy niệm trong lòng tôi được chấp nhận nơi thiên nhan Chúa" (Thánh vịnh 19:14). Ông muốn cảm nhận nhiều hơn những lời phát ra trên môi miệng. Ông muốn thấm nhập vào thái độ bên trong tâm hồn và mong mỏi những ý nghĩ sâu thẳm trong lòng làm đẹp lòng Chúa.

Cầu nguyện là một cuộc đối thoại với Thiên Chúa, Đấng yêu thương ta nhiều hơn bất cứ ai có thể yêu ta - ngay cả chính ta cũng không yêu ta bằng Ngài yêu ta. Thiên Chúa còn muốn nhiều hơn một cuộc đối thoại siêu nhiên với ta nữa. Ngài muốn chia sẻ những cảm nhận thâm sâu của Ngài với ta cũng như muốn ta chia sẻ những cảm nhận thẳm sâu trong lòng với Ngài. Đây là cuộc đối thoại giữa tâm hồn và tâm hồn để Thiên Chúa chữa lành cho ta và để ta càng nên giống Ngài.

Thiên Chúa đánh giá cao sự thành thật. Chúng ta có thể mở lòng ra với Ngài trong lời cầu nguyện và nhớ rằng Ngài yêu thương ta vô điều kiện. Ngài biết những vui buồn trong ngày đời ta và những lầm lỗi của ta nhưng vẫn yêu thương ta. Ngài yêu ta đến nỗi ban tặng cho ta chính Người Con Duy Nhất của Ngài.

Hãy mở rộng lòng trí ta ra với Thiên Chúa trong Mùa Chay này. Tất cả điều Chúa muốn nơi ta là một quả tim khiêm nhường và thống hối, sẵn lòng hoán cải nhờ vào hồng ân của Ngài. Hãy để Ngài làm tinh tuyền tâm hồn ta.

"Lạy Chúa, Ngài là sức mạnh và ơn cứu độ của con. Xin tẩy sạch con để lời con cầu và tâm hồn con được Chúa chấp nhận. Chúa gọi con nên thánh thiện như Ngài. Xin kéo con đến bên Chúa và biến đổi con dưới ánh sáng của tôn nhan Ngài"

 

 

 

 

Bài 7 : Xin tha nợ chúng con

(17/02/2002). Kinh Lạy Cha, đến từ chính Đức Giêsu, không chỉ là một bản văn hướng dẫn cách thức chúng ta cầu nguyện nhưng đó còn chính là những lời mà chính Đức Giêsu đã cầu nguyện. Và còn đáng ngạc nhiên hơn nữa khi Đức Giêsu, đấng không biết đến tội, đã khiêm nhường trong lời cầu "Xin tha tội cho chúng con". Ngài còn đi xa hơn nữa khi thí mạng sống mình làm bảo chứng sự tha thứ mà Ngài đã cầu nguyện.

Nhưng kinh Lạy Cha còn nhiều hơn là lời hứa về lòng thương xót của Chúa. Đức Giêsu đã chết không phải chỉ để chuộc tội ta mà còn để ban tặng ta một quả tim mới để khi ta trỗi dậy với Ngài, ta cũng có thể tha thứ như Ngài đã tha thứ. Lời hứa của Thánh Kinh là một khi ta để Đức Giêsu sống trong ta bằng cách từ bỏ con người cũ của ta, ta cũng trở nên đầy lòng thương xót hơn.

Tha thứ cho những ai làm thương tổn ta không phải là một chuyện dễ dàng. Trong nhiều trường hợp, điều đó dường như không thể được. Chúng ta cần đến ơn Chúa để chiêm niệm về khả năng tha thứ và luôn nhớ rằng tha thứ là con đường Chúa đã vạch cho ta đi. Không phải là Thánh Kinh đã kêu gọi ta phải cầu nguyện và chúc lành cho kẻ bắt bớ ta đó sao (Ro 12:14)? Không phải Đức Giêsu đã nhắc ta phải yêu thương kẻ thù đó sao (Mt 5:44 )?

Tha thứ không có nghĩa là mất cảnh giác nhưng là từ bỏ sự lên án và dẫn đưa con người đến với lòng thương xót của Chúa. Trong khi đầy lòng thương xót, Đức Giêsu không chút mơ hồ về tình trạng trong con tim nhân loại. Đức Giêsu không ngạc nhiên bởi tội ta. Nhưng dù Ngài thấy lòng ta tối tăm đến cỡ nào, Ngài cũng không bỏ cuộc hay nghi ngờ khả năng chúng ta quay lại với Ngài. Ngài luôn thấy tiềm năng của những kẻ đã được Ngài tha thứ sẽ ăn năn và trỗi dậy trong vinh quang với Ngài. Chúng ta có nghĩ về mọi người quanh ta như thế không?

"Lạy Đức Giêsu, Chúa đã chọn để ôm vào lòng những đau khổ và tội lỗi của chúng con, để chúng con có thể trỗi dậy với Ngài. Xin dạy con biết xót thương như Chúa đầy lòng thương xót"

Bài 8 :  Không Thấy Dấu Lạ Nào, Ngoài Dấu Lạ Ong Giôna

"Thế hệ này là một thế hệ gian ác; chúng xin dấu lạ. Nhưng chúng sẽ không được thấy dấu lạ nào, ngoài dấu lạ ông Giôna."(Lk 11:29) . Dấu lạ ông Giôna là gì ? Thưa, dấu lạ thực sự trong chuyện ông Giôna là cách thức Thiên Chúa đáp trả lại sự thống hối của dân thành Ninivê.

Ông Giôna đã bất tuân lệnh Thiên Chúa và cố chạy trốn Ngài. Trong bụng một con cá khổng lồ, khi biết tính mạng mình trong cơn hiểm nghèo, ông đã than khóc trong niềm thống hối và Thiên Chúa đã giải thoát ông. Cũng vậy, khi dân thành Ninivê ăn năn, họ cũng được thoát khỏi sự phán xét của Thiên Chúa. Dấu lạ thực sự ở đây là sự thống hối đã đem lại lòng thương xót. Lòng thương xót này là trung tâm điểm của mọi dấu lạ mà Đức Giêsu đã thực hiện, trong mỗi việc chữa lành, giải thoát hay hóa bánh ra nhiều. Đặc biệt nhất, lòng thương xót này là trung tâm của dấu lạ lớn nhất trên mọi dấu lạ - cái chết của Đức Giêsu trên thánh giá.

Trong mọi thời đại, Thiên Chúa luôn muốn có một quan hệ với dân Ngài. Tình yêu của Ngài bền vững muôn đời. Những lời hứa công bố bởi các tiên tri trong cựu ước, nay được thực hiện qua sự thống hối và đức tin nơi Đức Giêsu Kitô. Nhờ thánh giá, mỗi người trong chúng ta được giải thoát khỏi sự chết và được giao hòa với Thiên Chúa. Chúng ta được tự do để yêu mến Chúa và tha nhân. Chúng ta được tha thứ hoàn toàn và được tái sinh trong hình ảnh Đức Giêsu. Lòng thương xót Chúa tuôn đổ trên chúng ta lớn lao biết ngần nào.

Bạn thấy gì nơi thánh giá ? Bạn có thấy sự thánh thiện, tình yêu và lòng thương xót của Thiên Chúa ? Bạn có thấy đấng đã yêu ta và muốn có một quan hệ cá nhân với ta ? Hay bạn thấy nơi thập giá sự lên án và những tiêu chuẩn quá cao bạn dựa trên đó mà phán xét người ta? Trong sự khiêm nhường và với tâm tình thống hối và tin tưởng, hãy mở trái tim bạn ra hôm nay cho đấng mà tình yêu dành cho bạn không có giới hạn. Hãy chạy đến cùng Ngài và Ngài sẽ chỉ cho bạn lòng thương xót không trí óc nhân loại nào có thể tưởng tượng nổi.

"Lạy Chúa Giêsu, con khẩn cầu lòng thương xót Chúa. Sự nhân từ của Ngài vượt quá trí hiểu của con. Tình yêu Ngài vượt quá mong đợi của con. Xin cho con biết thống hối tội con và xin thương xót con".

 

 

 

 

 

 

 

Bài 9 Hãy xin thì sẽ được (Mt 7:7).

Thật là một lời hứa đầy khích lệ. Trong những lời rõ ràng, không chút mơ hồ, Đức Giêsu nói với ta rằng Thiên Chúa sẽ cho ta những gì ta cầu xin Ngài nếu ta bền đỗ. Thiên Chúa rất quảng đại. Nhưng đồng thời Ngài muốn ta học cách xin, tìm kiếm và gõ cửa. Tại sao vậy? Có phải vì Ngài thích nhìn ta vất vả tìm kiếm ơn huệ của Ngài? Không phải như vậy. Đức Giêsu biết rằng khi ta bền đỗ và tin cậy trong lời cầu xin, chúng ta có thể đập đổ những rào cản của sự cứng lòng, không cậy trông và hoài nghi.

Bạn có bền đỗ trong lời cầu xin cùng Chúa hay đôi khi bạn buông xuôi ? Bạn có cảm thấy Thiên Chúa lạnh lùng, không trả lời những lời cầu xin của bạn ? Điều này là bình thường. Tất cả chúng ta đôi khi thấy Chúa chậm đáp lại lời cầu của ta. Nhưng khi đáp trả của Chúa chậm đến, chúng ta cần nhớ rằng Thiên Chúa nhìn thấy một chiều dài lịch sử đến muôn đời, còn ta chỉ thấy hiện tại và trước mắt.

Mọi bậc làm cha mẹ biết rõ những gì con cái thật sự cần, trước mắt và lâu dài; lợi hại của những thứ mà con cái họ cầu xin; cũng như những thách đố con cái họ sẽ phải đối diện. Cũng vậy, Cha trên trời không có ý "làm hư hỏng" ta bằng cách ban cho ta quá nhiều, quá nhanh hay bằng cách cho ta những gì hại cho ta về lâu dài.

Chúng ta hãy tin cậy ở lời Đức Giêsu. Nếu chúng ta bền đỗ, Thiên Chúa sẽ đáp lại mỗi lời cầu xin của chúng ta. Đáp trả của Ngài đôi khi tế nhị và không tỏ tường tức khắc. Tuy nhiên, chúng ta có thể chắc chắn rằng khi chúng ta dâng nhu cầu và ước muốn lên cùng Chúa, Ngài sẽ đáp lại như một người Cha từ ái. Ngài không gởi cho ta bất cứ thứ gì ta xin, như một giải quyết chớp nhoáng cho điều mà ta cảm nhận như một nhu cầu tức khắc. Tuy nhiên điều này là chắc chắn: dù cách thức Ngài đáp trả lời cầu xin của ta như thế nào, ơn phúc Ngài ban luôn lớn lao hơn điều ta trông đợi.

"Lạy Cha, xin luôn đổ trên con ơn phúc dồi dào của Ngài. Xin cho Nước Cha là điều mà con mong mỏi nhất trong lời cầu xin chứ không phải những gì dẫn đưa con lạc lối về".

Bài 10

"Còn Thầy, Thầy bảo cho anh em biết: ai giận anh em mình, thì phải bị đưa ra toà. Ai mắng anh em mình là đồ ngốc, thì phải bị đưa ra trước công nghị. Còn ai chửi anh em mình là quân phản đạo, thì phải bị lửa hỏa ngục thiêu đốt." (Mt 5:22).

Đức Giêsu đã làm sững sờ những người đang lắng nghe Ngài bằng những lời kết án rất nghiêm khắc sự giận hờn, mắng chửi mà nhiều người trong chúng ta dễ cho rằng đó chỉ là những chuyện "người ta thường tình". Chúa đã không nghĩ như vậy. Đối với Ngài, vấn đề không dừng ở chỗ chúng ta làm gì, nhưng còn là chúng ta nghĩ gì trong quan hệ với anh chị em mình. Tại sao Ngài nhấn mạnh đến các mối quan hệ? Thưa, vì chúng ta đều là con cái của cùng một Cha trên trời. Chúng ta gần gũi và ràng buộc với nhau đến nỗi bất cứ đổ vỡ nào trong sự hiệp nhất đều đe dọa toàn thân thể của Đức Kitô.

Như những người Kitô hữu, chúng ta đối diện với thách đố phải giữ gìn và xây đắp sự hiệp nhất trong Chúa Kitô . Thách đố này nới rộng đến mọi giao tiếp chúng ta có với anh chị em mình. Chẳng hạn, chúng ta đối với người thân trong gia đình thế nào, đối với hàng xóm láng giềng ra sao? Chúng ta có tử tế với họ không? Chúng ta có đối xử công bằng không? Chúng ta có chăm sóc cho những người đang túng thiếu, đặc biệt những người nghèo khó, những người đang gặp hoạn nạn và những người cô đơn không?

Chúng ta được kết hiệp gần gũi với anh chị em trong thân thể Chúa Kitô đến nỗi bất cứ tội nào ta phạm cũng có những hậu quả không phải cho ta thôi mà còn cho những người khác nữa. Khi chúng ta phạm tội, chúng ta tạo ra một đám mây đen trên quan hệ chúng ta với phần còn lại của thân thể Chúa Kitô, và đó chính là điều mà Satan muốn.

Thường thì tự ái, lòng kiêu hãnh và thói bướng bỉnh làm ta mất sáng suốt không nhìn rõ vai trò và trách nhiệm của ta trong việc làm gẫy đổ một mối quan hệ. Chúng ta cần học cách trông cậy nơi Chúa để giúp ta nhìn rõ tình hình với một nhãn quan mới. Xin Ngài chỉ cho thấy điều chúng ta có thể làm được để hòa giải với anh chị em. Xin Ngài giúp ta đừng đắm chìm trong cảm giác cay đắng và giận hờn. Xin Ngài giúp ta tha thứ từ tận đáy lòng mình để đến lượt ta, ta cũng được thứ tha.

"Lạy Chúa Thánh Linh, xin linh hứng trong con lòng ao ước được kết hiệp gần gũi với anh chị em con. Xin hiệp nhất tất cả những người Kitô hữu trong một gia đình và tạo ra những ràng buộc yêu thương không bao giờ gẫy đổ".

Bài 11

(21/02/2002). Vào thời Abraham, các hiệp ước hay cam kết thường được phê chuẩn trong một nghi lễ trong đó các bên có liên quan bước qua hai nửa xác một con vật đã bị sát tế và chia làm đôi. Cử chỉ này muốn nói lên rằng "Tôi cũng sẽ bị như con vật này nếu tôi không giữ lời đoan hứa". Tuy nhiên, khi thiết lập giao ước với Abraham, chỉ có Thiên Chúa (dưới dạng một ngọn lửa) đã bước qua giữa các con vật bị sát tế. Thiên Chúa nhận trách nhiệm hoàn toàn về mình trong việc giữ lời hứa làm cho con cháu Abraham đông như sao trời.

Câu chuyện này cho thấy hai điều. Thứ nhất, nó chứng tỏ Thiên Chúa hoàn toàn cam kết thực hiện lời hứa Ngài đến mức nào. Cha chúng ta trên trời sẽ không bao giờ rút lại lời hứa ban ơn lành và chăm sóc mỗi con cái Ngài. Dù chúng ta có ngỗ nghịch đến đâu, Ngài vẫn giữ lời thề long trọng yêu thương và chăm sóc cho dân Ngài đến muôn đời.

Có lẽ còn quan trọng hơn nữa, câu chuyện này tiên báo ơn cứu độ dành cho chúng ta qua Đức Giêsu. Vì Thiên Chúa đã không yêu cầu Abraham bước qua những nửa của những con vật bị sát tế, Abraham và miêu dệ ông không bị trừng phạt hoàn toàn vì không tuân giữ giao ước. Thiên Chúa biết rằng do tội nguyên tổ, Abraham - hay bất cứ ai - cũng không thể hoàn toàn trung tín. Đó là lý do tại sao trong dòng lịch sử Cựu Ước, Thiên Chúa đã hứa một giao ước mới, giao ước mà tối hậu Con Yêu Dấu của Ngài đã phải chết cho phần của giao ước mà chúng ta có thể không bao giờ giữ.

Bạn có thể tưởng tượng ra ai trung tín hơn Thiên Chúa? Ngài không những giữ phần của mình trong giao ước nhưng còn gởi Con Ngài xuống để gánh lấy trách nhiệm của chúng ta. Qua phép Thánh Thể, qua Thánh Thần Chúa, và qua Hội Thánh, chúng ta có đầy đủ phương thế để sống như những người con trung tín của Thiên Chúa.

"Lạy Chúa, sự trung tín của Ngài trong lời hứa yêu thương và gìn giữ dân Ngài thật cao cả. Ngài đã gởi cả Người Con Duy Nhất của Ngài xuống thế để bảo đảm ơn cứu độ cho chúng con và đổ đầy chúng con với Thánh Thần của Ngài. Xin ban cho con sức mạnh của Thánh Linh để con trung tín với Thiên Chúa trong mọi việc con làm".

Bài 12

(22/02/2002). Tiên tri Daniel đã có thể nhận ra được tội của một cá nhân ảnh hưởng đến toàn dân Israel và ngăn cản các chương trình của Thiên Chúa cho dân Ngài đến mức nào. Tiên tri cũng biết rằng một người có thể sám hối nhân danh toàn dân và khẩn cầu sự can thiệp của Thiên Chúa. Trong cách thức này, lời nguyện của tiên tri Daniel đã tiên báo thánh tâm Chúa Giêsu, đấng gánh lấy trách nhiệm cho tất cả tội lỗi chúng ta và qua thập giá nên của lễ đền tội hoàn hảo cho chúng ta.

Đức Giêsu cũng biết rằng sự thờ ơ trong việc thống hối của chúng ta là một yếu tố tán trợ cho thói tham lam, tính ích kỷ, lòng say sưa tìm kiếm quyền lực và tính hiếu chiến là những thứ ngăn cản các chương trình của Thiên Chúa. Do đó, điều cần thiết là chúng ta sám hối không chỉ cho ta nhưng cho đất nước, dân tộc, và những người Kitô hữu như ta. Trong tông thư Năm Thánh 2000, Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II đã thúc giục mọi Kitô hữu hãy khẩn cầu ơn tha thứ cho tội lỗi họ và tội lỗi của các chi thể của Đức Kitô: "Vì sự liên kết hiệp nhất chúng ta với nhau trong một nhiệm thể, tất cả chúng ta, dù không chịu trách nhiệm cá nhân vàkhông có lỗi trước mặt Chúa, vẫn mang gánh nặng của những lỗi lầm và sai phạm của những người đi trước chúng ta. Cả chúng ta nữa, những con trai con gái của Giáo Hội, cũng đã phạm tội và cản trở dung nhan hiền thê của Chúa Kitô không được chiếu sáng với tất cả vẻ đẹp" (Tông huấn Mầu Nhiệm Nhập Thể).

Ta hãy sám hội cho những tội ta đã phạm và cho những tội của những người khác nữa. Chúng ta cũng hãy tha thứ cho những lỗi lầm phạm đến ta và phạm đến nhiệm thể lớn lao hơn là Giáo Hội. Ta hãy bao gồm trong lời kinh nguyện của mình những chia rẽ và chiến tranh đang xảy ra giữa những người tuyên bố tin vào Thiên Chúa nhưng thuộc các tôn giáo khác nhau. Hận thù và thành kiến đang bao trùm thế giới.

"Lạy Cha, xin tha thứ cho những lần con đã làm tổn thương anh chị em con và cho những lần con nuôi trong lòng sự oán giận khi bị xúc phạm. Xin thương xót con".

Bài 14

(24/02/2002). Đức Giêsu đưa Nhóm Mười Hai đi riêng với mình, tách khỏi đám đông đang đi theo lên Giêrusalem. Người nói riêng với các ông về những gì sắp xảy ra: "Con Người sẽ bị nộp cho các thượng tế và kinh sư. Họ sẽ kết án tử hình Người, sẽ nộp Người cho dân ngoại nhạo báng, đánh đòn và đóng đinh vào Thập giá và, ngày thứ ba, Người sẽ chỗi dậy". (Mt 20:17-19). Sau đó, khi các ông đang tranh cãi muốn giành chỗ tốt nhất trên thiên đàng, Đức Giêsu lại gọi riêng họ ra: "Các người không biết các người xin gì! Các người có uống nổi chén Thầy sắp uống không?" (Mt 20:20-21) và dạy bảo họ: "Ai muốn làm lớn giữa anh em, thì phải làm người phục vụ anh em. Và ai muốn làm đầu anh em thì phải làm đầy tớ anh em. Cũng như Con Người đến không phải để được người ta phục vụ, nhưng là để phục vụ và hiến dâng mạng sống làm giá chuộc muôn người". (Mt 20:25-28).

Rất thường, khi Đức Giêsu có điều gì quan trọng muốn truyền đạt cho các môn đệ Ngài, Ngài kéo họ ra một chỗ tách biệt. Ngài biết rằng khi Ngài tách họ ra khỏi những điều gây chia trí và những đòi hỏi của đám đông thường vây quanh họ, họ sẽ lắng nghe cách chú ý hơn đến Lời Ngài.

Như Đức Giêsu đã dùng những giây phút đặc biệt để nói cách thân mật với các môn đệ của Ngài, Đức Giêsu cũng mong muốn có những giây phút đặc biệt để nói với mỗi một người trong chúng ta. Ngài muốn mạc khải con tim Ngài và ý định của Ngài cho chúng ta cách riêng tư. Tất cả điều Ngài đòi hỏi là chúng ta hãy dành ra thời gian để lắng nghe Ngài. Những bài đọc thường xuyên trong Thánh Kinh và những bài suy niệm đạo đức là những cách thế tốt nhất mà qua đó chúng ta có thể tạo ra những không gian và thời gian tĩnh lặng với Đức Giêsu.

Các nghị phụ của Công Đồng Chung Vatican II đã viết: "Trong các sách Thánh, Cha trên trời ngự đến với con cái Ngài cách từ ái và nói với họ" (Về Mạc Khải Thánh Thiện, 21). Trong niềm mong mỏi muốn thấy người giáo dân gặp gỡ Thiên Chúa cách thân mật, các nghị phụ cũng viết rằng Giáo Hội "tha thiết và đặc biệt mong mỏi tất cả các Kitô hữu... học biết nhiều hơn về Đức Giêsu Kitô bằng cách thường xuyên đọc Thánh Kinh" (25).

Khi chúng ta trở nên quen thuộc với Thánh Kinh, chúng ta sẽ học biết cách nhận ra tiếng Chúa trong cuộc sống hàng ngày. Khi trí óc chúng ta càng được hình thành theo Lời Chúa, chúng ta càng có khả năng nhận ra ý Ngài và lựa chọn những quyết định theo thánh ý Chúa. Chúng ta hãy dành ra thời gian mỗi ngày để đọc và suy niệm Thánh Kinh. Ở đó, chúng ta sẽ thấy Chúa hiện diện với chúng ta.

"Xin hãy đến, Lạy Chúa Thánh Linh, xin mở tai con để con nghe Lời Ngài. Xin thắp sáng tâm trí con để con hiểu những sự thật Ngài mạc khải cho con."

Bài 15

(25/02/2002). Đoạn Phúc Âm kể lại câu chuyện ông Lazarô (Lk 16:19-31) đưa ra cho chúng ta một nghịch lý: Chúng ta mất cái mà chúng ta muốn giữ và chúng ta được cái mà chúng ta sẵn sàng cho đi. Dụ ngôn người phú hộ và ông Lazarô cho thấy bi kịch khi chúng ta không ngó ngàng tới việc chia sẻ những gì chúng ta có với tha nhân, đặc biệt với những người nghèo và yếu thế trong xã hội. Người phú hộ không bị kết án vì tài sản của ông ta, nhưng vì sự thờ ơ của ông đối với người nghèo. Cuối cùng, chính ông đã trở thành người ăn mày tuyệt vọng, van xin Abraham cho khỏi chốn hỏa ngục.

Tên Lazarô nghĩa là "Chúa là sự trợ giúp tôi". Bất chấp một cuộc đời đau khổ, Lazarô giữ niềm hy vọng vào Thiên Chúa. Cuối cùng, ông nhận được gia tài đã dành sẵn cho ông nơi thiên đàng. Thánh Augustinô có lần đã nói rằng tất cả chúng ta đều là những người ăn mày đang cần đến hồng ân Thiên Chúa : "Anh em giàu có với những của cải tạm bợ, nhưng anh em cần những thứ vĩnh cữu... Điều mà anh em làm với những ai khẩn cầu anh em thì Thiên Chúa cũng sẽ thực hiện như thế với anh em. . . Hãy đong đầy cho những người anh em đang túng thiếu . . . để rồi sự túng thiếu của anh em cũng được đong đầy".

Bác ái thật sự không phải chỉ là cho đi những gì dư thừa. Bác ái thật sự bao gồm những cho đi có tính hy sinh trong một tình yêu không vị kỷ dành cho Thiên Chúa. Mẹ Têrêxa thích kể câu chuyện này : "Cách đây đã lâu trong nhà trẻ của chúng tôi không có đường cho trẻ con. Một đứa bé lên bốn nghe rằng 'Mẹ Têrêxa không có đường cho trẻ con'. Cháu về nhà và nói với ba mẹ rằng : 'Con sẽ không ăn đường trong 3 ngày. Con sẽ cho mẹ Têrêxa số đường ấy'. Đứa bé còn quá nhỏ, nói tên tôi còn chưa trúng, nhưng đã dạy tôi một bài học làm sao để yêu với một tình yêu cao cả. Không phải vấn đề là em bé ấy cho đi bao nhiêu nhưng là chuyện em bé đã cho đi với một tình yêu lớn lao".

Đây chính là cách thế mà Thiên Chúa muốn ta cho đi. Mọi thứ chúng ta có là hồng ân của Ngài - cuộc sống, sức khoẻ, tài năng và của cải. Cách thức chúng ta đầu tư những thứ này quyết định tương lai sau này của chúng ta. Hãy để Thánh Linh thay đổi tim ta và chỉ cho ta thấy con đường đưa đến hạnh phúc khi chúng ta quảng đại chia sẻ tài năng và của cải chúng ta với anh chị em mình.

"Lạy Chúa, xin làm mềm lòng con để con có thể yêu thương và cho đi cách quảng đại cho những ai đang túng thiếu. Xin cho con cũng biết thương xót anh chị em con như Chúa hằng thương xót con".

Bài 16

(26/02/2002). Một ông nhà giàu kia có thú vui sưu tầm các bức danh họa trên thế giới. Những người đến thăm ông đều phải trầm trồ trước những bức tranh của Picassos và Rembrandts mà ông đã không tiếc tiền mua chúng về treo. Ông có một đứa con trai duy nhất. Khi đến tuổi trưởng thành, chàng trai bị gọi nhập ngũ. Trong một trận chiến, anh đã anh dũng hy sinh khi cố gắng cứu mạng cho một đồng đội. Nhớ ơn anh, và biết người cha là một người thích tranh, người đồng đội được cứu sống đã vẽ lại bức tranh ghi lại hình ảnh hào hùng của người con để tặng cho người cha.

Một thời gian sau, người cha cũng qua đời và người ta bán đấu giá những tài sản của ông. Nhiều người từ khắp nơi trên thế giới tuốn đến mong có thể mua được những danh họa có một không hai. Người trọng tài trong cuộc đấu giá bắt đầu bằng cách nói : "Chúng ta hãy khởi đầu từ bức tranh của người con".

Một sự im lặng khó chịu bao trùm căn phòng đấu giá. Một tiếng nói cất lên : "Bỏ qua chuyện đó đi. Bức tranh đó do một tay tài tử vẽ có đáng gì mà đấu giá. Đấu mấy bức của Picassos hay Rembrandts đi".

Tuy nhiên, người trọng tài vẫn không nhượng bộ: "Không, chúng ta phải bắt đầu bằng bức tranh người con trước. Ai muốn lấy bức tranh của người con".

Cuối cùng, một giọng nói cất lên từ cuối phòng: "Mười đồng". Đó là tiếng người làm vườn già nua. Mười đồng là tất cả khả năng mà người làm vườn có thể trả nổi.

"Có người trả 10 đồng. Có ai trả hơn không ? Có ai trả 20 đồng không ?" … Một sự im lặng nặng nề lại bao trùm, hy vọng bức tranh được bán cho mau để chuyển qua những món khác.

"Mười đồng lần thứ nhất. Mười đồng lần thứ hai. Mười đồng lần thứ ba … Bán".

Người trọng tài gõ búa xuống. Ông xé một bao thư đi kèm với bức tranh. Đọc xong, ông tuyên bố với mọi người : "Cám ơn quý vị đã đến đây hôm nay. Cuộc đấu giá đã kết thúc". Người trọng tài giải thích : "Nội dung bức thư của chủ nhân dặn rằng hễ ai mua bức tranh người con thì sẽ được tất cả tài sản, đất đai, tiền bạc và tất cả các bức tranh. Người cha đã muốn trao tặng tất cả cho những ai chấp nhận người con".

Trong Đức Giêsu, Thiên Chúa cho chúng ta mọi thứ, kể cả bức tranh mà Ngài muốn chúng ta trở nên. Với mỗi người trong chúng ta, Thiên Chúa hỏi thẳng chúng ta rất rõ ràng, không úp mở : "Ngươi có chấp nhận Con Duy Nhất của ta không ? Ai chấp nhận Con ta thì được mọi sự". Chắc chắn rằng trong cuộc đấu giá trên, nếu người ta biết rõ nội dung bức thư, mọi người sẽ giành giật để đấu cho được bức tranh của người con. Còn chúng ta, chúng ta biết rất rõ ý định Thiên Chúa mà chúng ta lại không chấp nhận người Con thì chúng ta quả là dại dột.

Chúng ta hãy đón nhận Ngài. Không có thánh giá, sẽ không có vinh quang. Chúng ta hãy học nơi Thánh Kinh và tất cả các thánh : "Không phải tôi sống nhưng là Đức Kitô sống trong tôi" (Galat 2:20).

"Lạy Đức Giêsu, con chọn Ngài. Xin sống trong con để con thấy được tự do trong vâng phục và niềm vui là môn đệ Ngài".

Bài 17

(27/02/2002). Ở thế kỷ thứ 8 trước Thiên Chúa giáng sinh, tiên tri Mikê đã nói về Thiên Chúa như vị mục tử chở che dân Ngài không những khỏi mọi sự dữ và còn cứu họ khỏi tội lỗi nữa. 800 năm sau, Thiên Chúa đã sai Con Ngài đến để lời tiên tri của ông Mikê được nên trọn và để tỏ hiện tấm lòng của Cha trên trời - một tấm lòng mục tử.

Thiên Chúa muốn yêu thương và dẫn dắt chúng ta dù chúng ta là ai và chúng ta đã sống như thế nào. Tất cả chúng ta đều cần đến chăm sóc đầy tha thứ, yêu thương và thương xót mà tiên tri Mikê đã mô tả - để chúng ta nên thánh như ý định Chúa muốn nơi chúng ta. Việc nên thánh của chúng ta đòi hỏi nhiều hơn là lời kinh nguyện và việc dự các thánh lễ. Tâm tình mong muốn nên thánh phải là một phần của môi trường sống tại ngay gia đình chúng ta. "Hãy chăm sóc dân ta bằng gậy mục tử của ngươi" (Mikê 7:14). Thiên Chúa muốn chúng ta học cách "chăn dắt" người bạn đời của ta, con cái ta và bạn bè gần gũi ta trong Chúa Kitô.

Thiên Chúa dựng nên ta để ta yêu thương và được yêu thương và càng sống trong sự yêu thương của Ngài - đến từ mọi trạng huống - chúng ta càng được an toàn bước đi trên con đường hướng về quê trời. Chính vì thế gia đình, tổ ấm, phải là môi trường giúp ta nên thánh.

Chúng ta hãy tưởng tượng một mái gia đình nơi những thiếu sót và bất toàn được đáp trả mau mắn bằng cảm thông và tha thứ, nơi mọi người được đối xử với yêu thương, tôn trọng trong bất cứ hoàn cảnh nào, Chúng ta hãy thử phác họa ra một bức tranh gia đình nơi mà các mối quan hệ được đánh dấu bằng sự chấp nhận và yêu thương vô điều kiện. Chúng ta có thể thấy được bình an đến với những gia đình như vậy thật ấm cúng biết dường nào.

"Hãy chăm sóc dân ta bằng gậy mục tử của ngươi" (Mikê 7:14). Như tiên tri Mikê đã gào lên thế nào, chúng ta cũng hãy gào lên như vậy cho các gia đình và cho đời sống gia đình ngày nay. Nhiều trẻ con đã lớn lên không được chăn dắt bằng một tình yêu mục tử và cảm thấy dễ bị thương tổn vì sự mất an ninh, mất phương hướng và một viễn kiến tầm thường, nhạt nhẽo và nông cạn cho tương lai. Những trẻ em bị thương tổn ngày nay sẽ trở thành những người lớn bị thương tổn và những bậc làm cha mẹ ngày mai. Vì thế, chúng ta hãy cầu nguyện đặc biệt cho những bậc làm cha làm mẹ hay những bậc đóng vai trò lãnh đạo. Xin vị Mục Tử Tối Cao trên trời dạy bảo họ đường lối Ngài và mạc khải cho họ kế hoạch của Ngài cho cuộc sống.

"Lạy Đức Giêsu, với Chúa, mọi chuyện đều có thể thực hiện được. Xin Chúa chữa lành những trẻ em bị bỏ rơi không ai ngó ngàng đến trong thế giới hôm nay. Xin cho họ biết đến tình yêu Ngài. Xin Chúa cũng soi sáng cho các gia đình để cuộc sống họ nên chứng tá về tình yêu của Chúa cho thế gian".
Bản dịch Việt Ngữ của J.B Đặng Minh An

Bài 18

(28/02/2002). Đức Giêsu kể dụ ngôn này: "Người kia có một cây vả trồng trong vườn nho mình. Bác ta ra cây tìm trái mà không thấy, nên bảo người làm vườn: "Anh coi, đã ba năm nay tôi ra cây vả này tìm trái, mà không thấy. Vậy anh chặt nó đi, để làm gì cho hại đất?" Nhưng người làm vườn đáp: "Thưa ông, xin cứ để nó lại năm nay nữa. Tôi sẽ vun xới chung quanh, và bón phân cho nó. May ra sang năm nó có trái, nếu không thì ông sẽ chặt nó đi". (Lk 13:6-9)

Đoạn Phúc Âm trên làm nhiều người trong chúng ta lo lắng. Có phải Thiên Chúa muốn ra hạn định cho ta và thúc giục ta phải làm hết sức mình để nhanh chóng sinh hoa kết quả cho Ngài? Có lẽ là không. Đúng là Thiên Chúa muốn ta sinh hoa kết quả cho Ngài. Nhưng hoa quả đến không phụ thuộc nhiều vào điều ta làm nhưng chủ yếu từ điều Ngài làm qua ta.

Bạn hãy xem một cây táo. Những rể của nó hút những chất dinh dưỡng từ lòng đất, và lá của nó nhận năng lượng từ ánh mặt trời. Hoa của nó được thụ phấn nhờ gió và côn trùng. Tất cả các nguồn này đều đến từ bên ngoài. Công việc chính của cây là tiếp nhận tất cả những trao ban từ Thiên Chúa. Cũng vậy, Thiên Chúa làm cho chúng ta sinh hoa kết quả qua sự hiện diện của Ngài trong ta. Ngài không kỳ vọng chúng ta cậy dựa vào tài năng tự nhiên của ta. Thiên Chúa muốn đổ đầy tài năng chúng ta với quyền năng của Ngài và nâng đỡ chúng ta để chúng ta sinh hoa kết quả cho vương quốc của Ngài.

Bài trích sách xuất hành (Exodus 3:1-8) thường được Giáo Hội chọn đọc chung với đoạn Phúc Âm về dụ ngôn cây vả không sinh trái (Lk 13:6-9) vì có cùng một luận điểm. Ông Môsê đã bị thu hút không phải vì bụi gai đang cháy nhưng vì ngọn lửa đã không thiêu rụi bụi gai. Cũng thế, Thiên Chúa sống trong ta và tỏ lộ sự sống Ngài qua chúng ta. Chúng ta cũng bốc cháy với ánh quang rạng ngời của Thiên Chúa. Nhưng, như bụi gai, những nhân cách cá nhân và tài năng của chúng ta không bị thiêu hủy. Chúng được nâng lên để chiếu sáng và thu hút tha nhân đến với Thiên Chúa, đấng đang ngự trong ta.

Thiên Chúa muốn sống trong chúng ta để chúng ta có thể trổ sinh hoa trái. Ngài mong muốn con cái Ngài thực thi điều mà Đức Giêsu đã thực hiện để nước Ngài trị đến trên thế gian. Cách thế để nuôi dưỡng ngọn lửa sự sống Thiên Chúa trong ta là cầu nguyện, đọc Thánh Kinh, nhận bí tích Thánh Thể, và phục vụ tha nhân. Khi đó, cuộc sống chúng ta trở nên càng ngày càng sinh hoa kết quả vì Chúa sống và hoạt động trong ta mỗi ngày mỗi mạnh mẽ hơn. Chúng ta hãy nhận dưỡng chất từ Thiên Chúa và sinh nhiều hoa trái.

"Lạy Đức Giêsu, không có sự sống của Chúa trong con, con sẽ tàn úa và khô héo. Xin hãy đến và ngự trị trong con. Con hoan hỉ chào đón Ngài đến với tâm hồn con hôm nay. Xin Chúa hãy đến và làm cho con sinh nhiều hoa trái".
Bản dịch Việt Ngữ của J.B Đặng Minh An

40 bài tĩnh tâm Mùa Chay dành cho giới trẻ: Bài 19

(01/03/2002). Lời cầu nguyện của ông Azariah và những câu chuyện trong sách của tiên tri Daniel được đặt trong bối cảnh của thành Babylon vào thế kỷ thứ 6 trước Chúa giáng sinh. Lúc đó, Giêrusalem đã bị xâm chiếm và dân chúng bị đi đày. Trong nền văn hóa ngoại bang, nhiều người Do Thái có nguy cơ bị mất đức tin. Những kẻ chiếm đóng buộc họ phải thờ phượng những thần ngoại bang và từ bỏ Giavê Thiên Chúa. Tuy nhiên, như trong sách Daniel đã ghi lại, Thiên Chúa đã dùng chính những thời buổi khó khăn như thế để tiếp cận với dân đang khốn cùng và tỏ lộ tấm lòng Ngài cho họ.

Theo trình thuật của Thánh Kinh, Azariah và các bạn đã chống lại áp lực của ngoại bang ngay cả dưới sự đe dọa của cái chết. Khi họ hướng về Giavê, họ nhận được sự khôn ngoan thánh thiện và sự chở che. "Thánh thần Chúa ngự xuống lò lửa để ở bên cạnh Azariah và các bạn ông" (Daniel 3:26). Và những hệ quả của lòng trung tín vượt xa phép lạ che chở này: các lãnh tụ của dân ngoại cũng nhìn nhận Giavê như là một TC duy nhất.

Xuyên suốt trong lịch sử Cựu Ước, bất cứ khi nào dân Do Thái gặp cảnh gian nan, họ đều hướng về Thiên Chúa để mong cầu ơn giải thoát. Chính trong những khi tuyệt vọng họ mới thấy vinh quang và lòng từ ái của Thiên Chúa tỏ tường hơn và nhận hồng ân của Ngài tự do hơn.

Không phải điều này cũng đúng với chúng ta sao ? Trong đời sống thường ngày, chúng ta vẫn thi hành những bổn phận của chúng ta, chúng ta cũng năng đến nhà thờ, nhưng không thực sự gặp gỡ Chúa. Khi biến cố 11/09 xảy ra, trong lúc đen tối nhất, tuyệt vọng và hoang mang nhất, nhiều người Hoa Kỳ mới nhận rõ được vinh quang Chúa và khẩn cầu lòng thương xót và ơn chữa lành của Ngài. Chính trong lúc bi đát ấy, nhiều chướng ngại đến từ cuộc sống bận rộn hàng ngày đã được gỡ bỏ để họ nhận được cách tự do hơn những hồng ân của Chúa.

Chúng ta hãy tìm kiếm Chúa lúc thịnh vượng cũng như lúc gian nan. Đôi khi những cách thế của thế gian xen vào làm yếu đi đức tin chúng ta và làm méo mó đi ý nghĩa thực sự của việc gặp gỡ Chúa. Không phải đợi đến lúc khốn cùng chúng ta mới có cơ hội để sửa sai viễn kiến của chúng ta và tìm kiếm quan hệ sâu xa hơn với Thiên Chúa. Mọi ngày trong đời ta, Chúa đều đổ đầy với những cơ hội tương tự. Xin đừng đợi đến kỳ thử thách truân chuyên nhưng hãy hướng về Đức Giêsu mọi ngày. Ngài đang chờ ta với đôi tay dang rộng để đổ đầy những ngày đời ta với những điều thiện hảo.

"Lạy Đức Giêsu, xin sai Thánh Thần Chúa đến thắp sáng tâm hồn con để con biết hướng về Chúa trong mọi ngày đời con".
Bản dịch Việt Ngữ của J.B Đặng Minh An

40 bài tĩnh tâm Mùa Chay dành cho giới trẻ: Bài 20

(02/03/2002). Xuyên suốt trong lịch sử Cựu Ước, chúng ta thấy một trong những điều cơ bản trong quan hệ giữa dân Do Thái và Thiên Chúa là lòng trung thành và vâng phục của họ đối với Thiên Chúa. Bất cứ khi nào dân Do Thái quay mặt đi với Thiên Chúa, họ gánh chịu xâm lăng, đói kém, lưu đầy và các thứ tai ương thiên nhiên khác. Lúc đó, họ lại quay về với Ngài trong ăn năn và thống hối. Chúng ta cũng thế. Khi tấm thảm dưới chân chúng ta bị kéo đi, chúng ta lại quay về với Chúa, tự xét mối quan hệ với Ngài và giữ lòng chúng ta chú ý lắng nghe tiếng Thiên Chúa hơn.

Như những người Do Thái, chúng ta biết chúng ta yếu đuối và mỏng dòn. Chúng ta dễ bị khuất phục trước những cơn cám dỗ để quên Chúa, quên sự thực thi lề luật của Ngài và quên đi những hồng ân Ngài luôn tuôn đổ xuống đời ta. Chúng ta gục ngã liên tục trước những cơn cám dỗ đến nỗi gần như tuyệt vọng với chính mình. Tuy nhiên, hãy nhớ rằng khi Thiên Chúa sai Con Ngài đến trong thế gian, Ngài cũng sai Thánh Thần Chúa đến để tăng sức cho chúng ta biết lắng nghe và tuân giữ lời Ngài.

Thờ phượng, tán tụng và ngợi khen là những phương thế để Đức Giêsu có thể đong đầy hồn ta bằng sự hiện diện của Ngài. Khi chúng ta dán mắt vào Đức Giêsu trong lời cầu nguyện, ta đón rước Ngài hàng ngày vào trong tâm hồn ta để giúp ta thực thi lề luật. Ta càng hướng về Ngài, Ngài càng có nhiều cơ hội để ghi khắc trong tim ta lề luật của Ngài. Và như thế, việc tuân giữ lề luật Ngài không còn khó khăn nữa vì có Chúa giúp ta thực thi những điều này.

"Lạy Chúa Thánh Thần, tán tụng Ngài đã ngự vào hồn con. Xin hãy viết lên trái tim con lề luật yêu thương của Ngài để con luôn tuân giữ những điều Chúa đã truyền dạy. Con dâng toàn thể hồn xác con trong tay Ngài".
Bản dịch Việt Ngữ của J.B Đặng Minh An

40 bài tĩnh tâm Mùa Chay dành cho giới trẻ: Bài 22

(04/03/2002). "Ta sẽ chữa lành sự bất tín của chúng; Ta sẽ tự ý yêu thương chúng" (Holsea 14:4)

Holsea thường được nhắc đến như tiên tri về tình yêu chí thánh, người đã nói về Thiên Chúa như Đấng sẵn sàng chịu đau khổ để đưa dân yêu dấu của Ngài về với Ngài. Cả cuộc đời Holsea lẫn sứ điệp của ông là một ví dụ về một trong những đau khổ lớn lao: bị từ chối. Biết rằng Gomer, vợ ông, đã bất trung với mình, Holsea đã không chọn con đường ly dị nhưng tìm kiếm bà, tha thứ cho bà. Theo thời gian, ông đưa được bà về với đường ngay nẻo chánh.

Kinh nghiệm của Holsea cho ông một ý thức mãnh liệt về đường lối Chúa đối với dân Ngài, Israel. Ông biết Thiên Chúa coi dân Israel như "hiền thê" của Ngài và Ngài muốn họ yêu Ngài với cùng một tình cảm thân mật như hiền thê với phu quân. Holsea cũng biết Thiên Chúa cũng buồn phiền thế nào khi dân Ngài ngoảnh mặt đi với Ngài. Nhưng Thiên Chúa không trả thù.

Những lời của tiên tri Holsea nhắc ta nhớ rằng Thiên Chúa trung tín ngay cả khi chúng ta không trung tín với Ngài. Thiên Chúa luôn hoạt động để mang chúng ta về với tình yêu của Ngài. Ngay cả khi sửa phại Israel, Thiên Chúa cũng đã làm thế xuất phát từ tình yêu. Hơn bất cứ điều nào, Thiên Chúa muốn phục hồi dân Ngài thành dân mà Ngài yêu dấu. Thông điệp của ông đem lại vui mừng và hy vọng.

Bạn có muốn được biến đổi trong Chúa Kitô và kết hiệp thân mật với Ngài không? Những lời của tiên tri Holsea mời gọi bạn hãy bền đỗ với Thiên Chúa và để Ngài giải phóng khỏi bạn khỏi sự tự tôn và hư hỏng. Hãy để Thánh Thần canh tân tình yêu của bạn với Thiên Chúa.

Holsea đã vẽ ra một bức tranh đầy mầu sắc về hoạt động phục hồi của Thiên Chúa trong ta: "Ta nên như sương sa, Israel sẽ trổ bông như huệ; đâm rễ tựa Li-ban, ngành nó sẽ xòe ra, vinh dự nó sẽ đẹp như ô-liu, hương nó ngào ngạt như Li-ban". (Holsea 14:5-6)

"Lạy Chúa, tình yêu của Chúa không bao giờ tàn lụi. Con dâng lên Chúa hồn xác con ngày hôm nay. Xin cho con luôn trung tín với Chúa và xin canh tân con nên giống hình ảnh Ngài".
Bản dịch Việt Ngữ của J.B Đặng Minh An

40 bài tĩnh tâm Mùa Chay dành cho giới trẻ: Bài 21

(03/03/2002). Hiệp nhất là một đặc tính chính yếu của Nước Thiên Chúa. Khi Thánh Thần Chúa được chào đón, dân Ngài thờ phượng Ngài và yêu thương lẫn nhau. Trái lại, trong vương quốc của quỷ, quỷ xúi giục người ta chống lại nhau bằng những lời nói dối và những mưu mô xảo quyệt. Những ai lắng nghe lời dối trá của quỷ sẽ trở nên ích kỷ, đóng kín và cay đắng với mọi người.

Một bức tranh xúc tích về công việc của Satan có thể tìm thấy trong cuốn The Great Divorce, một cuốn truyện ngắn của tác giả nổi tiếng C.S. Lewis. Trong cuốn sách của ông, Lewis đã tưởng tượng ra hỏa ngục như là một nơi không ai có thể chịu đựng nổi việc sống gần người khác. Theo một nhân vật trong chuyện, những cư dân của hỏa ngục thường "cãi nhau om sòm" đến mức họ phải cách biệt với nhau muôn đời. "Ngay khi một gã vừa dọn đến một con đường, chưa đầy 24 tiếng đồng hồ sau hắn bắt đầu gây gỗ với hàng xóm. Một tuần sau thì hắn cãi nhau to tiếng và thượng cẳng tay hạ cẳng chân với người chòm xóm rồi bỏ ra đầu làng. Ở đó hắn gây lộn tiếp và cuối cùng hắn cách biệt với người gần nhất một khoảng cách đo bằng 'một năm ánh sáng'".

Nếu chúng ta không dâng mình cho Chúa, trí óc chúng ta dễ trở thành mảnh đất mầu mỡ cho Satan gieo trồng những cây nghi kỵ, ghen tuông và không trông cậy lẫn nhau. Chúng ta có thể sẽ kéo bè kết cánh và khiêu khích lẫn nhau bởi những câu chuyện ngồi lê đôi mách và những xuyên tạc lẫn nhau. Chỉ trông cậy vào khả năng của mình, chúng ta không bao giờ vượt thắng nổi vòng lẩn quẩn này. Nhưng nhờ tình yêu của Thiên Chúa, chúng ta có thể hiệp nhất trong Đức Kitô. Đức Giêsu đã phán: "phương chi Cha trên trời, Người sẽ ban Thánh Thần cho những kẻ xin Người" (Lk 11:13)

Chúng ta hãy giữ lòng chúng ta mở ra cho Thánh Thần. Ngài giúp ta ngăn cản những ý tưởng ghen tuông và đố kị với anh em ta, những chỉ trích không phải để sửa dạy, nâng đỡ anh em ta lên nhưng chà đạp anh em ta. Thay vì nuôi dưỡng trong lòng những ý tưởng làm ta xa cách và biệt lập với anh em, chúng ta hãy lắng nghe sự thật từ Thiên Chúa. Ngài cư ngụ trong tất cả mọi con cái Ngài. Chúng ta hãy đến với mọi người trong tình hiệp nhất Kitô Giáo. Đức Giêsu sẽ giúp ta mở rộng hồn ta để quyền năng chuyển hóa của Thánh Thần Thiên Chúa giúp ta tránh được những mưu mô của ác thần.

"Lạy Chúa toàn năng, xin giúp con mở lòng con ra để chào đón Chúa Thánh Thần và xin biến đổi tâm hồn con để con luôn nhìn thấy được điều tích cực trong anh em con"
Bản dịch Việt Ngữ của J.B Đặng Minh An

40 bài tĩnh tâm Mùa Chay dành cho giới trẻ: Bài 29

(11/03/2002). Khi Đức Giêsu tiếp tục rao giảng về Thiên Chúa và mạc khải những dấu chỉ của Nước Trời, nhiều người tại Giêrusalem bắt đầu tin vào Ngài - ngay cả những người lẽ ra phải chống lại Ngài. Những lính gác đền thờ và ông Nicôđêmô là những ví dụ. Trong nhiều cách thế khác nhau và với những mức độ thành công khác nhau, những người này đã được rao giảng Tin Mừng. Hồng ân Thiên Chúa bắt đầu tuôn đổ trong tâm hồn họ và họ bắt đầu chú ý nhiều hơn đến Đức Giêsu. Những người lính gác, chẳng hạn, đã rúng động bởi những lời Ngài đến nỗi họ không thể bắt Ngài. Và ông Nicôđêmô, người mà ban đầu chỉ lén gặp Đức Giêsu trong đêm, đã đứng lên chống lại những người Pharisêu. Trong cả hai trường hợp trên, ta thấy những người đang trong tiến trình hoán cải theo Chúa Kitô.

Có rất nhiều cách để người ta có thể nghe biết đến Tin Mừng và tin vào Đức Giêsu. Chúng ta có thể gặp gỡ những người nhận được Tin Mừng và đưa ra những tuyên bố mạnh mẽ về Đức Giêsu, thậm chí, đứng lên dõng dạc đưa ra những tiếng nói bênh vực cho Ngài, như ông Nicôđêmô. Chúng ta cũng có thể gặp được những người như các lính canh, họ tiếp nhận Tin Mừng và bắt đầu đặt lại vấn đề đối với những điều họ đã giả định từ trước trong nhiều năm. Bất chấp phản ứng của họ thế nào, chúng ta cần nhậy cảm trước những hoán cải đang diễn ra trong nội tâm họ và tìm cách giúp họ tiến xa hơn.

Khi chúng ta thấy những dấu chỉ hồng ân Chúa đang diễn ra nơi người bạn nào đó, chúng ta nên làm gì? Điều đầu tiên và trên hết là hãy cầu nguyện cho họ. Cầu xin Chúa Thánh Thần hoạt động trong đời sống họ, mạc khải nhiều sự thật hơn về Đức Giêsu. Hãy cầu nguyện để người bạn mình vượt qua được những chống đối và thái độ thù địch của những kẻ không tin hay hoài nghi.

Với những người không tin hay nặng lòng hoài nghi, hãy cầu xin Chúa Thánh Thần hướng dẫn bạn để bạn sẵn sàng nói hay làm những điều đúng ở những thời điểm thích hợp. Trên tất cả, xin cho chúng ta được mời gọi để yêu thương họ chân thành. Hãy nhớ rằng Thiên Chúa muốn mọi người tin tưởng nơi Ngài và chúc phúc cho những ai rao giảng về Ngài.

"Lạy Chúa Thánh Thần, xin cho con thấy dấu chỉ sự hiện diện của Chúa nơi anh em con. Xin ban cho những người đang thành tâm tìm kiếm Chúa sức mạnh và sự dẫn dắt của Ngài"
Bản dịch Việt Ngữ của J.B Đặng Minh An

Bài 30

(12/03/2002). Thật khó cho con người trong thời của Chúa Giê-su chấp nhận Ngài là một ngôn sứ hay Đấng Messiah. Nhưng Ngài đã cho họ một thử thách rất lớn: để tin rằng Ngài là con Thiên Chúa, Ngài thi hành quyền ban sống của Thiên Chúa. (Ga 8.51; Ga 5: 19-27). Lời tuyên bố như thế có nghĩa rằng Ngài có một sự tương quan với Thiên Chúa mà không một người nào được hưởng. Chúa Giê-su đã đi quá xa để nói với những người nghe, cho dẫu họ là con cháu của Abraham, không có nghĩa là họ đương nhiên biết Thiên Chúa (Ga 8:55), cách riêng họ từ chối chấp nhận Ngài là con Thiên Chúa. Những lời can đảm có thể đưa Chúa Giê-su lâm vào tình huống khó khăn hơn, nhưng Ngài vẫn nói cho họ biết.

Khi Chúa Giê-su nói:" trước khi có ông Áp-ra-ham, thì tôi, Tôi Hằng Hữu !" (Ga 8:58), Ngài tuyên bố sự hiện hữu trước thời Áp-ra-ham. "Tôi hằng hữu" là một từ ngữ mà Thiên Chúa nói về chính mình. Nhiều đoạn văn khác, đã xuất hiện ở sách Isaiah 41:4; 43:10; và 45:18 (mặc dầu không luôn rõ ràng giải thích trong nhiều đoạn). Tự nói lên rằng "Tôi hằng hữu", Chúa Giê-su rõ ràng diễn tả mình với Thiên Chúa.

Như nhân cách hóa "Đức Khôn Ngoan" trong sách Châm Ngôn, Chúa Giê-su trình bày Thiên Chúa trong thời sáng thế (Cn 8:27-31). Ngài luôn hướng về Thiên Chúa (Ga,1:1-5). Ngài sẽ hiển trị đến muôn đời (Kh 11,15). Chương trình Thiên Chúa cứu loài người khỏi tội và sự chết luôn can dự bởi Người Con của Thiên Chúa. Người Con luôn kết hợp mật thiết, hoàn toàn ưng thuận với Chúa Cha liên quan đến sự cứu độ mà Ngài đã thi hành cho nhân loại.

Tất cả những điểm này có thể nghe rất là thần học và trừu tượng, nhưng dựa vào những chân lý này để cầu nguyện sẽ mang lại cho chúng ta sự chữa lành và hứa hẹn. Bởi vì Chúa Giêsu là Thiên Chúa, chúng ta có thể đặt cuộc đời ta trong tay Ngài với trọn lòng tin tưởng. Ngài yêu thương chúng ta với tình yêu trước khi tạo dựng và tự biểu lộ rõ ràng trọn vẹn nhất qua cái chết hy sinh của Ngài để chuộc lại mỗi người trong chúng ta. Chúa Giê-su không bao giở bỏ rơi những ai tín thác nơi Ngài. Khi chúng ta đụng chạm đến nhiều thử thách trong cuộc sống hàng ngày, đức tin chúng ta có thể bắt đầu lay chuyển. Để giữ thế thăng bằng, chúng ta hãy nhớ rằng "Đức Giê-su Ki-tô vẫn là một, hôm qua cũng như hôm nay, và như vậy mãi đến muôn đời." (Dt 13:8).

"Lạy Chúa Giêsu, Chúa đã biết con từ khi còn trong lòng mẹ. Con tín thác cuộc đời con cho Chúa. Con biết Chúa sẽ không bao giờ đổi thay". Bản dịch Josheph. Nguyễn Trung Thịnh

Bi 31:

Trong nhiều bài đọc sắp sửa vào tuần Thánh, chúng ta thấy Chúa Giê-su tuyên bố Ngài là Con Thiên Chúa và bị các Thượng Tế đi đến quyết định tìm giết Ngi. Trong nhn quan của họ, Cha Gi-su l người phạm thượng. Ðể tự bo chữa cho mình, Cha Giu Su đ chỉ về Cha Cha l Ðấng đ sai Ngi. Ngi thch đố với những người đối nghịch, nếu không thể chấp nhận lời của Ngài thì ít ra hy nhận ra những việc Ngi lm.

Thánh Gioan thường diễn tả kẻ thù của Chúa Giê-su là người "Do Thái". Dĩ nhiên, phần lớn những nhân vật trong các sách Phúc ­ là người Do Thái- Chúa Giê-su, mẹ Ngài, các môn đệ của Ngài, nhiều người chấp nhận Ngài, nhiều kẻ khước từ Ngài. Nhưng Thánh Gioan thường dùng thuật ngữ "Người Do Thái" để chỉ cách đặc biệt tới các vị thượng tế là người chống đối Chúa Giê-su. Rất tiếc, những câu của Thánh Gioan về sự đối nghịch hung tợn của "người Do Thái" đối với Chúa Giê-su, đôi khi được coi là một trình by tiu cực đối với tất cả người Do Thái. Qua bao nhiêu thế kỷ, hình ảnh bị xuyn tạc đ được dùng để bào chữa cho phong trào bài Do Thái- đôi khi đưa hậu quả nghiêm trọng.

Cơng Ðồng Vaticanơ 2 v cc Gio Hồng trong cc thời kỳ gần đây đ cố cơng chỉnh đốn sự hiểu lầm này và cổ v kính trọng tới người Do Thái, cả về cá nhân lẫn thập thể. Năm Thánh 2000, khi Ðức Thnh Cha Gioan Phaolơ đệ nhị tông du Thánh Ðịa, trong lễ tưởng niệm Người Do Thái bị tàn sát, Ngài đ tuyn bố: "Tơi đảm bảo với người Do Thái rằng Giáo Hội Công Giáo. ... buồn sâu xa do sự hận thù, những hành động tàn sát và biểu lộ phong trào bài Semit nhắm trực tiếp tới người Do Thái của các Kitô hữu tại bất cứ thời nào và bất cứ nơi nào.

Cũng tương tự như vậy Ðức Gio Hồng đ chủ sự buổi cầu nguyện đại kết xin tha thứ tại Vatican vào năm Thánh 2000. Ngài nói lên vai trị của tổ phụ Abraham l cha của đức tin của mọi Kitô hữu, cùng với sự kiện là nhiều Kitô hữu đ gy đau khổ cho con cháu Abraham. Trong lời cầu nguyện, Ngài "xin Chúa sự thứ tha", "chúng con ước nguyện tự cam kết để có tình anh em chn thật với con người của giao ước".

Người Do Thái vẫn luôn là người được Thiên Chúa tuyển chọn. Thiên Chúa sẽ không rút lại giao ước và lời chúc lành của Ngài trên họ. "Quả thế, khi Thiên Chúa đ ban ơn và kêu gọi, thì Người không hề đổi ý" (Rm 11:29). Chng ta hy cầu xin Thin Cha để liên kết mọi tâm hồn Kitô hữu và các người Do Thái tại mọi nơi được tình anh em chn thật.

"Lạy Cha, xin tha thứ cho chng con vì những đường lối khiến cho các thành kiến đột nhập vào tâm khảm chúng con. Xin cho chúng con biết gieo tình thương vào nơi oán thù, biết xây dựng tình anh em vo nơi chia rẽ giữa tất cả người Do Tháo và Kitô hữu".

Bi 32 :

Thật không đáng mỉa mai sao, khi món quà sự sống của Chúa Giê-su đ trở thnh như chất xúc tác để dẫn đến chính cái chết của Ngài? Những tin loan đi về sự phục sinh của Lazaro từ ci chết đ khiến cho Hội đồng công nghị Do Thái quyết định phải giết Chúa Giê-su (Ga 11: 45-53). Và như thế, giai đoạn được sắp xếp để màn bi kịch được phơi bày tại Giê-ru-sa-lem.

Thật thế, ngay cả với tên chỉ điểm để bắt người, Chúa Giê-su đ biết những tiến trình ny nằm trong chương trình của Thin Cha đ sửa soạn qua hng thế kỷ. Những tình tiết cuối cng đang xảy ra. Thời giờ đ đến để chương trình Thin Cha được hoàn thành. Cịn một thời gian ngắn, Cha Gi-su sẽ "quy tụ con ci Thin Cha đang tản mác khắp nơi về một mối" (Ga 11:52). Ngay cả ông Cai-pha, thượng tế của dân Do Thái, đ nĩi tin tri một cch vơ tình nhưng thật chính xác khi tuyên bố "các ông cũng chẳng nghĩ đến điều lợi cho các ông là: thà một người chết thay cho dân cịn hơn là tồn dn bị tiu diệt."(Ga 11:50).

Chương trình của Thin Cha trong lc ny thật tỉ mỉ lm sao! Ngay từ ban đầu cho những biến cố nhân loại khi ông bà nguyên tổ đ sa vo tội lỗi, Ngi đ cho biết ý định đầu tiên của Ngài khi nói về dịng giống của E-v sẽ đánh đầu con rắn (St 3:12-15). Thời gian trôi qua, Thiên Chúa đ nĩi qua nhiều ngơn sứ khc nhau về "Ðấng được xức dầu" (Is 61:1-2), một người tôi trung chịu đau khổ có vẻ bí ẩn" (Is 42:1-9) là "Người đ bị đâm vì chng ta phạm tội, bị nghiền nt vì chng ta lỗi lầm. .... như chiên bị đem đi làm thịt" (Is 53:5,7). Bây giờ thời gian hoàn thành đ đến, và kẻ hành hạ Chúa Giê-su là chính những người phát động những biến cố mà chúng ta sẽ làm sống lại trong Tuần Thánh sắp tới.

Khi bạn nhìn ln một cy thập gi, bạn thấy gì? Tột điểm của chương trình Thin Cha hứa, được hoàn thành cách đây đ lu phải khơng? Cơng việc của Cha Cha yu thương là Ðấng đ hnh động trong thời gian rất dài để mang bạn trở về với Ngài không? Hay chỉ là một người đàn ông tốt lành chết yểu? Qua cây thập tự, cả thế giới đ được cứu rỗi. Mỗi con người nam và nữ được mời gọi để cảm nhận tình lin kết thn mật với Thin Cha. Cha ta hy hướng nhìn ln thập gi mỗi ngy trong tuần ny v xin Cha Thnh Linh mở rộng tầm mắt chng ta.

"Lạy Cha, thật diễm phúc dường bao con được hưởng hồng ân cứu độ của Chúa! Xin cảm tạ Chúa vì đ khơng bỏ rơi con trong lúc con phạm tội nhưng sai Người Con của Chúa đến cứu chuộc con trên thập giá".

Bi 33:(Trích từ bi giảng của Thnh Leo Cả)

D sang, d hn đến đâu, không người nào bị chối từ chia sẻ vinh quang của thập giá. Máu Thánh Ðức Kitơ đ dập tắt lưỡi gươm nóng đỏ đang canh giữ đường đến cây trường sinh (St 3:24). Ðm đen tội lỗi xưa được nhường chỗ cho ánh sáng chân thật, và người Kitô hữu được mời gọi chia sẻ sự giàu sang nơi thiên đường. Tất cả những ai được tái sinh, đều có con đường mở ra trước mặt dẫn về quê hương, từ nơi mà họ đ bị lưu đầy.

Lịng sng kính thật sự vì sự thương khó của Chúa có nghĩa là hướng tâm hồn chúng ta lên Chúa Giê-su bị đóng đinh và nhận ra nơi Ngài bản tính nhân loại của chúng ta. Là Thiên Chúa, Ngài đ mang lấy bản tính nhn loại chng ta để nên dấu chỉ Ngài rất yêu thương thế gian và không để người nào không được hưởng lịng xĩt thương của Ngài.

Ai khơng thể nhận ra Chúa Kitô đ mang chính bản tính yếu đuối? Ai sẽ không nhận ra Ðức Kitơ cng ăn uống và ngủ nghĩ, cùng có nỗi buồn và rơi lệ vì tình thương là những tiêu chuẩn bản tính của một người nô lệ? Ðĩ khơng phải l bản tính của một người nô lệ đ mang vết thương thời tiền sử được chữa lành và được tẩy sạch sự ô nhục của tội lỗi sao?

Thân xác nằm bất động tại ngôi mộ là của chúng ta. Thân xác được sống lại vào ngày thứ ba là của chúng ta. Thân xác được lên ngự bên hữu Ðức Cha Cha l của chng ta. Nếu chng đi theo đường lối của huấn lệnh Ngài, và không xấu hổ nhận thức với một thân xác tầm thường, Ngài đ trả gi để cứu độ chúng ta, chúng ta cũng sẽ sống lại để chia sẻ vinh quang của Ngài. Lời hứa đ được ứng nghiệm: "Phàm ai tuyên bố nhận Thầy trước mặt thiên hạ, thì Thầy cũng sẽ tuyn bố nhận người ấy trước mặt Cha Thầy, Ðấng ngự trn trời"(Mt 10:32).

"Lạy Chúa Cha toàn năng của Chúa Giê-su Ki-tô chúng con, Cha đ gởi Con Cha được sinh ra bởi người phụ nữ và chết trên cây thập giá, để qua sự vâng phục của một người, sự bất hịa được hủy đi cho mọi người. Xin hướng dẫn trí lịng con bằng chn lý của Cha v củng cố đời sống chúng con bằng bài học qua cái chết của Người, để chúng con luôn sống kết hiệp với Cha trên thiên quốc Cha đ hứa".

Bi 34:

Cĩ lẽ cịn nhiều đoạn văn khác trong Cựu Ước, "Bài Ca Người Tôi Trung" cho chúng ta một thoáng nhìn về con người của Chúa Giê-su. Khi những đọan văn này được viết lần đầu tiên, "Người Tôi Trung" được coi là chính Is-ra-el, bị đàn áp và bị lưu đầy nhưng báo trước một đáp đền trong vinh quang. Tuy nhiên, Giáo Hội cũng xem những đoạn này là những lời tiên báo về Chúa Giê-su, Người tôi trung thiện ho của Thin Cha.

Trong bi thứ nhất, chng ta thấy Ðấng Messiah hứa thiết lập cơng lý trn địa cầu (Is 42:3-4). Chúa Giêsu đ thực hiện điều này không phải bằng cơn thịnh nộ hay hủy diệt báo thù nhưng với lịng kin nhẫn, thủy chung v dịu dng.

Khi đối diện với tội lỗi con người, Chúa Giê-su không bao giờ chửi rủa. Ngài không bao giờ chịu "yếu hèn" hay "chịu phục" (Is 42:4) bởi đối phương- ngay cả sự thiếu lịng tin của cc mơn đệ Ngài. Ngài đơn sơ tiếp tục tha thứ và chữa lành. Ngài không giày xéo ước muốn tự do con người. Ngài không cưỡng ép hay mánh khóe vận động bắt chúng ta chấp nhận Ngài. Thay vào đó, Ngài dành cuộc đời Ngài rao giảng và chữa lành, dạy dỗ và tha thứ, cho tới thời gian cuối cùng của cuộc đời Ngài hy sinh trên thập tự.

Cha Gi-su luơn luơn lm chủ. Ngi l Ðấng khơng hề nao nng trong mục đích của Ngài bởi thiếu lịng tin, giận dữ, ngay cả sự chối từ của những người bạn gần gũi nhất. Ngi tiếp tục dng hiến cho chng ta tình yu v lịng tha thứ.

Ngi khơng ngạc nhin trước sự thầm kín đen tối của chúng ta, những tội lỗi điên rồ của chúng ta không làm Ngài nổi giận. Ngài sẽ không lên án hay nguyền rủa. Ngài sẽ không bẻ gy cy sậy bị giập hay dập tắt ngọn bấc đang cháy sáng. Như những gì Ngi đ lm cch đây hai ngàn năm và ngay đến hôm nay Ngài cống hiến sự tha thứ và tự do.

Như chúng ta đang bước vào Tuần Thánh, tại sao không giải quyết sổ sách kế toán của bạn với Thin Cha cch r rng? Nếu bạn chưa đi xưng tội, hy vận dụng thời gian n sủng ny đ tìm sự thứ ta của Thin Cha. Hy đến với Ngài và để Ngài đem đến sự công chính trong tâm hồn bạn.

"Lạy Chúa Giê-Su, con ăn năn về những tội con. Tin tưởng trong tình yêu của Chúa, con xin Chúa tha thứ và thương xót. Xin hy đến, Lạy Chúa và thiết lập sự công chính và hịa bình của Cha".

 

Bi 35:

Chúa Giêsu là ai mà đ bị đóng đinh vào ngày Thứ Sáu Tuần Thánh và sống lại vào ngày Chúa Nhật Phục Sinh? Ðy l một cu hỏi đáng được chất vấn mỗi ngày khi chúng ta đến cầu nguyện gần Ngài. Mỗi lần chúng ta tìm cu trả lời, Cha Thnh Linh sẽ dẫn ta vo mầu nhiệm Cha Kitơ v tỏ ra nhiều hơn nữa cho chúng ta. Tuy nhiên, thường khi chúng ta đọc Kinh Thánh, chúng ta thường giới hạn Chúa Giê-su theo trí của ta khi nghĩ về Người. Tuy nhiên, Bài Ca Người Tôi Trung trong sách Isaiah, có thể cho chúng ta thoáng thấy tiên báo về Chúa Giê-su và nâng tâm trí chúng ta vào mầu nhiệm Ngôi Lời làm người, và chịu đau khổ vì chng ta.

Gi-su là ai? Người là tôi tớ Thiên Chúa được sai đến để hoàn tất mọi niềm hy vọng cho Is-ra-el. Ngài liên kết với dân Thiên Chúa được tuyển chọn đến độ Ngài mang tên của họ, Is-ra-el (Is,49,3). Ngài được ẩn dấu trong "ống tên" của Chúa Cha (Is 49:2). Và khi đến thời thuận tiện, Ngi tự tỏ mình ra cho Is-ra-el v cống hiến cho họ sự chia sẻ vinh quang của Cha Cha.

Giê-su là ai? Ngài không chỉ hoàn thành lời hứa đ lu l khơi phục Is-ra-el, Ngi cịn l "nh sng muơn dn" để đem ơn cứu độ đến tận cùng trái đất (Is 49:6). Tình yu Thin Cha qu cao cả vì sự sng tạo để Ngài trở thành người mang sự cứu độ đến tận cùng trái đất. Qua Chúa Giê-su, mỗi người trên thế giới giờ đây được mời gọi đi vào giao ước với Thiên Chúa.

Ðiều ny nghe cĩ vẻ thần học, nhưng bạn có tin rằng Thiên Chúa đ tự kết lin với bạn khơng? Bạn cĩ tin rằng giao ước tình yu m Ngi dnh cho bạn qu mạnh mẽ đến đỗi không thể phá vỡ trừ khi chính bạn muốn chọn không?

Khơng cĩ gì m Cha Gi-su khơng thể lm cho bạn? Bạn cĩ những ký ức đau buồn không? Ngài sẽ cất khỏi những day dứt của chúng bằng cách dẫn bạn qua từng bước chữa lành và tha thứ. Người được yêu đang đau khổ vì khủng hoảng đức tin chăng? Ngài sẽ lôi kéo bạn về phía Ngài khi bạn cầu nguyện, phục vụ và nhẹ nhàng đưa tay ra với những lời khuyến khích v hy vọng. Ðĩ l con người của Chúa Giê-su. Không một ai có quyền năng cứu rỗi hơn Ngài.

"Lạy Cha Gi-su, con xin phĩ thc cho sự khơn ngoan v tình yu của Cha. Nhờ Cha Thnh Linh, con muốn khước từ sự giúp đỡ chỉ dựa trên sự khôn ngoan con người. Lạy Chúa, con tin vào quyền cứu rỗi của Chúa".

Bi 36:

Thật lạ lùng bài thơ ngôn sứ diễn tả chi tiết cuộc đời Chúa Giêsu- đặc biệt trong sự thương khó của Ngài. Ðoạn sch tin tri Isaia (50:4-9) tổ điểm một hình ảnh sinh động về sự chịu đựng của Chúa Giêsu và sự đơn độc đối phó để hoàn thành sự vụ của ngài trong một thế giới đang ra sức chống đối Ngài.

Tuy nhiên, đối với Chúa Giê-su, đau khổ và chịu đựng nhân danh Thiên Chúa không phải là điều lạ thường. Ðoạn văn này cũng diễn tả tình trạng thử thách gay go mà các tiên tri phải chịu đựng để loan báo lời của Thiên Chúa cho Is-ra-el. Vì chứng từ của họ, Jeremiah, Ezekiel, Amos v nhiều vị khc đ chịu nhiều đau khổ do bàn tay của chính dân riêng các Ngài.

Tiên tri Jeremia, chẳng hạn, đ bị ném vào bùn đất, bị bỏ trong lu với hy vọng là Ngài sẽ chết đói. Ngài được cứu nhưng sau đó bị bắt cóc và giao cho Ai Cập. Cịn tin tri Elijah thì luơn bị đe dọa bị xử tử bở Hoàng Hậu Jezebel. Ngay cả tiên tri Ezekiel, cũng phải sống với những người Do Thái bị lưu đầy ở Babylon, là nơi bị x hội ruồng bỏ.

Những gì nổi bật trong sự đau khổ của Chúa Giêsu tương phản với các tiên trì ny l sự sẵn sng chấp nhận những lời tố co như thế. (Is 50: 5-6). Linh cảm bởi tình yu, Cha Gi-su đ tự chọn hiến mạng sống để mang lại tự do cho chúng ta. Ngài đ biết trước Ngài sẽ chịu cảnh ngược đi, đánh đập và chịu chết, nhưng Ngài vẫn tiến tớ. Hoàn toàn mang thân phận con người, chịu đựng đau đớn về thể xác và tâm hồn, Chúa Giê-su đ nộp mình cho những người tố giác Ngài (Is 50:6). Người vô tội chết thay cho người có tội, người tín hữu chết cho người ngoại giáo.

Ngày mai, chúng ta bắt đầu Tam Nhật Thánh, ba ngày lễ quan trọng cho sự cứu chuộc chúng ta. Trong những ngày này, chúng ta sẽ tưởng niệm sự đau khổ mà Chúa Giê-su đ hiến cho mỗi người được sinh ra con đường trở về với Thiên Chúa khỏi tình trạng lưu đày của tội lỗi. Trong các bài phụng vụ, chúng ta sẽ làm sống lại biến cố xảy ra trong những giờ cuối cùng của Chúa Giêsu và mở ra chương trình cứu độ của Thiên Chúa mà Chúa Giê-su đ tự nguyện chấp nhận. Hy dnh ngy hơm nay để suy tư về Chúa Giê-su, tôi tớ Thiên Chúa đ tự hiến mình cho qun dữ. Hy ca ngợi tự đáy lịng khi chim ngưỡng Ðức Vua Messiah chịu đau khổ của chúng ta.

"Danh Ngi thật diễm phc, lạy Cha Gi-su. Vì sự chết v sống lại của Cha, Cha đ đổ trên chúng con mọi ân sủng thần linh trên thiên quốc. Chúng con tuyên xưng Chúa là Ðấng Cha Cha yu thương, Con Thiên Chúa và Ðấng được xức dầu. Xin danh Chúa được tán dương đến muôn đời".

Bi 37: Thứ Năm Tuần Thánh.

Hôm này bắt đầu Tam Nhật Tuần Thánh, ba ngày để chúng ta làm sống lại qua đức tin và phụng vụ nhắc lại sự khổ nạn cứu độ chúng ta. Ðặc biệt hơm nay l một ngy với đầy những biểu trưng và những điệu bộ nói lên một cách hùng hồn về lịng thương xót và tình yu được nở rộ vào cuộc đời chúng ta.

Kể lại hành động Chúa Giêsu rửa chân cho các môn đồ của Ngài, Thánh Gioan đ cho chng ta thấy hình ảnh tồn bộ sứ điệp Tin Mừng. Con Thiên Chúa, hoàn hảo, trong sạch và thánh thiện, không chỉ nhập thể làm người nhưng cịn đóng vai một người tôi tớ để tẩy sạch và đổi mới chúng ta. Ngài tự khiêm hạ để chúng ta được nâng lên. Ngài nhận chức vụ thấp hèn nhất, là cái chết như một tội phạm, để chúng ta được thừa hưởng thiên quốc. Cịn bi ca ngợi no cĩ thể nĩi ln tình yu như thế? Liệu chúng ta phải đền bù lại món nợ ấy thế nào?

Sau khi rửa chân cho các môn đồ, Ngài vẫn chưa coi là đủ, Chúa Giêsu đ tiến thm một bước nữa bằng cách hiến chính thân và máu Ngài cho chúng ta. Nếu như cử chỉ thứ nhất loan báo trước về sự hy sinh tình yu m Ngi sẽ dnh cho chng ta, thì cử chỉ thứ hai ny thật sự mời gọi chng ta đồng tham dự vào sự cứu chuộc. Khi nói "Hy nhận lấy m ăn, hy nhận lấy m uống" Chúa Giê-su đang kêu gọi chúng ta đồng hành với sự chết và phục sinh của Người. Ngài đang mời gọi chúng ta hy từ bỏ tội lỗi v để đời sống của Ngài trở thành đời sống trong chúng ta. Ngài để chúng ta tự do lựa chọn. Liệu chúng ta sẽ hưởng lấy sự tốt lành của Người, hay là chúng ta vẫn tự mn v sống cơ lập khỏi tình yu của Thin Cha trong những ngy đời của chúng ta?

Ðy l ngy nhắc lại sứ điệp căn bản của Tin Mừng. "Ðức Gi-su biết rằng: Cha Cha đ giao phĩ mọi sự trong tay Người, Người bởi Thiên Chúa mà đến, và sắp trở về cùng Thiên Chúa" (Ga 13:3). Chúa Giê-su hiến đời Ngài trên Thánh Giá để nên lễ hy sinh hịa giải vì chng ta. Ngi đ chết cho ci chết m lẽ ra chng ta phải chết. Ci chết của Ngi đ tiu diệt bản tính sa ng của chng ta v để chúng ta có thể sống lại với Người trong cuộc sống mới. Bạn có nhận ra Ngài đ hiến cuộc đời Ngài cho bạn không? Bạn có để cho Ngài rửa chân bạn- giải thoát bạn khỏi tội và biến đổi tâm hồn bạn không?

"Lạy Chúa Giêsu, thật bàng hoàng để Chúa tự hạ rửa chân con v hiến mình Ngi vì tội con! Xin rửa tm hồn con mọi cản trở để tình yu Cha ngự trong con".

Bi 38: Thứ Su Tuần Thnh.

Thật đau buồn khi tưởng niệm những biến cố ngày hôm nay, một ngày cử hành long trọng. Vì chng ta khơng thể nghĩ về thnh gi nếu không hồi tưởng lại những gì về sự chết của Cha Gi-su đ hồn thnh vì chng ta. Cha Gi-su Ki-tơ, vị thượng tế cao cả, đ biết đến sự yếu hèn của chúng ta nên đ tận hiến hy sinh trọn vẹn vì tội chng ta. Ci chết của Người là sự giải hoà chúng ta với Thiên Chúa. Thánh Giá Ngài là nhịp cầu bắc qua vực thẳm bị khắc sâu bởi tội, đặt chúng ta vào ci chết vì chống lại Thin Cha v kết hiệp chng ta một lần nữa với tình yu thương của Chúa Cha. Trên chiếc cầu này, xin cho chúng ta cùng với Chúa Giê-su đi qua ci chết để vào ci trường sinh.

Cha Gi-su l Ðấng hồn tất mọi lời tin tri, lời hứa v ý định của Chúa Cha. Thánh Giá Ngài là nơi gặp gỡ của sự công bằng và lịng thương xót, của sự phán xét và quyền tối thượng. Không có thánh giá sẽ không có sự cứu độ, không có giáo hội, không có sự tha thứ, không có hịa giải, khơng cĩ hy vọng. Mọi sự l trung tm điểm nơi sự chết và phục sinh của Người.

Thánh giá, là trung tâm đời sống của Chúa Giê-su, cũng có nghĩa là trung tâm đời sống chúng ta nữa. Mọi chúc lành chúng ta nhận nơi Thiên Chúa, mọi bài học Ngài dạy chúng ta, mọi ân sủng Ngài ban cho chúng ta để lánh xa đời sống cũ; tất cả có nghĩa là mang chúng ta lại gần đến cây thánh giá ban sự sống. Mọi biến cố trong cuộc đời chúng ta là một cơ hội để tiến bước tới thập giá.

Mọi hành động yêu thương đối với tha nhân mà chúng ta dành ra trong cuộc sống, mang chúng ta tiến bước gần tới cây thập giá. Ở đó, nơi cây thập giá, chúng ta bước vào cuộc sống mới, đem lại tình mật thiết mới với Thin Cha m Cha Gisu đ mang lại chng ta.

Hôm nay, vào ngày thánh này, liệu chúng ta có thể miệt mài hơn ôm cây thánh không? Chúng ta có cầu xin Chúa Giê-su để diệt trừ tội lỗi nơi chúng ta không ? Ðĩ l lý do m Ngi đ đến và đ chết. Ðĩ l lý do sau mỗi php lạ Ngi thi hành, sau mỗi dụ ngôn Ngài đ nĩi, v sau mỗi một điều luật Ngài trao ban. Hy ơm trọn cy thập gi của Ngi v nhận mọi hồng n Ngi muốn trao ban cho chng ta.

"Lạy Chúa, con là chi mà Chúa phải ân cần khước từ đời sống của Chúa vì con? Cm tạ Cha đ ban cho con ân sủng để kéo con lại gần Chúa và tự thú tội những tội con. Với lịng tin nơi tình yu của Cha, con xin mở tm hồn con cho Cha. Xin hy đến và tỏ cho con thấy mọi điều đ lm con xa lìa Cha. Xin hy thay thế mọi phương cách tự tư tư lợi của con bằng tình yu thương của Chúa".

Bi 39: Vọng Phục Sinh

Hôm nay chúng ta cảm nghiệm sự lặng lẽ nơi ngôi mộ Chúa Giêsu "đ ngủ trong ci chết", như yên nghỉ từ sự thương khó nhục hình của Ngi. Rồi, đêm nay trong đêm vọng Phục Sinh, chúng ta sẽ tuyên xưng qua kinh Tin Kính rằng Cha Gi-su từ ci chết chỗi dậy, đạp đổ cổng thành, phá vỡ vịng vy của ma quỉ nơi con người. Trọn đêm nay, chúng ta sẽ chờ đợi điều báo trước về sự phục sinh của Người để giải thoát chúng khỏi tai ương của tội lỗi và phục hồi chúng ta trong đời sống với Thiên Chúa.

Chúng ta cũng được nhắc lại trong đêm nay là đêm dân Israel vượt qua biển Ðỏ. Trốn vo sa mạc sau khi Thần Tru Diệt đ bỏ qua, họ thấy mình bị bao vy, phía trước là biển, đằng sau là quân Pha-ra-ô. Ở đó họ canh thức, được Thiên Sứ của Thiên Chúa và cột mây gìn giữ họ (x Xh 14:19). Ðể hy vọng được giải thoát họ ai oán thế nào! Ðời sống họ trong tình trạng nguy cập, v họ cĩ thể đứng vững qua đức tin (x Xh 14:14). Không cịn cch chi họ cĩ thể lm, mọi sự phĩ thc vo Thin Cha.

Môn đồ của Chúa Kitô gặp tình trạng tương tự sau khi Ngài bị đóng đinh vào thập giá. Không cịn cch no, cho dẫu sự ăn năn của Phêrô đ chối Thầy, cho dẫu người phụ nữ chuẩn bị dầu thuốc xức cho Chúa, cũng không thể mang Thầy mình hồi sinh. Chẳng cịn cch no khc hơn là chờ đợi. Nhưng thật đúng lúc này, tận cuối mọi khả năng con người, thì quyền năng Thiên Chúa tỏa rạng vinh quang nhất. Khi chúng ta bị chết trong tội lỗi, Ngài gởi người Con để cứu chúng ta, Chúa Giê-su cứu chúng ta. Khi chúng ta bị nơ lệ cho ma quỉ, Thin Cha cởi gỡ xiềng xích cho chng ta.

Chng ta hy đợi Thiên Chúa đêm nay, để quyền năng của Ngài lay động chúng ta. Chúng ta chỉ "ngồi yên" và để Ngài hành động cho chúng ta. Ngay cả nếu chúng ta không thể tham dự đêm canh thức, hy dnh thời gian chiều ny "theo di" v chờ đợi ánh sáng Chúa Kitô tỏa vào tâm hồn chúng ta và chiếu rọi vào thế giới chúng ta. Ðy l "đêm cực thánh, được Thiên Chúa chọn để Chúa Kitô sống lại từ ci chết" (Cơng bố Tin Mừng Phục Sinh- Mừng Vui Ln).


"Lạy Cha Kitơ l Ðấng cứu độ chúng con, tất cả niềm hy vọng chúng con đặt nơi Chúa! Qua Phục Sinh của Chúa, dẫn đưa chúng con khỏi tội lỗi và sợ hi. Biển đổi gánh sầu thương chúng con thành niềm vui. Lạy Chúa xin hồi phục chúng con để được sống trong Cha".

Bi 40: Phục Sinh của Cha Kitơ.

Anh chị em thân mến, hôm nay là ngày lễ, ngày vinh quang trên thiên quốc. Các thiên thần đang vui mừng và mời chúng ta cùng hoan hỉ với các Ngài. Chương trình của Thin Cha, ẩn dấu qua nhiều thời đại, được tỏ lộ: Nhờ Chúa Giêsu, chúng ta cùng được kết hợp với Thiên Chúa. Mặc dầu đ chết đi vì tội lỗi, chng ta nay được sống lại, cứu khỏi mọi sự cách biệt giữa chúng ta với người Cha. Mọi chướng ngại đ được cất khỏi, và chúng ta có thể trực tiếp cảm nghiệm tình yu của Thin Cha, Cha chng ta trn trời.

Trong Ðức Kitơ phục sinh, Thin Cha đ tỏ hiện quyền lực vơ bin thống trị tội lỗi, Satan v sự chết. Ba điều đó đ giam giữ con người vì sự bất tun của tổ tin thuở xưa cho tới ngày Lễ Phục Sinh đầu tiên. Với khả năng chúng ta, chúng ta không có cách nào phục hồi sự tương giao với Thiên Chúa, Ðấng dựng nn chng ta để sống với Người. Nhưng cảm tạ Thiên Chúa ( hy vui mừng với cc thin thần ngay từ by giờ!), chng ta được cứu rỗi! Trên thập giá, Chúa Giêsu đ chuộc tội chúng ta. Nhờ việc sống lại, Người đ đánh bại thần dữ và tiêu diệt quyền lực sự chết trong mọi thời. Ngài đ "được sống lại từ ci chết nhờ quyền năng vinh hiển của Chúa Cha, thì chng ta cũng được sống một đời sống mới." (Rm 6:4).

Ðy thật sự l tin vui! Sự vinh quang m chng ta mừng lễ hơm nay- lý do cho sự vui mừng của chng ta- được thể hiện cho mọi ngày. Cứu chuộc khỏi tội lỗi, giải thoát khỏi cảnh nô lệ, chiến thắng khỏi thói hư tật xấu: Ðy l di sản của chng ta. Ðy l đời sống mới cho tất cả mọi người chúng ta. Mừng ngày vui, nhưng không chỉ giới hạn cho ngày hôm nay. Niềm vui mừng là di sản của chúng ta là con cái Thiên Chúa được cứu độ. Ðĩ l quyền thừa kế của chng ta l một thụ tạo mới trong Ðức Kitơ. Ðĩ l dấu ấn để chúng ta dám tuyên bố là những người theo Chúa Giê-su.
Hy dọn tm trí cho những điều trên. Lời hứa phục sinh là chúng ta được vui mừng, bất kể chúng ta đang phải đối diện với cái gì. Hơm nay, khi cc trẻ em khĩ chịu vì ăn quá nhiều kẹo hay trong bữa ăn tối khi chúng ta ngồi cạnh với thân nhân mà chúng ta khó thương nổi, chúng ta có thể vui mừng. Gặp khó khăn tại công sở hay ở nhà, chúng ta có thể vui mừng. Giữa mối lo âu hay băn khoăn về bất kỳ cái gì, chng ta cĩ thể vui mừng. Cịn hơn là nụ cười và say mê đáp alleluia, niềm vui tự biểu lộ trong niềm an bình, sức mạnh v hy vọng đến từ cảm nghiệm quyền lực phục sinh của Chúa Giêsu trong cuộc đời chúng ta.

Ngày qua ngày, những biến cố xảy ra đe dọa niềm vui chúng ta. Nhưng chúng ta có thể duy trì niềm vui bằng cch xc nhận chân lý trong tâm trí chúng ta: Quyền năng của Thiên Chúa không đo lường được; Chúa Giê-su đ đánh bại tội lỗi và sự chết; chúng ta là những đứa trẻ thân yêu của Ngài. Duy trì niềm vui chng ta đôi khi lại là một cuộc chiến, nhưng là một cuộc chiến đáng giá để chiến đấu. Nhiều điều có thể âm mưu đưa ra rằng sứ điệp Chúa Giê-su Phục Sinh là không đáng tin hay sai lạc.

Chúng ta phải chiến đấu như thế nào cho sự xói mịn sự tin tưởng này? "Anh em hy hướng lịng trí về những gì thuộc thượng giới, chứ đừng chú tm vo những gì thuộc hạ giới.(Cl 3:2). Hy đọc Kinh Thánh. Cầu nguyện. Hy gợi lại chn lý đức tin thường xuyên trong ngày. Nên nhớ rằng, chỉ một cách đơn giản rằng Thiên Chúa thương yêu chúng ta. Ngài đ ban Cha Gisu để cứ chúng ta và hồi phục lại những gì đ mất vì sự bất tun (x Ga 3:16-17). Sự chết của Cha Gisu đ hịa giải chng ta với Cha Cha (x Rm 5:10). Phục sinh của Người phá vở quyền lực của tội lỗi và sự chết trong đời sống chúng ta và làm chúng ta trở nên con người mới (x 1 Cr 15:56-57). Ðấng đ bắt đầu thực hiện nơi anh em một công việc tốt lành như thế, cũng sẽ đưa công việc đó tới chỗ hoàn thành cho đến ngày Ðức Ki-tơ Gi-su quang lm.(Pl 1:6)

Những lời này là sự thật, bất kể đến những biến cố trong đời sống làm bạn nao núng. Khi hoang mang, mất can đảm, hay tuyệt vọng bắt đầu ăn sâu vào ý nghĩa của bạn, hy đối chất nó với sự thật. Càng lúc chúng ta dám chiến đấu với những tâm tưởng chúng ta, càng lúc chúng ta chắc chắn giữ được niềm vui của chúng ta. Tựa hồ đi chạy bộ hay cử tạ, quyết tâm có thể làm được. Trước (sự tập luyện) càng nặng nề hằng ngày, một người mới bắt đầu sẽ cảm thấy vụng về, hay quá yếu ớt hay cẩu thả để tuân theo. Thật là đúng, càng tập luyện chúng ta càng tin tưởng. Hy thử điều đó hôm nay, khi niềm vui Phục Sinh được vang dội qu r rng. Hy cầu xin Cha Thnh Linh để nhắc nhở chúng ta tập trung tâm trí vào những điều trên. Ngài sẽ giúp bạn và niềm vui của bạn sẽ gia tăng vô hạn.

"Lạy Cha, tất cả vinh quang v ca ngợi thuộc về Cha! Hơm nay con vui mừng cng với cc Thin Thần v cc Thnh của Cha v ca ngợi Cha vì đời sống mới mà Cha đ ban cho con qua Cha Gi-su. Cảm tạ Cha đ bẻ gy xích xiềng đ trĩi buội con. Cm tạ Cha đ tỏ ra cho con".

J.B. Đặng Minh An dịch

 
HỌC HỎI SỨ ĐIỆP MÙA CHAY 2018 ( TT )



 30. Hỏi : Những thiên đường theo kế hoạch của Thiên Chúa, được tạo ra để làm gì, lại bị gào thét bởi các động cơ đang đổ xuống như mưa những công cụ của chết chóc ?

          - Thưa : Tán dương ngợi khen Ngài.

 

31. Hỏi : Điều gìcũng có thể trở nên nguội lạnh trong cộng đoàn của chúng ta ?

          - Thưa : Tình yêu.

 

32. Hỏi : Trong Tông Huấn Niềm Vui Tin Mừng, Đức Thánh Cha Phanxicô đã tìm cách mô tả những dấu hiệu rõ nhất về những dấu hiệu thiếu vắng tình yêu này là những gì ? (NVYT 76-109)

          - Thưa : Ích kỷ và tinh thần lười biếng, bi quan vô ích, cám dỗ chỉ quan tâm đến mình, chiến tranh liên lỉ giữa chúng ta và tinh thần thế gian khiến chúng ta chỉ quan tâm đến vẻ bề ngoài, và do đó giảm đi lòng nhiệt thành truyền giáo của chúng ta.

 

Chúng ta nên làm gì ?

 

33. Hỏi : Giáo Hội là Mẹ và là Thầy luôn với phương thuốc đắng của sự thật, cung cấp cho chúng ta trong Mùa Chay này phương dược chữa lành bằng những điều gì ?

          - Thưa : Bằng lời cầu nguyện, bố thí và ăn chay.

 

34. Hỏi : Bằng cách dành nhiều thời gian hơn để làm gì, chúng ta cho phép tâm hồn mình nhận ra những lời dối trá bí ẩn và những hình thức tự lừa dối chính mình và sau đó tìm lại được niềm an ủi của Thiên Chúa ban tặng ?

          - Thưa : Cầu nguyện.

 

35. Hỏi : Thiên Chúa là Cha chúng ta hằng muốn chúng ta sống thế nào ?

          - Thưa : Tốt đẹp.

 

36. Hỏi : Điều gìgiải thoát chúng ta khỏi tham lam và giúp chúng ta nhìn nhận người hàng xóm là anh chị em của chúng ta ?

          - Thưa : Bố thí.

 

37. Hỏi : Đức Thánh Cha rất mong muốn điều gì trở nên phong cách sống đích thực cho mỗi người chúng ta ?

          - Thưa : Bố thí.

 

38. Hỏi : Đức Thánh Cha mong chúng ta, những Kitô hữu, theo mẫu gương của các Tông Đồ và thấy việc chia sẻ của cải của chúng ta là một bằng chứng hữu hình về sự gì ?

          - Thưa : Sự hiệp thông.

 

39. Hỏi : Thánh Phaolô kêu gọi các tín hữu nào để lạc quyên cho cộng đoàn Giêrusalem từ những lợi tức mà chính họ nhận được ?

          - Thưa : Tín hữu Côrintô (x. 2Cr 8,10).

 

40. Hỏi : Khi làm gì, chúng ta chia sẻ sự chăm sóc quan phòng của Chúa dành cho mỗi người con của Ngài ?

          - Thưa : Bố thí.

 

41. Hỏi : Nếu qua tôi mà Thiên Chúa hôm nay giúp ai đó, thì mai này chắc hẳn Ngài sẽ cung ứng những nhu cầu của tôi ? Bởi chẳng có ai quảng đại hơn ai ?

          - Thưa : Thiên Chúa.

 

42. Hỏi : Điều gìkhiến xu hướng bạo lực của chúng ta yếu dần ; nó giải phóng chúng ta và đó là cơ hội quan trọng để chúng ta thăng tiến ?

          - Thưa : Ăn chay.

 

43. Hỏi : Điều gìcho phép chúng ta trải nghiệm những gì mà người nghèo đói phải chịu đựng ?

          - Thưa : Ăn chay.

 

44. Hỏi : Ăn chay thể hiện chính điều gì của chúng ta, vì cuộc sống trong Thiên Chúa ?

          - Thưa : Sự đói khát thiêng liêng.

 

45. Hỏi : Ăn chay thức tỉnh chúng ta. Ăn chay làm cho chúng ta chú tâm hơn đến những ai ?

          - Thưa : Thiên Chúa và người lân cận.

 

46. Hỏi : Điều gìlàm sống lại khao khát của chúng ta để vâng lời Thiên Chúa, duy chỉ có Ngài mới có khả năng thỏa mãn cơn đói của chúng ta ?

          - Thưa : Ăn chay.

 

47. Hỏi : Đức Thánh Cha Phanxicô cũng muốn lời mời của ngài vượt ra ngoài ranh giới của Giáo Hội Công giáo, và đến được với tất cả những ai ?

          - Thưa : Những người nam nữ có thiện chí, những người mở lòng lắng nghe tiếng Chúa.

 

48. Hỏi : Có lẽ giống như chính chúng tôi, các bạn đang hoang mang trước những điều gì ?

          - Thưa : Trước cái ác đang lây lan trên thế giới, bạn quan tâm đến sự băng giá vốn làm tê liệt những tâm hồn và hành động, và bạn cảm thấy mình yếu đuối trong cảm thức của chúng ta thuộc về thành viên của một gia đình nhân loại.

 

49. Hỏi : Đức Thánh Cha Phanxicô mời gọi những người thiện chí, những người lắng nghe Lời Thiên Chúa làm gì cùng chúng ta dâng lời cầu khẩn trước Thiên Chúa, trong việc ăn chay và trao ban bất cứ những gì bạn có thể cho anh chị em của chúng ta đang có nhu cầu ?

          - Thưa : Hiệp thông.

 

Ngọn lửa Phục Sinh

50. Hỏi : Đức Thánh Cha Phanxicô thôi thúc các thành phần của Giáo Hội hãy đón lấy hành trình Mùa Chay với lòng nhiệt tình hăng hái, để duy trì những việc gì ?

          - Thưa :Việc bố thí, ăn chay và cầu nguyện.

 

51. Hỏi : Nếu lúc nào đó điều gì dường như lụi tàn trong tâm hồn ta, hãy biết rằng điều ấy không bao giờ xảy ra trong thánh tâm Thiên Chúa ?

          - Thưa : Ngọn lửa bác ái.

 

52. Hỏi : Một trong những thời khắc của ân sủng sẽ đến một lần nữa trong năm nay, sáng kiến “24 Giờ cho Chúa”, theo đó, mời gọi toàn thể cộng đoàn Giáo Hội hãy cử hành bí tích gì trong bối cảnh tôn thờ Thánh Thể ?

          - Thưa : Bí tíchHòa Giải.

 

53. Hỏi : Trong năm 2018 này, được gợi hứng từ lời của Thánh Vịnh 130 câu 4, “Nơi Chúa có ơn tha thứ”, sự kiện này sẽ diễn ra từ Thứ Sáu, 9 Tháng 3 đến Thứ Bảy, 10 Tháng 3. Trong mỗi giáo phận, ít nhất có một nhà thờ mở cửa liên tục trong hai mươi bốn giờ nhằm tạo cơ hội cho việc gì ? 

          - Thưa : Cho việc chầu Thánh Thể lẫn bí tích Hoà Giải.

 

54. Hỏi : Trong Đêm Vọng Phục Sinh, chúng ta sẽ làm gì ?

          - Thưa :Tưởng niệm một lần nữa nghi thức rước ánh sáng của ngọn nến Phục Sinh.

 

55. Hỏi : “Nguyện xin ánh sáng Đức Kitô vinh hiển chiếu giãi ánh sáng của Người để phá tan bóng tối đang bao phủ lòng trí chúng ta”, và có thể cho chúng ta sống lại kinh nghiệm của các môn đệ ở đâu ?

          - Thưa : Trên đường Emmau.

 

56. Hỏi : Bằng cách lắng nghe Lời Chúa và nhận lãnh của ăn từ bàn tiệc Thánh Thể, xin cho tâm hồn chúng ta ngày càng hăng hái trong những nhân đức gì ?

          - Thưa : Đức tin, đức cậy và đức mến.

 

Với tình yêu và lời hứa cầu nguyện của tôi dành cho tất cả anh chị em, tôi chúc lành cho anh chị em. Xin đừng quên cầu nguyện cho tôi.

Từ Vatican, ngày 1 tháng 11 năm 2017

Lễ Các Thánh Nam Nữ

Đức Giáo Hoàng Phanxicô

 

Chuyển ngữ: Giuse Phạm Đình Ngọc SJ

Nguồn: zenit.org

 

 

 

 

 

 

*********************

 

 

Sứ điệp Mùa Chay 2018 của ĐGH Phanxicô

Hỏi Thưa

 Nguyễn Thái Hùng

 

Vì tội ác gia tăng,

nên lòng yêu mến của nhiều người sẽ nguội đi.”

(Mt 24,12)

 

01. Hỏi : Chủ đề Sứ điệp Mùa Chay 2018 của ĐGH Phanxicô là gì ?

          - Thưa : “Vì tội ác gia tăng, nên lòng yêu mến của nhiều người sẽ nguội đi.”

 

02. Hỏi : “Vì tội ác gia tăng, nên lòng yêu mến của nhiều người sẽ nguội đi” được trích từ sách Tin mừng nào ?(Mt 24,12)

          - Thưa : Tin mừng thánh Mátthêu.

 

03. Hỏi : Trong việc chuẩn bị của chúng ta cho mùa Phục Sinh, Thiên Chúa trong sự quan phòng của Ngài, trao ban cho chúng ta mỗi năm một mùa Chay như là gì ?

          - Thưa : Như là “dấu chỉ bên ngoài cuộc hoán cải của chúng ta”.

 

04. Hỏi : Mùa Chay mời gọi và cho phép chúng ta điều gì ?

          - Thưa : Hết lòng trở về với Thiên Chúa và trong mọi khía cạnh của đời sống chúng ta.  

 

 

05. Hỏi : Với Sứ điệp Mùa Chay năm nay, một lần nữa Đức Thánh Cha Phanxicô muốn giúp toàn Giáo Hội trải nghiệm  thời gian ân sủng với điều gì ?

          - Thưa : Niềm vui và trong chân lý.

 

06. Hỏi : Gợi ý của Đức Thánh Cha Phanxicô xuất phát từ Lời của Chúa Giêsu trong Tin Mừng theo thánh Mátthêu với câu gì ?(Mt 24,12)

          - Thưa : “Vì tội ác gia tăng, nên lòng yêu mến của nhiều người sẽ nguội đi.”

 

07. Hỏi : “Vì tội ác gia tăng, nên lòng yêu mến của nhiều người sẽ nguội đi.” (Mt 24,12)Những lời này xuất hiện trong bài giảng của Đức Kitô về điều gì ?

          - Thưa : Thời cánh chung.

 

08. Hỏi : “Vì tội ác gia tăng, nên lòng yêu mến của nhiều người sẽ nguội đi.”(Mt 24,12)Những lời này xuất hiện trong bài giảng của Đức Kitô về thời cánh chung. Chúng được giảng tại đâu ?

          - Thưa : Tại Giêrusalem, trên núi Cây Dầu nơi bắt đầu cuộc khổ nạn của Chúa chúng ta.

 

09. Hỏi : Trong lúc trả lời câu hỏi của các môn đệ, Chúa Giêsu tiên báo về cuộc khổ nạn lớn lao và mô tả tình cảnh ấy trong cộng đoàn tín hữu mà họ có lẽ dễ tìm thấy : Giữa muôn vàn thử thách lớn lao, ai sẽ lèo lái dân vào con đường sai lạc ?

          - Thưa : Các ngôn sứ giả.

 

10. Hỏi : Giữa muôn vàn thử thách lớn lao, các ngôn sứ giả sẽ lèo lái dân vào con đường sai lạc và điều gì vốn là điều cốt lõi của Tin mừng lại ngày càng trở nên lạnh nhạt trong lòng nhiều người ?

          - Thưa : Tình yêu.

 

Những ngôn sứ giả

 

11. Hỏi : Các ngôn sứ giả có thể xuất hiện như những “người quyến rũ xảo quyệt”, họ lợi dụng cảm xúc con người để làm gì ?

          - Thưa : Để bắt kẻ khác làm nô lệ và rồi họ dẫn người ta đến nơi họ muốn.

 

12. Hỏi : Đã biết bao con cái của Thiên Chúa bị mê hoặc bởi những thú vui chóng qua, lầm tưởng đó là gì ?

          - Thưa : Hạnh phúc đích thực.

 

13. Hỏi : Có biết bao người nam nữ rơi vào ước vọng giàu sang khiến họ lệ thuộc vào những điều gì ?

          - Thưa : Lệ thuộc vàolợi lộc và những thú vui tầm thường.

 

14. Hỏi : Có biết bao người trong đời sống tin rằng mình có đủ mọi thứ, và cuối cùng họ lại bị bó chặt trong điều gì ?

- Thưa : Trong nỗi cô đơn.      

 

15. Hỏi : Ngôn sứ giả cũng có thể là những người thế nào khi họ đưa ra những giải pháp dễ dàng trước mắt để rồi đau khổ sớm minh chứng cho những điều ấy hoàn toàn là vô ích ?

          - Thưa : “Kẻ bịp bợm”.

 

16. Hỏi : Có những ai bị mê hoặc bởi thần dược của nghiện ngập, của những tương quan hời hợt, của những dễ dãi nhưng lợi ích lại không thực ?

          - Thưa : Nhiều người trẻ.

 

17. Hỏi : Có bao người chìm đắm trong cuộc sống “ảo tưởng”, trong những tương quan dường như nhanh chóng và đơn giản, chỉ để chứng minh điều gì ?  

          - Thưa : Chỉ để chứng minh điều vô nghĩa.

 

18. Hỏi : Những kẻ lừa đảo rao bán những thứ không có giá trị thực sự, họ cướp tất cả những gì quý giá nhất của con người là những gì ? 

          - Thưa : Phẩm giá, tự do và khả năng yêu thương.

 

19. Hỏi : Những kẻ lừa đảo nại vào sự kiêu căng, tin tưởng của ta ở vẻ bên ngoài, nhưng sau hết, họ chỉ khiến cho chúng ta nên thế nào ?

          - Thưa : Khờ dại.

 

20. Hỏi : Để lòng con người ra hoang mang, ai là “kẻ nói dối và là cha của kẻ dối trá” (Ga 8,44), đã luôn cho thấy điều ác là tốt lành, sự giả dối hệt như sự thật ?

          - Thưa : Ma Quỷ.

 

21. Hỏi : Chúng ta phải học nhìn thật kỹ vào chiều sâu và nhận ra những gì để lại dấu ấn tốt đẹp và lâu dài trong tâm hồn ta, bởi vì điều ấy đến từ ai và thực sự vì lợi ích của chúng ta ?

          - Thưa : Thiên Chúa.

 

Một tâm hồn băng giá

22. Hỏi : Trong mô tả của mình về Hỏa Ngục, Dante Alighieri khắc họa Satan thế nào ?

          - Thưa : Ngồi trên ngai tòa băng giá, trong sự cô lập lạnh lùng và khó ưa.

 

23. Hỏi : Những dấu hiệu nào cho thấy điều gì của chúng ta đang bắt đầu lạnh giá ? 

          - Thưa : Tình yêu.

 

24. Hỏi : Không có gì phá hủy lòng bác ái ghê gớm cho bằng điều gì ?

          - Thưa : Lòng ham mê tiền bạc.

 

25. Hỏi : Không có điều gì phá hủy lòng bác ái ghê gớm cho bằng lòng ham mê tiền bạc,“gốc rễ của mọi tội lỗi” (1Tm 6,10). Việc chối bỏ ai và bình an của Ngài sớm theo sau ?

          - Thưa : Thiên Chúa.

 

26. Hỏi : Chúng ta ưa thích nỗi sầu khổ của ta hơn là tìm kiếm sự thoải mái trong đâu ?

          - Thưa : Lời Chúa và các bí tích.

 

27. Hỏi : Tất cả những thứ ấy khiến chúng ta chống lại bất cứ ai đe dọa đến “những điều chắc chắn” của chúng ta như là những gì ?

          - Thưa : Bào thai, người cao tuổi và ốm yếu, người di cư, người xa lạ giữa chúng ta, hoặc người hàng xóm không sống như mong đợi của chúng ta. 

 

28. Hỏi : Chính điều gì cũng trở nên một chứng tá thầm lặng cho sự nguội lạnh lòng bác ái này ?

          - Thưa : Thiên nhiên.

 

29. Hỏi : Trái đất bị đầu độc bởi rác thải, nó bị vứt bỏ vì sự gì ?

          - Thưa : Vì sự bất cẩn hoặc vì lợi ích cá nhân.

 

30. Hỏi : Những thiên đường theo kế hoạch của Thiên Chúa, được tạo ra để làm gì, lại bị gào thét bởi các động cơ đang đổ xuống như mưa những công cụ của chết chóc ?

          - Thưa : Tán dương ngợi khen Ngài.

 

TÓM TẮT BA BÀI TĨNH TÂM MÙA CHAY

I. TẠI SAO PHẢI TĨNH TÂM? (ngày thứ nhất)

Để trả lời câu hỏi này, tôi muốn gởi đến anh chị em và các bạn câu hỏi khác: Dấu chỉ nào để biết một Kitô hữu?

Hiểu theo nghĩa mặt chữ thì: Kitô hữu là người có Chúa Kitô.

Trong nước rửa tội, ta gia nhập Hội Thánh của Chúa Kitô. Chúa Kitô là Đầu, Hội Thánh là thân thể của Người. Nếu Đầu là Con Thiên Chúa, thân thể một khi kết hợp với Đầu, trở thành Kitô hữu, cũng lại là Con của Thiên Chúa. Vì Đầu là con, thân thể cũng là con.

Nhưng dù đã là Con Thiên Chúa, đã thuộc về Chúa Kitô, đó chưa phải là điểm kết của tên gọi Kitô hữu. Hay nói ngược lại, không bao giờ ta được phép dừng lại ở một lối suy nghĩ rằng: vì tôi là Kitô hữu, đã được rửa tội, đương nhiên tôi là Con Thiên Chúa. Vì là người có Chúa Kitô ở cùng, thế là đủ, tôi sẽ an tâm trong lối sống của mình. Chẳng cần nỗ lực, chẳng cần cố gắng làm chi.

Hiểu như thế là sai lầm, là làm cớ vấp phạm cho nhiều người quanh ta, nhất là những người mà ta lãnh trách nhiệm giáo dục họ, những anh chị em bên ngoài Công giáo… Hiểu như thế, nghĩa là ta đang tự giết chết chính đời sống Kitô hữu của bản thân. Hiểu như thế, chính ta sẽ là người tự tay dập tắt ơn cứu độ Chúa ban cho bản thân mình. Hiểu như thế, rất có thể ta sẽ trở thành một kẻ bê tha, độc ác, thủ đoạn, dâm đảng, say sưa, lừa lọc… Vì hiểu như thế chính là biểu hiện của một kẻ chẳng còn đức tin. Nếu không tin Thiên Chúa, không tin một Đấng thiêng liêng ở bên trên mình, có tội ác nào mình không dám phạm!

Cũng một cách hiểu như thế, người Do thái đã bị Chúa phản đối: “Thiên Chúa có thể biến những hòn đá này thành con cái Apraham”.

Đúng! Chúng ta có tên gọi rất cao cả là Kitô hữu. Nhưng người Kitô hữu thì không bao giờ cho phép mình chỉ dừng ở danh xưng mà lại có thể coi mình là Kitô hữu. Vì điều quan trọng, trước hết là đời sống chứ không phải danh xưng. Bởi thế vào đạo chưa phải là tốt nhất. Điều tối cần thiết là giữ mình trong đời sống đạo, chứ không phải vì mình đã được rửa tội. Chỉ có đời sống, chứ không phải danh xưng, mới chứng minh rằng ta là một Kitô hữu.

Đời sống của một Kitô hữu đích thực phải là một đời sống lương thiện, thánh thiện, biết sợ sự dữ, tránh xa dịp tội, tránh xa những gì có nguy cơ lôi kéo mình xa Chúa… họ cũng hãy là người biết đề cao tình yêu, bác ái, vị tha, khoang dung, chung thủy… Sống đời Kitô Kitô hữu còn là sống một tình yêu hiệp thông không ngừng với Thiên Chúa bằng sự cầu nguyện liên lỷ, bằng tuân giữ Lời Chúa, tha thiết và ước ao sống với Chúa ngày một thấm đậm hơn.

Nhưng ta mang thân phận yếu hèn, dễ sa ngã, dễ làm đổ vỡ ơn Chúa, làm cho đời Kitô hữu của mình lu mờ. Thậm chí, nhiều anh em quanh mình đã ngã lòng trông cậy, có khi còn ở lỳ trong tình trạng tội lỗi. Tắt một lời, do cuộc sống lắm khắc nghiệt, hay mải bon chen đời thường và nhiều cám dỗ khác nhau, chúng ta đã làm suy giảm, hoặc đã đánh mất hoàn toàn tình trạng ơn thánh của mình. Bởi thế, ta cần có những khoảnh khắc hồi tâm để nhận ra mình, để đọc lại quá khứ đời mình mà thú nhận những lầm lỡ trước mặt Chúa.

Khoảnh khắc hồi tâm ấy, gọi là tĩnh tâm.

Vậy ngay giờ phút này, anh chị em, các bạn trẻ hãy xua đi mọi ồn ào quanh mình, mọi lo toan đời thường, dù đó là những lo lắng rất thực tế như: cơm - áo - gạo - tiền, để lắng đọng tâm hồn, hướng về Chúa, nguyện xin Chúa Thánh Thần chiếm lấy tâm hồn, nhờ đó mỗi một người tham dự những ngày tĩnh tâm này thêm sốt mến, hiệu quả và tràn ngập ơn tha thứ của Chúa.

Anh chị em hãy tạm quyên đi những nỗi thương buồn, có thể đang vương trong tâm hồn. Anh chị em hãy cố gắng xua đi những nỗi nhọc nhằn, mồ hôi và nước mắt của một ngày sống vất vả, mỏi mệt. Anh chị em cũng hãy tạm gác lại những bộn bề của cuộc sống: nào là tranh chấp, giận hờn, nhà chưa đủ ấm, áo chưa đủ lành… Thay vào đó, anh chị em và các bạn hãy dâng lên Chúa, xin Chúa thánh hóa tất cả. Hãy tạm quyên tất cả ngay trong giây phút này, để lòng mở ngỏ cho Lời và ơn của Chúa thấm đẫm hồn mình. Vì nếu trong một ít thời gian như thế này, ta có lo lắng, muộn phiền, thì cũng chẳng giải quyết được gì. Nhưng nếu ta dâng lên Chúa và biết chắc chắn Người không bỏ rơi ta, tâm hồn mình sẽ bình an hơn. Và nhờ Chúa, những lao nhọc đời thường kia, tưởng chừng trôi tuột, lại sinh ơn cứu độ đời đời không những cho ta mà còn cho anh chị em xung quanh nữa.

Vậy hãy lắng đọng tâm hồn để tĩnh tâm. Và tĩnh tâm để tìm lại ý nghĩa trọn vẹn cho chức vị làm con Thiên Chúa của một tâm hồn vốn đã là Kitô hữu, nhưng lắm khi đã đánh mất hình ảnh của Chúa Kitô nơi lòng mình. Bởi tấm lòng ấy vướng quá nhiều lo lắng ồn ào của đời sống.

II. ƠN GỌI KITÔ HỮU (ngày thứ hai)

Trong lịch sử Giáo Hội, từ ngàn xưa, để